BJT 15531554. Đối với người đang cúng dường đến đối tượng xứng đáng sự cúng dường như là đức Phật hoặc là vị Thinh Văn đang vượt qua chướng ngại, hoặc đã vượt qua sầu muộn và than vãn, đối với người đang cúng dường đến các vị đã đạt Niết Bàn không còn hãi sợ như thế ấy thì không thể nào ước định được phước báu (của người ấy) là thế này hay thế kia, bằng bất cứ cách thức gì.
BJT 1555Ở đây người nào có thể được làm chúa tể thậm chí của cả bốn châu lục, điều ấy không giá trị bằng một phần mười sáu của một phần nhỏ của sự cúng dường.
BJT 1556Với tâm ý trong sạch, tôi đã dâng cúng vữa vôi ở chỗ khe nứt tại ngôi bảo tháp của bậc Tối Thượng Nhân Siddhattha.
BJT 1557Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây 94 kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tu bổ.
BJT 1558Trước đây ba mươi kiếp, (đã có) mười ba vị tên Paṭisaṅkhāra là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 1559Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sudhāpiṇḍiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sudhāpiṇḍiya là phần thứ nhất.
“Pūjārahe pūjayato,
buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante,
tiṇṇasokapariddave.
Te tādise pūjayato,
nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ,
imettamapi kenaci.
Catunnamapi dīpānaṁ,
issaraṁ yodha kāraye;
Ekissā pūjanāyetaṁ,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Siddhatthassa naraggassa,
cetiye phalitantare;
Sudhāpiṇḍo mayā dinno,
vippasannena cetasā.
Catunnavutito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
paṭisaṅkhārassidaṁ phalaṁ.
Ito tiṁsatikappamhi,
paṭisaṅkhārasavhayā;
Sattaratanasampannā,
terasa cakkavattino.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sudhāpiṇḍiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sudhāpiṇḍiyattherassāpadānaṁ paṭhamaṁ.
Walt 1553-1554No one can count the good karma—
even, “for this, it is that much”—
of one who performs pūjā for
those who are worthy of pūjā,
like Buddhas and their followers,
who have crossed over tears for grief
and moved beyond ties to rebirth,
reaching nirvana, fearing naught. Verse 1-2
Walt 1555 He who would exercise lordship
here over the four continents
would not be worth one sixteenth-part
of one who performs such pūjā. Verse 3
Walt 1556 When Siddhattha the Top Person’s
shrine had become broken open,
I donated balls of plaster
with a mind that was very clear. Verse 4
Walt 1557 In the ninety-four aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of renovation. Verse 5
Walt 1558 In the thirtieth aeon ago
there were thirteen wheel-turning kings,
all known as Paṭisamkhāra,
possessors of the seven gems. Verse 6
Walt 1559 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Thus indeed Venerable Sudhāpiṇḍiya Thera spoke these verses.
The legend of Sudhāpiṇḍiya Thera is finished.
BJT 15531554. Đối với người đang cúng dường đến đối tượng xứng đáng sự cúng dường như là đức Phật hoặc là vị Thinh Văn đang vượt qua chướng ngại, hoặc đã vượt qua sầu muộn và than vãn, đối với người đang cúng dường đến các vị đã đạt Niết Bàn không còn hãi sợ như thế ấy thì không thể nào ước định được phước báu (của người ấy) là thế này hay thế kia, bằng bất cứ cách thức gì.
BJT 1555Ở đây người nào có thể được làm chúa tể thậm chí của cả bốn châu lục, điều ấy không giá trị bằng một phần mười sáu của một phần nhỏ của sự cúng dường.
BJT 1556Với tâm ý trong sạch, tôi đã dâng cúng vữa vôi ở chỗ khe nứt tại ngôi bảo tháp của bậc Tối Thượng Nhân Siddhattha.
BJT 1557Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây 94 kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tu bổ.
BJT 1558Trước đây ba mươi kiếp, (đã có) mười ba vị tên Paṭisaṅkhāra là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật.
BJT 1559Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sudhāpiṇḍiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Sudhāpiṇḍiya là phần thứ nhất.
“Pūjārahe pūjayato,
buddhe yadi va sāvake;
Papañcasamatikkante,
tiṇṇasokapariddave.
Te tādise pūjayato,
nibbute akutobhaye;
Na sakkā puññaṁ saṅkhātuṁ,
imettamapi kenaci.
Catunnamapi dīpānaṁ,
issaraṁ yodha kāraye;
Ekissā pūjanāyetaṁ,
kalaṁ nāgghati soḷasiṁ.
Siddhatthassa naraggassa,
cetiye phalitantare;
Sudhāpiṇḍo mayā dinno,
vippasannena cetasā.
Catunnavutito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
paṭisaṅkhārassidaṁ phalaṁ.
Ito tiṁsatikappamhi,
paṭisaṅkhārasavhayā;
Sattaratanasampannā,
terasa cakkavattino.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sudhāpiṇḍiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sudhāpiṇḍiyattherassāpadānaṁ paṭhamaṁ.