BJT 1547Tôi đã lội vào nước ở hồ sen, trong khi đang ngắt các đóa sen hồng tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác Phussa có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 1548Tôi đã cầm lấy đóa sen hồng và đã ném lên không trung. Sau khi thực hiện việc làm tịnh tín, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1549Sau khi xuất gia, với thân và ý đã được thu thúc, con đã từ bỏ sở hành xấu xa về lời nói và đã làm trong sạch sự nuôi mạng sống.
BJT 1550(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1551Đã có mười tám vị lãnh chúa tên Padumābhāsa và bốn mươi tám (vị lãnh chúa) trong mười tám kiếp.
BJT 1552Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Padumapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Padumapupphiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị có bông hoa timira, và vị có bông hoa naṅgalī, vị nằm chắp tay, bông hoa adha, hai vị có sự suy tưởng về hào quang, vị dâng cúng trái cây, vị có sự suy tưởng về âm thanh, và vị rưới nước (bông hoa), vị có đóa sen hồng; (tổng cộng) có năm mươi sáu câu kệ đã được thuật lại.
Phẩm Timirapupphiya là phẩm thứ chín.
“Pokkharavanaṁ paviṭṭho,
Bhañjanto padumānihaṁ;
Tatthaddasaṁ phussaṁ buddhaṁ,
Bāttiṁsavaralakkhaṇaṁ.
Padumapupphaṁ gahetvāna,
ākāse ukkhipiṁ ahaṁ;
Pāpakammaṁ saritvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Pabbajitvāna kāyena,
manasā saṁvutena ca;
Vacīduccaritaṁ hitvā,
ājīvaṁ parisodhayiṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Padumābhāsanāmā ca,
aṭṭhārasa mahīpatī;
Aṭṭhārasesu kappesu,
aṭṭhatālīsamāsisuṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā padumapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Padumapupphiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Timiravaggo navamo.
Tassuddānaṁ
Timiranaṅgalīpuppha,
nippannañjaliko adho;
Dve raṁsisaññī phalado,
saddasaññī ca secako;
Padmapupphī ca gāthāyo,
chappaññāsa pakittitā.
Walt 1547 I lived in a lotus forest
eating lotus flowers back then.
I saw Phussa, the Sambuddha,
Bearing the Thirty-two Great Marks. Verse 1
Walt 1548 Picking up a lotus flower
I tossed it up into the air.
Having done this pleasing karma
I went forth into homelessness. Verse 2
Walt 1549 Having renounced, with self-control
over my body and my mind,
and refraining from bad speech-acts
I purified my livelihood. Verse 3
Walt 1550 In the ninety-two aeons since
I offered that flower to him,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 4
Walt 1551 There were eighteen lords of the earth
all known as Padumābhāsa,
and in the eighteenth aeon hence
there were forty-eight such monarchs. Verse 5
Walt 1552 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Thus indeed Venerable Padumapupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Padumapupphiya Thera is finished.
The Summary:
Timira, Nangalipupphī,
Nipannañjalika, Adha,
two Raṁsisaññis, Phalada,
Saddasaññī and Sevaka,
Padumapupphī and verses
fifty-six have been detailed here.
The Timirapupphiya Chapter, the Ninth.
BJT 1547Tôi đã lội vào nước ở hồ sen, trong khi đang ngắt các đóa sen hồng tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác Phussa có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 1548Tôi đã cầm lấy đóa sen hồng và đã ném lên không trung. Sau khi thực hiện việc làm tịnh tín, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình.
BJT 1549Sau khi xuất gia, với thân và ý đã được thu thúc, con đã từ bỏ sở hành xấu xa về lời nói và đã làm trong sạch sự nuôi mạng sống.
BJT 1550(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1551Đã có mười tám vị lãnh chúa tên Padumābhāsa và bốn mươi tám (vị lãnh chúa) trong mười tám kiếp.
BJT 1552Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Padumapupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Padumapupphiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị có bông hoa timira, và vị có bông hoa naṅgalī, vị nằm chắp tay, bông hoa adha, hai vị có sự suy tưởng về hào quang, vị dâng cúng trái cây, vị có sự suy tưởng về âm thanh, và vị rưới nước (bông hoa), vị có đóa sen hồng; (tổng cộng) có năm mươi sáu câu kệ đã được thuật lại.
Phẩm Timirapupphiya là phẩm thứ chín.
“Pokkharavanaṁ paviṭṭho,
Bhañjanto padumānihaṁ;
Tatthaddasaṁ phussaṁ buddhaṁ,
Bāttiṁsavaralakkhaṇaṁ.
Padumapupphaṁ gahetvāna,
ākāse ukkhipiṁ ahaṁ;
Pāpakammaṁ saritvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ.
Pabbajitvāna kāyena,
manasā saṁvutena ca;
Vacīduccaritaṁ hitvā,
ājīvaṁ parisodhayiṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Padumābhāsanāmā ca,
aṭṭhārasa mahīpatī;
Aṭṭhārasesu kappesu,
aṭṭhatālīsamāsisuṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā padumapupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Padumapupphiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Timiravaggo navamo.
Tassuddānaṁ
Timiranaṅgalīpuppha,
nippannañjaliko adho;
Dve raṁsisaññī phalado,
saddasaññī ca secako;
Padmapupphī ca gāthāyo,
chappaññāsa pakittitā.