BJT 1526Trước đây, tôi đã tạo lập chỗ cư ngụ ở núi Hi-mã-lạp. Có y choàng là tấm da dê, tôi sống ở trong vùng đồi núi.
BJT 1527Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, tợ như mặt trời có trăm tia ánh sáng, tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, đi vào bên trong khu rừng.
BJT 1528Sau khi làm cho tâm được tịnh tín đối với hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, tôi đã chắp tay lên, ngồi chồm hổm, rồi đê đầu đảnh lễ.
BJT 1529Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về hào quang.
BJT 1530Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Raṁsisaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka là phần thứ năm.
“Pabbate himavantamhi,
vāsaṁ kappesahaṁ pure;
Ajinuttaravāsohaṁ,
vasāmi pabbatantare.
Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Sataraṁsiṁva bhāṇumaṁ;
Vanantaragataṁ disvā,
Sālarājaṁva pupphitaṁ.
Raṁsyā cittaṁ pasādetvā,
vipassissa mahesino;
Paggayha añjaliṁ vandiṁ,
sirasā ukkuṭī ahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
raṁsisaññāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā raṁsisaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Raṁsisaññakattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.
Walt 1526 On a Himalayan mountain
I was residing formerly.
Wearing deer-leather outer robes
I dwelt upon that mountain then. Verse 1
Walt 1527 I saw the golden Sambuddha
who had gone into the forest.
He was like the hundred-rayed sun,
like a regal sal tree in bloom. Verse 2
Walt 1528 Having pleased my heart in the rays
of Vipassi, the Sage so Great,
pressing hands together, squatting,
I worshipped him bowing my head. Verse 3
Walt 1529 In the ninety-one aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of perceiving rays. Verse 4
Walt 1530 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Raṁsisaññaka Thera spoke these verses.
The legend of Raṁsisaññaka Thera is finished.
BJT 1526Trước đây, tôi đã tạo lập chỗ cư ngụ ở núi Hi-mã-lạp. Có y choàng là tấm da dê, tôi sống ở trong vùng đồi núi.
BJT 1527Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, tợ như mặt trời có trăm tia ánh sáng, tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa, đi vào bên trong khu rừng.
BJT 1528Sau khi làm cho tâm được tịnh tín đối với hào quang của bậc Đại Ẩn Sĩ Vipassī, tôi đã chắp tay lên, ngồi chồm hổm, rồi đê đầu đảnh lễ.
BJT 1529Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về hào quang.
BJT 1530Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Raṁsisaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka là phần thứ năm.
“Pabbate himavantamhi,
vāsaṁ kappesahaṁ pure;
Ajinuttaravāsohaṁ,
vasāmi pabbatantare.
Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Sataraṁsiṁva bhāṇumaṁ;
Vanantaragataṁ disvā,
Sālarājaṁva pupphitaṁ.
Raṁsyā cittaṁ pasādetvā,
vipassissa mahesino;
Paggayha añjaliṁ vandiṁ,
sirasā ukkuṭī ahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
raṁsisaññāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā raṁsisaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Raṁsisaññakattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.