BJT 1535Tôi là vị mặc tấm da dê sần sùi ở núi Hi-mã-lạp. Sau khi nhìn thấy đấng Chiến Thắng cao quý Phussa, có trái cây ở bàn tay tôi đã dâng cúng trái cây.
BJT 1536(Do) việc tôi đã dâng cúng trái cây với tâm ý trong sạch, khi tôi được sanh lên ở cõi hữu thì có trái cây hiện đến cho tôi.
BJT 1537(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng trái cây trước đây 92 kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 1538Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phaladāyaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Phaladāyaka là phần thứ bảy.
“Pabbate himavantamhi,
kharājinadharo ahaṁ;
Phussaṁ jinavaraṁ disvā,
phalahattho phalaṁ adaṁ.
Yamahaṁ phalamadāsiṁ,
vippasannena cetasā;
Bhave nibbattamānamhi,
phalaṁ nibbattate mama.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā phaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Phaladāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 1535 On a Himalayan mountain,
wearing a rough deer-leather robe,
with fruit in hand, I saw Phussa,
Best Victor, and gave him the fruit. Verse 1
Walt 1536 That fruit which I gave to him then
with a mind that was very clear,
came into being as fruit for me
transmigrating in existence. Verse 2
Walt 1537 In the ninety-two aeons since
I gave that fruit to him back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving fruit. Verse 3
Walt 1538 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 4
Thus indeed Venerable Phaladāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Phaladāyaka Thera is finished.
BJT 1535Tôi là vị mặc tấm da dê sần sùi ở núi Hi-mã-lạp. Sau khi nhìn thấy đấng Chiến Thắng cao quý Phussa, có trái cây ở bàn tay tôi đã dâng cúng trái cây.
BJT 1536(Do) việc tôi đã dâng cúng trái cây với tâm ý trong sạch, khi tôi được sanh lên ở cõi hữu thì có trái cây hiện đến cho tôi.
BJT 1537(Kể từ khi) tôi đã dâng cúng trái cây trước đây 92 kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 1538Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phaladāyaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Phaladāyaka là phần thứ bảy.
“Pabbate himavantamhi,
kharājinadharo ahaṁ;
Phussaṁ jinavaraṁ disvā,
phalahattho phalaṁ adaṁ.
Yamahaṁ phalamadāsiṁ,
vippasannena cetasā;
Bhave nibbattamānamhi,
phalaṁ nibbattate mama.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ phalaṁ adadiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā phaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Phaladāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.