BJT 1518Vị tỳ khưu tên Abhibhū ấy có đại thần lực, có tam minh, là vị Thinh Văn hàng đầu của (đức Thế Tôn) Sikhī. Vị ấy đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 1519Tôi cũng là vị ẩn sĩ sống ở khu ẩn cư xinh xắn tại núi Hi-mã-lạp, khi ấy tôi có năng lực trong các pháp vô lượng (tâm) và các thần thông.
BJT 1520Tợ như loài có cánh ở trên bầu trời, tôi đã định cư ở ngọn núi. Sau khi cầm lấy bông hoa adha, tôi đã đi đến ngọn núi.
BJT 1521Sau khi cầm lấy bảy bông hoa, tôi đã rải rắc ở trên đỉnh đầu. Và khi được vị anh hùng nhìn thấy, tôi đã ra đi mặt hướng phía đông.
BJT 1522Sau khi trở về khu ẩn cư, tôi đã đi đến chỗ trú ngụ. Tôi đã cầm lấy túi vật dụng và đã đi vào trong vùng đồi núi.
BJT 1523Con trăn có bộ dạng ghê rợn có sức mạnh khủng khiếp đã hành hạ tôi. Tôi đã nhớ lại việc làm trước đây và đã mệnh chung tại nơi ấy.
BJT 1524(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.
BJT 1525Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Adhopupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Abhibhū nāma so bhikkhu,
sikhino aggasāvako;
Mahānubhāvo tevijjo,
himavantaṁ upāgami.
Ahampi himavantamhi,
ramaṇīyassame isi;
Vasāmi appamaññāsu,
iddhīsu ca tadā vasī.
Pakkhijāto viyākāse,
pabbataṁ adhivatthayiṁ;
Adhopupphaṁ gahetvāna,
āgacchiṁ pabbataṁ ahaṁ.
Satta pupphāni gaṇhitvā,
matthake okiriṁ ahaṁ;
Ālokite ca vīrena,
pakkāmiṁ pācināmukho.
Āvāsaṁ abhisambhosiṁ,
patvāna assamaṁ ahaṁ;
Khāribhāraṁ gahetvāna,
pāyāsiṁ pabbatantaraṁ.
Ajagaro maṁ pīḷesi,
ghorarūpo mahabbalo;
Pubbakammaṁ saritvāna,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pupphapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā adhopupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Adhopupphiyattherassāpadānaṁ catutthaṁ.
Walt 1518 The chief follower of Sikhi
was the monk known as Abhibhū,
with vast powers, a three-fold knower,
he went to the Himalayas. Verse 1
Walt 1519 Back then I too was living in
the Himalayas, as a sage,
master of boundless magic power,
in a delightful ashram there. Verse 2
Walt 1520 Flying like a bird in the sky,
I felt drawn to a mountain-side.
Picking some flowers down below
I then came up to the mountain. Verse 3
Walt 1521 Taking seven flowers I placed them
on the top of Abhibhū’s head.
When the hero then looked forward
I departed facing the east. Verse 4
Walt 1522 Having arrived at my ashram
I went up to my dwelling there.
Taking ascetics’ provisions
I returned to that mountain-side. Verse 5
Walt 1523 A python with a frightful form,
and very strong, attacked me then.
Remembering my former deed
I passed away right on the spot. Verse 6
Walt 1524 In the thirty-one aeons since
I offered those flowers to him,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of flower-pūjā. Verse 7
Walt 1525 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Adhopupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Adhopupphiya Thera is finished.
BJT 1518Vị tỳ khưu tên Abhibhū ấy có đại thần lực, có tam minh, là vị Thinh Văn hàng đầu của (đức Thế Tôn) Sikhī. Vị ấy đã đi đến núi Hi-mã-lạp.
BJT 1519Tôi cũng là vị ẩn sĩ sống ở khu ẩn cư xinh xắn tại núi Hi-mã-lạp, khi ấy tôi có năng lực trong các pháp vô lượng (tâm) và các thần thông.
BJT 1520Tợ như loài có cánh ở trên bầu trời, tôi đã định cư ở ngọn núi. Sau khi cầm lấy bông hoa adha, tôi đã đi đến ngọn núi.
BJT 1521Sau khi cầm lấy bảy bông hoa, tôi đã rải rắc ở trên đỉnh đầu. Và khi được vị anh hùng nhìn thấy, tôi đã ra đi mặt hướng phía đông.
BJT 1522Sau khi trở về khu ẩn cư, tôi đã đi đến chỗ trú ngụ. Tôi đã cầm lấy túi vật dụng và đã đi vào trong vùng đồi núi.
BJT 1523Con trăn có bộ dạng ghê rợn có sức mạnh khủng khiếp đã hành hạ tôi. Tôi đã nhớ lại việc làm trước đây và đã mệnh chung tại nơi ấy.
BJT 1524(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường bông hoa.
BJT 1525Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Adhopupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Abhibhū nāma so bhikkhu,
sikhino aggasāvako;
Mahānubhāvo tevijjo,
himavantaṁ upāgami.
Ahampi himavantamhi,
ramaṇīyassame isi;
Vasāmi appamaññāsu,
iddhīsu ca tadā vasī.
Pakkhijāto viyākāse,
pabbataṁ adhivatthayiṁ;
Adhopupphaṁ gahetvāna,
āgacchiṁ pabbataṁ ahaṁ.
Satta pupphāni gaṇhitvā,
matthake okiriṁ ahaṁ;
Ālokite ca vīrena,
pakkāmiṁ pācināmukho.
Āvāsaṁ abhisambhosiṁ,
patvāna assamaṁ ahaṁ;
Khāribhāraṁ gahetvāna,
pāyāsiṁ pabbatantaraṁ.
Ajagaro maṁ pīḷesi,
ghorarūpo mahabbalo;
Pubbakammaṁ saritvāna,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pupphapūjāyidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā adhopupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Adhopupphiyattherassāpadānaṁ catutthaṁ.