BJT 11Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị Bà-la-môn tên gọi Saṅ-kha. Có ý định băng qua đại dương, ta đã đi đến bến tàu.
BJT 12Tại nơi ấy, ta đã nhìn thấy ở phía bên kia đường một vị Phật Độc Giác, là bậc không bị kẻ khác hàng phục, đang đi ở con đường xa vắng, trên mặt đất gồ ghề, nóng bỏng.
BJT 13Sau khi nhìn thấy vị ấy ở phía bên kia đường, ta đã suy xét về sự việc này: “Đây là phước điền đã được thành tựu đến cho người mong cầu phước báu.”
BJT 14Cũng giống như người nông phu nhìn thấy thửa ruộng có triển vọng thu hoạch lớn, người ấy không gieo hạt giống ở nơi ấy (nghĩa là) người ấy không có nhu cầu về thóc lúa.
BJT 15Tương tợ như thế, là người có mong cầu về phước báu, sau khi nhìn thấy phước điền cao quý tối thượng, nếu ta không thể hiện hành động ở phước điền ấy thì ta không phải là người mong cầu về phước báu.
BJT 16Giống như vị quan đại thần mong muốn có uy quyền đối với những người trong cung mà không ban cho những người ấy tài sản và thóc gạo thì sẽ bị suy giảm về uy quyền.
BJT 17Tương tợ như thế, là người có mong cầu về phước báu sau khi nhìn thấy bậc cao thượng xứng đáng để cúng dường, nếu ta không dâng cúng vật thí đến vị ấy thì ta sẽ bị suy giảm về phước báu.
BJT 18Sau khi suy nghĩ như thế, ta đã cởi ra đôi dép, rồi đảnh lễ ở hai bàn chân của vị ấy, và đã cúng dường dù và dép.
BJT 19Mặc dầu ta có cơ thể mảnh mai và được nuôi dưỡng cẩn thận gấp trăm lần so với vị ấy, tuy nhiên trong khi làm tròn đủ hạnh bố thí, ta cũng đã cúng dường đến vị ấy như thế.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Saṅkha là phần thứ nhì.
“Punāparaṁ yadā homi,
Brāhmaṇo saṅkhasavhayo;
Mahāsamuddaṁ taritukāmo,
Upagacchāmi paṭṭanaṁ.
Tatthaddasaṁ paṭipathe,
Sayambhuṁ aparājitaṁ;
Kantāraddhānaṁ paṭipannaṁ,
Tattāya kaṭhinabhūmiyā.
Tamahaṁ paṭipathe disvā,
imamatthaṁ vicintayiṁ;
‘Idaṁ khettaṁ anuppattaṁ,
puññakāmassa jantuno.
Yathā kassako puriso,
khettaṁ disvā mahāgamaṁ;
Tattha bījaṁ na ropeti,
na so dhaññena atthiko.
Evamevāhaṁ puññakāmo,
Disvā khettavaruttamaṁ;
Yadi tattha kāraṁ na karomi,
Nāhaṁ puññena atthiko.
Yathā amacco muddikāmo,
rañño antepure jane;
Na deti tesaṁ dhanadhaññaṁ,
muddito parihāyati.
Evamevāhaṁ puññakāmo,
Vipulaṁ disvāna dakkhiṇaṁ;
Yadi tassa dānaṁ na dadāmi,
Parihāyissāmi puññato’.
Evāhaṁ cintayitvāna,
orohitvā upāhanā;
Tassa pādāni vanditvā,
adāsiṁ chattupāhanaṁ.
Tenevāhaṁ sataguṇato,
Sukhumālo sukhedhito;
Api ca dānaṁ paripūrento,
Evaṁ tassa adāsahan”ti.
Saṅkhacariyaṁ dutiyaṁ.
“Then again when I was
a brahmin called Saṅkha,
wanting to cross the great ocean,
I was on my way to the port.
There I saw across the way
one self-awakened, undefeated,
walking a desert road
whose ground was hot and rough.
Seeing him across the way,
I thought this:
‘A field has appeared
for a personage desiring merit.
Now suppose a farmer
seeing a fertile field
does not sow seed there,
then they are not in need of grain.
So too, if I, desiring merit,
seeing a supreme excellent field,
do not render service there,
then I am not in need of merit.
Or suppose a minister seeking the royal seal
of authority over the people of the court,
does not give them money and grain,
their authority dwindles.
So too, if I, desiring merit,
seeing an abundantly worthy recipient,
do not give gifts to them,
I will dwindle in merit.’
Reflecting in this way,
I took off my sandals
and bowed to his feet,
giving him an umbrella and sandals.
Though I was a hundred times
more delicate and dainty than him,
fulfilling my giving,
I gave like this to him.”
BJT 11Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị Bà-la-môn tên gọi Saṅ-kha. Có ý định băng qua đại dương, ta đã đi đến bến tàu.
BJT 12Tại nơi ấy, ta đã nhìn thấy ở phía bên kia đường một vị Phật Độc Giác, là bậc không bị kẻ khác hàng phục, đang đi ở con đường xa vắng, trên mặt đất gồ ghề, nóng bỏng.
BJT 13Sau khi nhìn thấy vị ấy ở phía bên kia đường, ta đã suy xét về sự việc này: “Đây là phước điền đã được thành tựu đến cho người mong cầu phước báu.”
BJT 14Cũng giống như người nông phu nhìn thấy thửa ruộng có triển vọng thu hoạch lớn, người ấy không gieo hạt giống ở nơi ấy (nghĩa là) người ấy không có nhu cầu về thóc lúa.
BJT 15Tương tợ như thế, là người có mong cầu về phước báu, sau khi nhìn thấy phước điền cao quý tối thượng, nếu ta không thể hiện hành động ở phước điền ấy thì ta không phải là người mong cầu về phước báu.
BJT 16Giống như vị quan đại thần mong muốn có uy quyền đối với những người trong cung mà không ban cho những người ấy tài sản và thóc gạo thì sẽ bị suy giảm về uy quyền.
BJT 17Tương tợ như thế, là người có mong cầu về phước báu sau khi nhìn thấy bậc cao thượng xứng đáng để cúng dường, nếu ta không dâng cúng vật thí đến vị ấy thì ta sẽ bị suy giảm về phước báu.
BJT 18Sau khi suy nghĩ như thế, ta đã cởi ra đôi dép, rồi đảnh lễ ở hai bàn chân của vị ấy, và đã cúng dường dù và dép.
BJT 19Mặc dầu ta có cơ thể mảnh mai và được nuôi dưỡng cẩn thận gấp trăm lần so với vị ấy, tuy nhiên trong khi làm tròn đủ hạnh bố thí, ta cũng đã cúng dường đến vị ấy như thế.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Saṅkha là phần thứ nhì.
“Punāparaṁ yadā homi,
Brāhmaṇo saṅkhasavhayo;
Mahāsamuddaṁ taritukāmo,
Upagacchāmi paṭṭanaṁ.
Tatthaddasaṁ paṭipathe,
Sayambhuṁ aparājitaṁ;
Kantāraddhānaṁ paṭipannaṁ,
Tattāya kaṭhinabhūmiyā.
Tamahaṁ paṭipathe disvā,
imamatthaṁ vicintayiṁ;
‘Idaṁ khettaṁ anuppattaṁ,
puññakāmassa jantuno.
Yathā kassako puriso,
khettaṁ disvā mahāgamaṁ;
Tattha bījaṁ na ropeti,
na so dhaññena atthiko.
Evamevāhaṁ puññakāmo,
Disvā khettavaruttamaṁ;
Yadi tattha kāraṁ na karomi,
Nāhaṁ puññena atthiko.
Yathā amacco muddikāmo,
rañño antepure jane;
Na deti tesaṁ dhanadhaññaṁ,
muddito parihāyati.
Evamevāhaṁ puññakāmo,
Vipulaṁ disvāna dakkhiṇaṁ;
Yadi tassa dānaṁ na dadāmi,
Parihāyissāmi puññato’.
Evāhaṁ cintayitvāna,
orohitvā upāhanā;
Tassa pādāni vanditvā,
adāsiṁ chattupāhanaṁ.
Tenevāhaṁ sataguṇato,
Sukhumālo sukhedhito;
Api ca dānaṁ paripūrento,
Evaṁ tassa adāsahan”ti.
Saṅkhacariyaṁ dutiyaṁ.