BJT 1531Tôi là vị mặc y phục bằng vỏ cây ở núi Hi-mã-lạp. Và sau khi bước lên đường kinh hành tôi đã ngồi xuống, mặt hướng phía đông.
BJT 1532Tôi đã nhìn thấy đấng Thiện Thệ Phussa ở ngọn núi, khi ấy Ngài đang thỏa thích ở trong thiền. Tôi đã chắp tay lên và đã làm cho tâm được tịnh tín ở ánh hào quang.
BJT 1533Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về hào quang.
BJT 1534Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Raṁsisaññaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka là phần thứ sáu.
“Pabbate himavantamhi,
vākacīradharo ahaṁ;
Caṅkamañca samārūḷho,
nisīdiṁ pācināmukho.
Pabbate sugataṁ disvā,
phussaṁ jhānarataṁ tadā;
Añjaliṁ paggahetvāna,
raṁsyā cittaṁ pasādayiṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
raṁsisaññāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā raṁsisaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Dutiyaraṁsisaññakattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.
Walt 1531 On a Himalayan mountain
I was a bark-clothed ascetic.
Having ascended the walkway
I was seated facing the east. Verse 1
Walt 1532 Then having seen the Well-Gone-One,
Phussa, Lover of Altered States,
on the mountain, I pressed my hands
and pleased my heart in Buddha’s rays. Verse 2
Walt 1533 In the ninety-two aeons since
I obtained that perception there,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of perceiving rays. Verse 3
Walt 1534 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 4
Thus indeed Venerable Raṁsisaññaka Thera spoke these verses.
The legend of Raṁsisaññaka Thera is finished.
BJT 1531Tôi là vị mặc y phục bằng vỏ cây ở núi Hi-mã-lạp. Và sau khi bước lên đường kinh hành tôi đã ngồi xuống, mặt hướng phía đông.
BJT 1532Tôi đã nhìn thấy đấng Thiện Thệ Phussa ở ngọn núi, khi ấy Ngài đang thỏa thích ở trong thiền. Tôi đã chắp tay lên và đã làm cho tâm được tịnh tín ở ánh hào quang.
BJT 1533Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi hai kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về hào quang.
BJT 1534Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Raṁsisaññaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Raṁsisaññaka là phần thứ sáu.
“Pabbate himavantamhi,
vākacīradharo ahaṁ;
Caṅkamañca samārūḷho,
nisīdiṁ pācināmukho.
Pabbate sugataṁ disvā,
phussaṁ jhānarataṁ tadā;
Añjaliṁ paggahetvāna,
raṁsyā cittaṁ pasādayiṁ.
Dvenavute ito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
raṁsisaññāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā raṁsisaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Dutiyaraṁsisaññakattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.