BJT 131Ở thành phố Bandhumatī, có vị Sát-đế-lỵ tên là Bandhumā. Vào ngày trăng tròn, vị ấy thực hành Bát quan trai giới.
BJT 132Vào lúc bấy giờ, tôi đã là cô nô tỳ đội nước ở tại nơi ấy. Sau khi nhìn thấy đoàn quân cùng với đức vua, khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy:
BJT 133“Ngay cả đức vua cũng đã buông bỏ vương quyền và thực hành Bát quan trai giới, chắc hẳn việc làm ấy là có quả báu khiến đám đông người hứng thú.”
BJT 134Sau khi suy xét chính chắn về cảnh giới khổ đau và sự nghèo khó, tôi đã tự làm cho tâm được hoan hỷ và đã thực hành Bát quan trai giới.
BJT 135Tôi đã thực hành Bát quan trai giới theo lời dạy của đấng Chánh Đẳng Giác. Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 136Tại nơi ấy, có cung điện đã được kiến tạo khéo léo dành cho tôi, phía bên trên vươn cao một do-tuần, được kề cận với ngôi nhà mái nhọn quý giá, được trang hoàng với các chỗ nằm ngồi.
BJT 137Một trăm ngàn tiên nữ luôn luôn kề cận tôi. Tôi luôn luôn vượt trội và rực rỡ hơn các vị Thiên nhân khác.
BJT 138Tôi đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của sáu mươi bốn vị Thiên Vương. Tôi đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của sáu mươi ba đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 139Có được màu da vàng chói, tôi luân hồi ở các cảnh giới. Tôi là người cao quý ở tất cả các nơi; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.
BJT 140Về phương tiện di chuyển bằng voi, phương tiện di chuyển bằng ngựa, phương tiện di chuyển bằng xe, và kiệu khiêng, tôi cũng đều đạt được tất cả (các) điều ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.
BJT 141Khi ấy, ngay cả vật làm bằng vàng, làm bằng bạc, làm bằng ngọc pha-lê, luôn cả vật làm bằng hồng ngọc, tôi đều đạt được tất cả.
BJT 142Các tấm mền làm bằng tơ lụa, bằng sợi len và bông vải, cùng với các tấm vải có giá trị cao, tôi đều đạt được tất cả.
BJT 143Thức ăn, nước uống, vật để nhai, vải vóc, và các chỗ nằm ngồi, tôi đều đạt được tất cả (các) thứ ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.
BJT 144Hương thơm cao quý, tràng hoa, bột phấn thơm, dầu thoa, tôi đều đạt được tất cả (các) thứ ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.
BJT 145Ngôi nhà mái nhọn, tòa lâu đài, mái che, tòa nhà dài, hang động, tôi đều đạt được tất cả (các) thứ ấy; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.
BJT 146Bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chưa đầy nửa tháng, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 147Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 148Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của Bát quan trai giới.
BJT 149Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 150Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Ekuposathikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Ekuposathikā là phần thứ nhất.
“Nagare bandhumatiyā,
bandhumā nāma khattiyo;
Divase puṇṇamāya so,
upavasi uposathaṁ.
Ahaṁ tena samayena,
kumbhadāsī ahaṁ tahiṁ;
Disvā sarājakaṁ senaṁ,
evāhaṁ cintayiṁ tadā.
‘Rājāpi rajjaṁ chaḍḍetvā,
upavasi uposathaṁ;
Saphalaṁ nūna taṁ kammaṁ,
janakāyo pamodito’.
Yoniso paccavekkhitvā,
duggaccañca daliddataṁ;
Mānasaṁ sampahaṁsitvā,
upavasiṁ uposathaṁ.
Ahaṁ uposathaṁ katvā,
sammāsambuddhasāsane;
Tena kammena sukatena,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tattha me sukataṁ byamhaṁ,
ubbhayojanamuggataṁ;
Kūṭāgāravarūpetaṁ,
mahāsanasubhūsitaṁ.
Accharā satasahassā,
upatiṭṭhanti maṁ sadā;
Aññe deve atikkamma,
atirocāmi sabbadā.
Catusaṭṭhi devarājūnaṁ,
mahesittamakārayiṁ;
Tesaṭṭhi cakkavattīnaṁ,
mahesittamakārayiṁ.
Suvaṇṇavaṇṇā hutvāna,
bhavesu saṁsarāmahaṁ;
Sabbattha pavarā homi,
uposathassidaṁ phalaṁ.
Hatthiyānaṁ assayānaṁ,
rathayānañca sīvikaṁ;
Labhāmi sabbamevetaṁ,
uposathassidaṁ phalaṁ.
Soṇṇamayaṁ rūpimayaṁ,
athopi phalikāmayaṁ;
Lohitaṅgamayañceva,
sabbaṁ paṭilabhāmahaṁ.
Koseyyakambaliyāni,
khomakappāsikāni ca;
Mahagghāni ca vatthāni,
sabbaṁ paṭilabhāmahaṁ.
Annaṁ pānaṁ khādanīyaṁ,
vatthasenāsanāni ca;
Sabbametaṁ paṭilabhe,
uposathassidaṁ phalaṁ.
Varagandhañca mālañca,
cuṇṇakañca vilepanaṁ;
Sabbametaṁ paṭilabhe,
uposathassidaṁ phalaṁ.
Kūṭāgārañca pāsādaṁ,
maṇḍapaṁ hammiyaṁ guhaṁ;
Sabbametaṁ paṭilabhe,
uposathassidaṁ phalaṁ.
Jātiyā sattavassāhaṁ,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Aḍḍhamāse asampatte,
arahattamapāpuṇiṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā,
natthi dāni punabbhavo.
Ekanavutito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
uposathassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ ekūposathikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ekūposathikātheriyāpadānaṁ paṭhamaṁ.
Walt 131 In the city, Bandhumatī,
there was a king named Bandhuma.
On the day of the full moon, he
took on Full-Moon-Day observance. Verse 1
Walt 132 At that time I also lived there;
I was a water-jug slave-girl.
Seeing the army, with the king,
I reflected in this way then: Verse 2
Walt 133 The king himself, breaking his reign,
took on Full-Moon-Day observance.
Surely that karma’s bearing fruit:
the populace is delighted. Verse 3
Walt 134 Having considered thoroughly
my bad rebirth and poverty,
after gladdening my mind, I
took on Full-Moon-Day observance. Verse 4
Walt 135 Having observed the Full Moon Day
in the Buddha’s dispensation,
Due to that karma done very well,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 5
Walt 136 There my well-made divine mansion
welled up an entire league in height,
appointed with fine gabled cells,
decorated with large couches. Verse 6
Walt 137 A whole lakh of celestial nymphs
are always looking after me.
Having surpassed the other gods,
I outshine them all of the time. Verse 7
Walt 138 I was fixed in the chief queen’s place
of sixty-four kings of the gods.
I was fixed in the chief queen’s place
of sixty-three wheel-turning kings. Verse 8
Walt 139 Having a golden complexion,
I transmigrated through lifetimes.
Everywhere I am distinguished:
fruit of Full-Moon-Day observance. Verse 9
Walt 140 Elephant and horse carriages,
and complete chariot riggings;
I obtain every one of those:
fruit of Full-Moon-Day observance. Verse 10
Walt 141 Things made of gold, things of silver,
also things made out of crystal,
and likewise made of ruby too;
I obtain all of those fine things. Verse 11
Walt 142 Silken garments and woolen ones,
clothes made of khoma and cotton,
and other very costly clothes;
I obtain all of those fine things. Verse 12
Walt 143 Food and drinks and solid foodstuffs,
and likewise clothing, beds and chairs;
I would obtain all those items:
fruit of Full-Moon-Day observance. Verse 13
Walt 144 Superb scents as well as garlands,
facial powders and ointments too;
I would obtain all that make-up:
fruit of Full-Moon-Day observance. Verse 14
Walt 145 Gabled cell-adorned palaces,
pavilions, storied mansions, caves;
I would obtain all those dwellings:
fruit of Full-Moon-Day observance. Verse 15
Walt 146 When I was but seven years old,
I went forth into homelessness.
When the eighth month thence had arrived,
I attained my arahantship. Verse 16
Walt 147 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
All my defilements are destroyed;
now there will be no more rebirth. Verse 17
Walt 148 In the ninety-one aeons since
I did that good karma back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
fruit of Full-Moon-Day observance. Verse 18
Walt 149 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 19
Walt 150 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 20
Thus indeed Bhikkhunī Ekūposathikā spoke these verses.
The legend of Ekūposathikā Therī is finished.