BJT 1334Vào lúc bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã nhìn thấy đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã đi đến gần bậc Tối Thượng Nhân.
BJT 1335Đối với đức Thế Tôn Tissa, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, tôi đã trở nên mừng rỡ. Với tâm mừng rỡ, tôi đã gieo trồng cội Bồ Đề tối thượng.
BJT 1336(Cội Bồ Đề) là giống cây mọc ở trên mặt đất có tên là Asana. Tôi đã chăm sóc cội Bồ Đề tối thượng Asana năm năm.
BJT 1337Sau khi nhìn thấy cội cây đã được trổ hoa là điều kỳ diệu khiến lông rởn ốc. Trong khi tán dương việc làm của mình, tôi đã đi đến gặp đức Phật tối thượng.
BJT 1338Khi ấy, bậc Toàn Giác Tissa, đấng Tự Chủ, nhân vật cao cả ấy, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1339“Người nào đã gieo trồng cội cây Bồ Đề này và đã tôn trọng sự cúng dường đức Phật, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1340Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc ở giữa chư Thiên ba mươi kiếp, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương sáu mươi bốn lần.
BJT 1341Được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, sau khi mệnh chung từ chính cõi trời Đẩu Suất, sau khi thọ hưởng hai sự thành đạt, người ấy sẽ sướng vui ở bản thể nhân loại.
BJT 1342Có tính khẳng quyết về sự nỗ lực, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh, sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 1343Tôi đã gắn bó với sự độc cư, được an tịnh, không còn mầm mống tái sanh. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 1344Kể từ khi tôi đã gieo trồng cội Bồ Đề trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc gieo trồng cội Bồ Đề.
BJT 1345Trước đây bảy mươi bốn kiếp, (tôi đã) được nổi tiếng với tên Daṇḍasena. Khi ấy, tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 1346Trước đây bảy mươi ba kiếp, đã có bảy vị lãnh chúa là các đấng Chuyển Luân Vương tên Samantanemi.
BJT 1347Trước đây hai mươi lăm kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Puṇṇaka, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1348Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Asanabodhiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Asanabodhiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị có cây quạt, vị Sataraṁsī, chiếc giường, vị có nước hương thơm, vị có phương tiện di chuyển, vị có vật phụ thuộc, cây đèn, ngọn cờ, vị cúng dường hoa sen hồng, và cội Bồ Đề là thứ mười. Như thế, (tổng cộng) có chín mươi hai câu kệ đã được nói đến.
Phẩm Vījanī là phẩm thứ sáu.
“Jātiyā sattavassohaṁ,
addasaṁ lokanāyakaṁ;
Pasannacitto sumano,
upagacchiṁ naruttamaṁ.
Tissassāhaṁ bhagavato,
lokajeṭṭhassa tādino;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
ropayiṁ bodhimuttamaṁ.
Asano nāmadheyyena,
dharaṇīruhapādapo;
Pañcavasse paricariṁ,
asanaṁ bodhimuttamaṁ.
Pupphitaṁ pādapaṁ disvā,
abbhutaṁ lomahaṁsanaṁ;
Sakaṁ kammaṁ pakittento,
buddhaseṭṭhaṁ upāgamiṁ.
Tisso tadā so sambuddho,
sayambhū aggapuggalo;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā,
imā gāthā abhāsatha.
‘Yenāyaṁ ropitā bodhi,
buddhapūjā ca sakkatā;
Tamahaṁ kittayissāmi,
suṇātha mama bhāsato.
Tiṁsakappāni devesu,
devarajjaṁ karissati;
Catusaṭṭhi cakkhattuṁ so,
cakkavattī bhavissati.
Tusitā hi cavitvāna,
sukkamūlena codito;
Dve sampattī anubhotvā,
manussatte ramissati.
Padhānapahitatto so,
upasanto nirūpadhi;
Sabbāsave pariññāya,
nibbāyissatināsavo’.
Vivekamanuyuttohaṁ,
upasanto nirūpadhi;
Nāgova bandhanaṁ chetvā,
viharāmi anāsavo.
Dvenavute ito kappe,
bodhiṁ ropesahaṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
bodhiropassidaṁ phalaṁ.
Catusattatito kappe,
daṇḍasenoti vissuto;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī tadā ahuṁ.
Tesattatimhito kappe,
sattāhesuṁ mahīpatī;
Samantanemināmena,
rājāno cakkavattino.
Paṇṇavīsatito kappe,
puṇṇako nāma khattiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā asanabodhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Asanabodhiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Bījanivaggo chaṭṭho.
Tassuddānaṁ
Bījanī sataraṁsī ca,
sayanodakivāhiyo;
Parivāro padīpañca,
dhajo padumapūjako;
Bodhi ca dasamo vutto,
gāthā dvenavuti tathā.
Walt 1334 When I was but seven years old
I saw the Buddha, World-Chief.
Happy, and with a happy heart
I went up to the Best of Men. Verse 1
Walt 1335 Happy, and with a happy heart,
I planted the best Bodhi tree
for him, Tissa, the Blessed One,
the World’s Best One, the Neutral One. Verse 2
Walt 1336 Foot-drinker growing in the earth,
it was known as an “Asana”.
For five years I tended that tree,
the superb Asana Bodhi. Verse 3
Walt 1337 Having seen that flowering tree,
marvel making hair stand on end,
relating my own karma then
I went up to the Best Buddha. Verse 4
Walt 1338 Tissa, who was then Sambuddha,
Self-Become One, the Top Person,
seated in the monks’ Assembly
spoke these verses about me then: Verse 5
Walt 1339 “I shall relate details of him
who has planted this Bodhi Tree
and honored me with Buddha-pūjā;
all of you listen to my words: Verse 6
Walt 1340 For thirty aeons among gods
he will exercise divine rule,
and four and sixty times he’ll be
a king who turns the wheel of law. Verse 7
Walt 1341 Falling from Tusitā heaven,
incited by his wholesome roots,
experiencing the two-fold bliss,
he’ll delight in the human state. Verse 8
Walt 1342 Being one bent on exertion,
calmed, devoid of grounds for rebirth,
knowing well all the defilements
he’ll reach nirvana, undefiled.” Verse 9
Walt 1343 Binding myself to solitude,
calm of mind, with desires blown out,
like a tusker with broken chains,
I’m living without defilements. Verse 10
Walt 1344 In the ninety-two aeons since
I planted that Bodhi back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of planting Bodhis. Verse 11
Walt 1345 Seventy-four aeons ago
I was a wheel-turning monarch.
I was known as Daṇḍasena,
possessor of the seven gems. Verse 12
Walt 1346 Seventy-three aeons ago
there were seven lords on the earth.
They were all wheel-turning monarchs
who were named Samantanemi. Verse 13
Walt 1347 Five and twenty aeons ago
the Kṣatriyan named Puṇṇaka
was a wheel-turner with great strength,
possessor of the seven gems. Verse 14
Walt 1348 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 15
Thus indeed Venerable Asanabodhiya Thera spoke these verses.
The legend of Asanabodhiya Thera is finished.
The Summary:
Vījanī and Sataraṁsī
Sayan, Odaki, Vāhiya,
Parivāra and Padīpa,
Dhaja, Paduma-Pūjaka
and Bodhi’s said to be the tenth;
thus two and ninety verses.
The Vījanī Chapter, the Sixth.