BJT 151Khi ấy, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu cái ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đấng Nhân Ngưu, vị Trời của chư Thiên, đang đi kinh hành.
BJT 152Sau khi hái xuống bông hoa salala, tôi đã dâng lên đức Phật tối thượng (nói rằng): “Bạch đấng Đại Hùng thỉnh ngài ngửi bông hoa salala có hương thơm của cõi trời.”
BJT 153Sau khi thọ nhận, đấng Toàn Giác Vipassī, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng đã ngửi (bông hoa ấy), trong khi ấy tôi đang chăm chú nhìn.
BJT 154Tôi đã chắp tay lên và đã đảnh lễ đấng Tối Thượng Nhân. Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, từ nơi ấy tôi đã đi lên ngọn núi.
BJT 155Kể từ khi tôi đã dâng cúng bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 156Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 157Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 158Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Salalapupphikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Salalapupphikā là phần thứ nhì.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnarī tadā;
Addasāhaṁ devadevaṁ,
caṅkamantaṁ narāsabhaṁ.
Ocinitvāna saḷalaṁ,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Upasiṅghi mahāvīro,
saḷalaṁ devagandhikaṁ.
Paṭiggahetvā sambuddho,
vipassī lokanāyako;
Upasiṅghi mahāvīro,
pekkhamānāya me tadā.
Añjaliṁ paggahetvāna,
vanditvā dvipaduttamaṁ;
Sakaṁ cittaṁ pasādetvā,
tato pabbatamāruhiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ saḷalapupphikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saḷalapupphikātheriyāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 151 On Candabhāgā River’s bank,
I was a kinnarī back then.
And then I saw the God of Gods,
Bull of Men, walking back and forth. Verse 1
Walt 152 Plucking a salala flower,
I gave it to the Best Buddha.
And then the Great Hero did sniff
the salala with divine scent. Verse 2
Walt 153 Accepting it the Sambuddha,
Vipassi, Leader of the World,
Great Hero then sniffed it again
for me while I was watching him. Verse 3
Walt 154 Pressing my hands together then,
I worshipped the Best of Bipeds.
Bringing pleasure to my own heart,
I then ascended the mountain. Verse 4
Walt 155 In the ninety-one aeons since
I gave him that flower back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 5
Walt 156 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 6
Walt 157 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Walt 158 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Bhikkhunī Salalapupphikā spoke these verses.
The legend of Salalapupphikā Therī is finished.
BJT 151Khi ấy, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu cái ở bờ sông Candabhāgā. Tôi đã nhìn thấy đấng Nhân Ngưu, vị Trời của chư Thiên, đang đi kinh hành.
BJT 152Sau khi hái xuống bông hoa salala, tôi đã dâng lên đức Phật tối thượng (nói rằng): “Bạch đấng Đại Hùng thỉnh ngài ngửi bông hoa salala có hương thơm của cõi trời.”
BJT 153Sau khi thọ nhận, đấng Toàn Giác Vipassī, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, đấng Đại Hùng đã ngửi (bông hoa ấy), trong khi ấy tôi đang chăm chú nhìn.
BJT 154Tôi đã chắp tay lên và đã đảnh lễ đấng Tối Thượng Nhân. Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, từ nơi ấy tôi đã đi lên ngọn núi.
BJT 155Kể từ khi tôi đã dâng cúng bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 156Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 157Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 158Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Salalapupphikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Salalapupphikā là phần thứ nhì.
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnarī tadā;
Addasāhaṁ devadevaṁ,
caṅkamantaṁ narāsabhaṁ.
Ocinitvāna saḷalaṁ,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ;
Upasiṅghi mahāvīro,
saḷalaṁ devagandhikaṁ.
Paṭiggahetvā sambuddho,
vipassī lokanāyako;
Upasiṅghi mahāvīro,
pekkhamānāya me tadā.
Añjaliṁ paggahetvāna,
vanditvā dvipaduttamaṁ;
Sakaṁ cittaṁ pasādetvā,
tato pabbatamāruhiṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ saḷalapupphikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Saḷalapupphikātheriyāpadānaṁ dutiyaṁ.