BJT 1588Tôi đã nhìn thấy bậc Ẩn Sĩ Siddhattha tối thượng, vị thọ nhận các vật hiến cúng ở trong khu rừng rậm mênh mông, ít tiếng động, không bị náo loạn.
BJT 1589Ngài là loài Long Tượng có trạng thái Niết Bàn, như là loài bò mộng thuần chủng, tợ như vì sao osadhī đang chiếu sáng, được hội chúng chư Thiên tôn kính. Niềm hạnh phúc của tôi đã được dâng trào, ngay lập tức trí tuệ đã được sanh lên cho tôi .
BJT 1590Sau khi dâng cúng mật ong đến bậc Đạo Sư vừa xuất khỏi thiền định, tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi ra đi, mặt hướng phía đông.
BJT 1591(Trước đây) ba mươi bốn kiếp, tôi đã là đức vua Sudassana, và ở bữa ăn ngay lập tức có mật ong cùng với các củ sen chảy ra, có cơn mưa mật ong đã đổ xuống; điều này là quả báu của nghiệp quá khứ..
BJT 1592Kể từ khi tôi đã cúng dường mật ong trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường mật ong.
BJT 1593Trước đây ba mươi bốn kiếp, bốn vị Sudassana ấy đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1594Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Madhupiṇḍikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Madhupiṇḍika là phần thứ bảy.
“Vipine kānane disvā,
appasadde nirākule;
Siddhatthaṁ isinaṁ seṭṭhaṁ,
āhutīnaṁ paṭiggahaṁ.
Nibbutattaṁ mahānāgaṁ,
nisabhājāniyaṁ yathā;
Osadhiṁva virocantaṁ,
devasaṅghanamassitaṁ.
Vitti mamāhu tāvade,
ñāṇaṁ uppajji tāvade;
Vuṭṭhitassa samādhimhā,
madhuṁ datvāna satthuno.
Vanditvā satthuno pāde,
pakkāmiṁ pācināmukho;
Catuttiṁsamhi kappamhi,
rājā āsiṁ sudassano.
Madhu bhisehi savati,
bhojanamhi ca tāvade;
Madhuvassaṁ pavassittha,
pubbakammassidaṁ phalaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ madhuṁ adadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
madhudānassidaṁ phalaṁ.
Catuttiṁse ito kappe,
cattāro te sudassanā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā madhupiṇḍiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Madhupiṇḍikattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 1588 In a quiet and trouble-free
forest grove, I once having seen
Siddhattha the Sage, the Supreme,
Sacrificial Recipient, Verse 1
Walt 1589Gone-Out-One, the Great Elephant,
Bull of Men, like a thoroughbred,
shining forth like the morning star,
praised by the assembly of gods,
much happiness arose in me;
knowledge came into being then. Verse 2
Walt 1590 Giving honey to the Teacher
who’d risen from meditation,
and worshipping the Teacher’s feet,
I departed facing the east. Verse 3
Walt 1591Then thirty-four aeons ago
I was the king, Sudassana;
sweet honey flowed from lotus roots
whenever I was eating them.
And it rained a rain of honey:
that’s the fruit of former karma. Verse 4
Walt 1592 In the ninety-four aeons since
I gave him that honey back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving honey. Verse 5
Walt 1593 And thirty-four aeons ago
there were four named Sudassana,
wheel-turning kings with great power,
possessors of the seven gems. Verse 6
Walt 1594 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Thus indeed Venerable Madhupiṇḍika Thera spoke these verses.
The legend of Madhupiṇḍika Thera is finished.
BJT 1588Tôi đã nhìn thấy bậc Ẩn Sĩ Siddhattha tối thượng, vị thọ nhận các vật hiến cúng ở trong khu rừng rậm mênh mông, ít tiếng động, không bị náo loạn.
BJT 1589Ngài là loài Long Tượng có trạng thái Niết Bàn, như là loài bò mộng thuần chủng, tợ như vì sao osadhī đang chiếu sáng, được hội chúng chư Thiên tôn kính. Niềm hạnh phúc của tôi đã được dâng trào, ngay lập tức trí tuệ đã được sanh lên cho tôi .
BJT 1590Sau khi dâng cúng mật ong đến bậc Đạo Sư vừa xuất khỏi thiền định, tôi đã đảnh lễ ở bàn chân của bậc Đạo Sư rồi ra đi, mặt hướng phía đông.
BJT 1591(Trước đây) ba mươi bốn kiếp, tôi đã là đức vua Sudassana, và ở bữa ăn ngay lập tức có mật ong cùng với các củ sen chảy ra, có cơn mưa mật ong đã đổ xuống; điều này là quả báu của nghiệp quá khứ..
BJT 1592Kể từ khi tôi đã cúng dường mật ong trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường mật ong.
BJT 1593Trước đây ba mươi bốn kiếp, bốn vị Sudassana ấy đã là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1594Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Madhupiṇḍikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Madhupiṇḍika là phần thứ bảy.
“Vipine kānane disvā,
appasadde nirākule;
Siddhatthaṁ isinaṁ seṭṭhaṁ,
āhutīnaṁ paṭiggahaṁ.
Nibbutattaṁ mahānāgaṁ,
nisabhājāniyaṁ yathā;
Osadhiṁva virocantaṁ,
devasaṅghanamassitaṁ.
Vitti mamāhu tāvade,
ñāṇaṁ uppajji tāvade;
Vuṭṭhitassa samādhimhā,
madhuṁ datvāna satthuno.
Vanditvā satthuno pāde,
pakkāmiṁ pācināmukho;
Catuttiṁsamhi kappamhi,
rājā āsiṁ sudassano.
Madhu bhisehi savati,
bhojanamhi ca tāvade;
Madhuvassaṁ pavassittha,
pubbakammassidaṁ phalaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ madhuṁ adadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
madhudānassidaṁ phalaṁ.
Catuttiṁse ito kappe,
cattāro te sudassanā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā madhupiṇḍiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Madhupiṇḍikattherassāpadānaṁ sattamaṁ.