Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1Các hạnh nào được thực hành trong khoảng thời gian này, (tức là) bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, tất cả các hạnh ấy là điều kiện làm cho chín muồi quả vị giác ngộ.
BJT 2Trừ ra các hạnh đã được thực hành trong kiếp quá khứ thuộc đời này hoặc đời khác, ta sẽ nói đến hạnh đã được thực hiện trong kiếp này, ngươi hãy lắng nghe.
BJT 3Lúc bấy giờ, ta là vị đạo sĩ khổ hạnh tên Akitti. Ta đã đi sâu vào và cư ngụ ở khu rừng rậm, hoang vắng, là lâm viên có nhiều cây.
BJT 4Khi ấy, Chúa của chư thiên Sakka bị nóng bức bởi năng lực khổ hạnh của ta nên đã đi đến gần ta để xin vật thực trong dáng vóc vị Bà-la-môn.
BJT 5Nhìn thấy (vị ấy) đứng ở cánh cửa (căn chòi lá) của ta, ta đã bày ra chỉ có một tô lá cây đã được gió gom lại, không có dầu và cũng không có muối.
BJT 6Sau khi bố thí lá cây đến vị này, ta đã lập úp cái tô lại, từ bỏ việc tìm kiếm (thức ăn) một lần nữa, và đã đi vào căn chòi lá.
BJT 7Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, vị ấy cũng đã đi đến gặp ta. Không dao động, không dính mắc, ta đã bố thí như hai lần trước.
BJT 8(Nhưng) không vì nguyên nhân ấy mà thân thể của ta trở nên tiều tụy; ta đã trải qua ngày hôm ấy với niềm phỉ lạc và hứng thú.
BJT 9Nếu như ta có được một vị xứng đáng để cúng dường thì ta có thể dâng cúng vật thí tối thượng luôn cả một tháng, hai tháng, mà không dao động, không lưỡng lự.
BJT 10Trong khi bố thí phẩm vật cho vị ấy, ta đã không mong cầu danh và lợi. Ta đã thực hiện những hành động ấy trong khi ước mong phẩm vị Toàn Tri.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Akitti là phần thứ nhất.
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
“Kappe ca satasahasse,
caturo ca asaṅkhiye;
Etthantare yaṁ caritaṁ,
sabbaṁ taṁ bodhipācanaṁ.
Atītakappe caritaṁ,
ṭhapayitvā bhavābhave;
Imamhi kappe caritaṁ,
pavakkhissaṁ suṇohi me.
Yadā ahaṁ brahāraññe,
suññe vipinakānane;
Ajjhogāhetvā viharāmi,
akitti nāma tāpaso.
Tadā maṁ tapatejena,
santatto tidivābhibhū;
Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṁ,
bhikkhāya maṁ upāgami.
Pavanā ābhataṁ paṇṇaṁ,
atelañca aloṇikaṁ;
Mama dvāre ṭhitaṁ disvā,
sakaṭāhena ākiriṁ.
Tassa datvānahaṁ paṇṇaṁ,
nikkujjitvāna bhājanaṁ;
Punesanaṁ jahitvāna,
pāvisiṁ paṇṇasālakaṁ.
Dutiyampi tatiyampi,
upagañchi mamantikaṁ;
Akampito anolaggo,
evamevamadāsahaṁ.
Na me tappaccayā atthi,
sarīrasmiṁ vivaṇṇiyaṁ;
Pītisukhena ratiyā,
vītināmemi taṁ divaṁ.
Yadi māsampi dvemāsaṁ,
dakkhiṇeyyaṁ varaṁ labhe;
Akampito anolīno,
dadeyyaṁ dānamuttamaṁ.
Na tassa dānaṁ dadamāno,
yasaṁ lābhañca patthayiṁ;
Sabbaññutaṁ patthayāno,
tāni kammāni ācarin”ti.
Akitticariyaṁ paṭhamaṁ.
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
“For a hundred thousand eons
and four incalculable ages,
all my conduct in that period
ripens in awakening.
Setting aside my conduct
in past eons through different lives,
I shall speak of my conduct
in this eon, hear me.
When I lived having plunged
into the formidable jungle
of empty thickets and glades,
my name was Akitti the mortifier.
Then, burned by the fires of my mortification,
the sovereign of the Third Heaven,
came to me for alms
in the form of a brahmin.
I had gathered leaves from the forest
without oil or salt,
and seeing him standing at my door,
I placed them in his pot.
After giving him the leaves
I turned over my plate,
and having given up on seeking more food,
I entered my hut of leaves.
A second and a third time
he came to me.
Undisturbed, ungrasping,
I gave in just the same way.
That is the reason why
my body is not discolored.
In rapture and bliss free of relishing
I spend the day.
If even for a month or two
I were to find a worthy recipient,
undisturbed, unattached,
I would give the supreme gift.
While giving him that gift
I did not wish for fame or profit.
Wishing for omniscience
I performed those deeds.”
Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri!
BJT 1Các hạnh nào được thực hành trong khoảng thời gian này, (tức là) bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, tất cả các hạnh ấy là điều kiện làm cho chín muồi quả vị giác ngộ.
BJT 2Trừ ra các hạnh đã được thực hành trong kiếp quá khứ thuộc đời này hoặc đời khác, ta sẽ nói đến hạnh đã được thực hiện trong kiếp này, ngươi hãy lắng nghe.
BJT 3Lúc bấy giờ, ta là vị đạo sĩ khổ hạnh tên Akitti. Ta đã đi sâu vào và cư ngụ ở khu rừng rậm, hoang vắng, là lâm viên có nhiều cây.
BJT 4Khi ấy, Chúa của chư thiên Sakka bị nóng bức bởi năng lực khổ hạnh của ta nên đã đi đến gần ta để xin vật thực trong dáng vóc vị Bà-la-môn.
BJT 5Nhìn thấy (vị ấy) đứng ở cánh cửa (căn chòi lá) của ta, ta đã bày ra chỉ có một tô lá cây đã được gió gom lại, không có dầu và cũng không có muối.
BJT 6Sau khi bố thí lá cây đến vị này, ta đã lập úp cái tô lại, từ bỏ việc tìm kiếm (thức ăn) một lần nữa, và đã đi vào căn chòi lá.
BJT 7Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, vị ấy cũng đã đi đến gặp ta. Không dao động, không dính mắc, ta đã bố thí như hai lần trước.
BJT 8(Nhưng) không vì nguyên nhân ấy mà thân thể của ta trở nên tiều tụy; ta đã trải qua ngày hôm ấy với niềm phỉ lạc và hứng thú.
BJT 9Nếu như ta có được một vị xứng đáng để cúng dường thì ta có thể dâng cúng vật thí tối thượng luôn cả một tháng, hai tháng, mà không dao động, không lưỡng lự.
BJT 10Trong khi bố thí phẩm vật cho vị ấy, ta đã không mong cầu danh và lợi. Ta đã thực hiện những hành động ấy trong khi ước mong phẩm vị Toàn Tri.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Akitti là phần thứ nhất.
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.
“Kappe ca satasahasse,
caturo ca asaṅkhiye;
Etthantare yaṁ caritaṁ,
sabbaṁ taṁ bodhipācanaṁ.
Atītakappe caritaṁ,
ṭhapayitvā bhavābhave;
Imamhi kappe caritaṁ,
pavakkhissaṁ suṇohi me.
Yadā ahaṁ brahāraññe,
suññe vipinakānane;
Ajjhogāhetvā viharāmi,
akitti nāma tāpaso.
Tadā maṁ tapatejena,
santatto tidivābhibhū;
Dhārento brāhmaṇavaṇṇaṁ,
bhikkhāya maṁ upāgami.
Pavanā ābhataṁ paṇṇaṁ,
atelañca aloṇikaṁ;
Mama dvāre ṭhitaṁ disvā,
sakaṭāhena ākiriṁ.
Tassa datvānahaṁ paṇṇaṁ,
nikkujjitvāna bhājanaṁ;
Punesanaṁ jahitvāna,
pāvisiṁ paṇṇasālakaṁ.
Dutiyampi tatiyampi,
upagañchi mamantikaṁ;
Akampito anolaggo,
evamevamadāsahaṁ.
Na me tappaccayā atthi,
sarīrasmiṁ vivaṇṇiyaṁ;
Pītisukhena ratiyā,
vītināmemi taṁ divaṁ.
Yadi māsampi dvemāsaṁ,
dakkhiṇeyyaṁ varaṁ labhe;
Akampito anolīno,
dadeyyaṁ dānamuttamaṁ.
Na tassa dānaṁ dadamāno,
yasaṁ lābhañca patthayiṁ;
Sabbaññutaṁ patthayāno,
tāni kammāni ācarin”ti.
Akitticariyaṁ paṭhamaṁ.