BJT 190Khi ấy, tôi đã là nữ du sĩ ở thành phố Haṁsavatī. Có sự tầm cầu thiện pháp, tôi (đã) đi từ tu viện này đến tu viện khác.
BJT 191Vào một ngày thuộc hạ huyền, tôi đã nhìn thấy cội cây Bồ Đề tối thượng. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đã ngồi xuống ở gốc cây Bồ Đề.
BJT 192Sau khi thiết lập tâm cung kỉnh, tôi đã chắp tay lên ở đầu và bày tỏ lòng hoan hỷ. Ngay khi ấy tôi đã suy nghĩ như vầy:
BJT 193“Nếu đức Phật có đức hạnh vô lượng, không người sánh bằng, xin cội Bồ Đề này hãy thị hiện thần thông,hãy chói sáng cho tôi thấy.”
BJT 194Cùng với điều suy nghĩ của tôi, ngay khi ấy cội Bồ Đề đã phát sáng, đã biến thành vàng toàn bộ, và đã chiếu sáng tất cả các phương.
BJT 195Tôi đã ngồi xuống tại nơi ấy, ở gốc cây Bồ Đề bảy ngày đêm. Khi đạt đến ngày thứ bảy, tôi đã thực hiện việc cúng dường các ngọn đèn.
BJT 196Sau khi được đặt quanh chỗ ngồi, năm ngọn đèn đã phát sáng. Khi ấy, các ngọn đèn của tôi đã phát sáng cho đến khi mặt trời mọc lên.
BJT 197Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 198Tại nơi ấy, cung điện đã được kiến tạo khéo léo dành cho tôi được gọi là “Ngũ Đăng,” có chiều cao sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
BJT 199Xung quanh tôi có vô số ngọn đèn chiếu sáng. Cho đến cung điện của chư Thiên cũng sáng rực bởi ánh sáng của các ngọn đèn.
BJT 200Sau khi ngồi xuống mặt quay về hướng khác, nếu tôi muốn nhìn thấy ở bên trên, bên dưới, và chiều ngang, tôi đều nhìn thấy tất cả bằng mắt.
BJT 201Ngay cả khi tôi mong muốn nhìn thấy những việc tốt đẹp hoặc xấu xa thì không có gì che đậy được việc ấy, dầu ở các cây cối hoặc ở các núi non.
BJT 202Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của tám mươi vị Thiên Vương. Tôi đã được thiết lập vào ngôi chánh hậu của một trăm đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 203Mỗi khi tôi nhập thai bào dầu là cảnh giới chư Thiên hoặc loài người, có một trăm ngàn ngọn đèn chiếu sáng ở xung quanh tôi.
BJT 204Sau khi mệnh chung từ thế giới chư Thiên, tôi đã tái sanh vào bụng mẹ. Trong khi đi vào bụng mẹ và trụ lại, mắt của tôi không nhắm lại.
BJT 205Một trăm ngàn ngọn đèn là kết quả của nghiệp phước thiện, chúng chiếu sáng ở nhà bảo sanh; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 206Khi đạt đến cuộc sống cuối cùng, tôi đã gìn giữ tâm ý. Tôi đã chạm đến Niết Bàn là trạng thái mát mẻ, không già, không chết.
BJT 207Bảy tuổi tính từ khi sanh, tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán. Sau khi biết được đức hạnh (của tôi), đức Phật Gotama đã cho tôi tu lên bậc trên.
BJT 208Trong lúc sinh sống ở mái che, ở gốc cây, hoặc ở ngôi nhà trống vắng, luôn luôn có ngọn đèn chiếu sáng; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 209Thiên nhãn của tôi được thanh tịnh, tôi được thiện xảo về định, được thành tựu các thắng trí và các pháp toàn hảo; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 210“Bạch đấng Đại Hùng, bậc Hữu Nhãn, con là Pañcadīpā có toàn bộ nguồn nhiên liệu đã cạn, có các phận sự đã được làm xong, không còn các lậu hoặc, con xin đảnh lễ ở bàn chân (Ngài).”
BJT 211Kể từ khi tôi đã dâng cúng ngọn đèn trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của năm ngọn đèn.
BJT 212Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 213Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 214Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được tôi đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Vị tỳ khưu ni Pañcadīpadāyikā đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Pañcadīpadāyikā là phần thứ năm.
“Nagare haṁsavatiyā,
cārikī āsahaṁ tadā;
Ārāmena ca ārāmaṁ,
carāmi kusalatthikā.
Kāḷapakkhamhi divase,
addasaṁ bodhimuttamaṁ;
Tattha cittaṁ pasādetvā,
bodhimūle nisīdahaṁ.
Garucittaṁ upaṭṭhetvā,
sire katvāna añjaliṁ;
Somanassaṁ pavedetvā,
evaṁ cintesi tāvade.
‘Yadi buddho amitaguṇo,
asamappaṭipuggalo;
Dassetu pāṭihīraṁ me,
bodhi obhāsatu ayaṁ’.
Saha āvajjite mayhaṁ,
bodhi pajjali tāvade;
Sabbasoṇṇamayā āsi,
disā sabbā virocati.
Sattarattindivaṁ tattha,
bodhimūle nisīdahaṁ;
Sattame divase patte,
dīpapūjaṁ akāsahaṁ.
Āsanaṁ parivāretvā,
pañca dīpāni pajjaluṁ;
Yāva udeti sūriyo,
dīpā me pajjaluṁ tadā.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tattha me sukataṁ byamhaṁ,
pañcadīpāti vuccati;
Saṭṭhiyojanamubbedhaṁ,
tiṁsayojanavitthataṁ.
Asaṅkhiyāni dīpāni,
parivāre jaliṁsu me;
Yāvatā devabhavanaṁ,
dīpālokena jotati.
Parammukhā nisīditvā,
yadi icchāmi passituṁ;
Uddhaṁ adho ca tiriyaṁ,
sabbaṁ passāmi cakkhunā.
Yāvatā abhikaṅkhāmi,
daṭṭhuṁ sugataduggate;
Tattha āvaraṇaṁ natthi,
rukkhesu pabbatesu vā.
Asīti devarājūnaṁ,
mahesittamakārayiṁ;
Satānaṁ cakkavattīnaṁ,
mahesittamakārayiṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Dīpasatasahassāni,
parivāre jalanti me.
Devalokā cavitvāna,
uppajjiṁ mātukucchiyaṁ;
Mātukucchigatā santī,
akkhi me na nimīlati.
Dīpasatasahassāni,
puññakammasamaṅgitā;
Jalanti sūtikāgehe,
pañcadīpānidaṁ phalaṁ.
Pacchime bhave sampatte,
mānasaṁ vinivattayiṁ;
Ajarāmataṁ sītibhāvaṁ,
nibbānaṁ phassayiṁ ahaṁ.
Jātiyā sattavassāhaṁ,
arahattamapāpuṇiṁ;
Upasampādayī buddho,
guṇamaññāya gotamo.
Maṇḍape rukkhamūle vā,
suññāgāre vasantiyā;
Sadā pajjalate dīpaṁ,
pañcadīpānidaṁ phalaṁ.
Dibbacakkhuvisuddhaṁ me,
samādhikusalā ahaṁ;
Abhiññāpāramippattā,
pañcadīpānidaṁ phalaṁ.
Sabbavositavosānā,
katakiccā anāsavā;
Pañcadīpā mahāvīra,
pāde vandāmi cakkhuma.
Satasahassito kappe,
yaṁ dīpamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
pañcadīpānidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ pañcadīpadāyikā bhikkhunī imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pañcadīpadāyikātheriyāpadānaṁ pañcamaṁ.
Walt 190 In the city, Haṁsavatī,
I was a wanderer back then.
From ashram to monastery,
I wandered desiring the good. Verse 1
Walt 191 One day when the moon was waning,
I saw the supreme Bodhi Tree.
Bringing pleasure to my heart there,
I sat down at that Bodhi’s roots. Verse 2
Walt 192 Standing, with a heart of reverence,
hands pressed together on my head,
knowing mental happiness there,
I then reflected in this way: Verse 3
Walt 193 “If he has limitless virtue,
is unique, without a rival,
let Buddha show me a marvel;
let him make this Bodhi Tree shine.” Verse 4
Walt 194 When I made that aspiration,
the Bodhi Tree did then blaze up.
It shined forth in all directions,
displaying every good color. Verse 5
Walt 195 Seven nights and days I sat there,
at the roots of that Bodhi Tree,
and when the seventh day arrived,
I made an offering of lamps. Verse 6
Walt 196 Setting them around my seat there,
I proceeded to light five lamps.
And then my lamps all remained lit,
until the sun did rise again. Verse 7
Walt 197 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 8
Walt 198 There my well-made divine mansion
was known as “Pañcadīpī” then.
It was full sixty leagues in height,
and thirty leagues in width back then. Verse 9
Walt 199 Uncountable numbers of lamps
are burning in my surroundings.
The divine world is then lit up
with lamp-light, up to its edges. Verse 10
Walt 200 If when standing looking eastward,
I should desire to see something,
above, below, also across,
I see everything with my eyes. Verse 11
Walt 201 As far as I should wish to see,
things well done and things not well done,
there’s no obstruction to my sight
in the trees and the mountains there. Verse 12
Walt 202 I was fixed in the chief queen’s place
of eighty kings among the gods.
I was fixed in the chief queen’s place
of one hundred wheel-turning kings. Verse 13
Walt 203 In whichever womb I’m reborn,
whether it’s human or divine,
in my surroundings, a whole lakh
of lamps are burning there for me. Verse 14
Walt 204 Fallen from the world of the gods,
I was born in a mother’s womb.
While I was in that mother’s womb
my eyes were open all the time. Verse 15
Walt 205 Due to my having good karma,
an entire hundred thousand lamps
are lit in the lying-in room:
that’s the fruit of giving five lamps. Verse 16
Walt 206 When my final rebirth occurred,
I turned my mind away from lust.
I attained the unaging and
undying cool state, nirvana. Verse 17
Walt 207 When I was but seven years old,
I attained my arahantship.
The Buddha ordained me right then:
that’s the fruit of giving five lamps. Verse 18
Walt 208 Meditating on a platform,
beneath a tree, empty spots,
a lamp is always burning there:
that’s the fruit of giving five lamps. Verse 19
Walt 209 My “divine eye” is purified;
I am skilled in concentration.
I excel in special knowledges:
that’s the fruit of giving five lamps. Verse 20
Walt 210 Every achievement is achieved;
my duty’s done, I’m undefiled.
Five Lamps is now worshipping your
feet, Great Hero, o Eyeful One. Verse 21
Walt 211 In the hundred thousand aeons
since I gave him those lamps back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving five lamps. Verse 22
Walt 212 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 23
Walt 213 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 24
Walt 214 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 25
Thus indeed Bhikkhunī Pañcadīpikā spoke these verses.
The legend of Pañcadīpikā Therī is finished.