BJT 20Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị vua tên Dhanañjaya ở tại kinh thành Indapattha, và được thuần thục về mười thiện nghiệp.
BJT 21Những người Bà-la-môn từ lãnh thổ vương quốc Kaliṅga đã đi đến gặp ta. Họ đã cầu xin ta con long tượng được xem là biểu hiện của sự thịnh vượng và may mắn.
BJT 22(Họ đã nói rằng): “Xứ sở chúng tôi không có mưa, thức ăn hiếm hoi, đói kém trầm trọng. Xin ngài hãy ban cho con hắc long tượng cao quý có tên là Añjana.”
BJT 23(Ta nghĩ rằng): “Đối với ta, khi có được người cầu xin thì sự từ chối là điều không đúng đắn. Sự thọ trì của ta chớ có bị đổ vỡ. Ta sẽ bố thí con voi vĩ đại.”
BJT 24Sau khi nắm lấy con voi ở chiếc ngà và rưới nước từ chiếc bình làm bằng ngọc quý lên bàn tay, ta đã cho con voi đến các vị Bà-la-môn.
BJT 25Khi con voi ấy đã được cho đi, các quan đại thần đã nói điều này: “Sao ngài lại cho con voi quý báu của ngài đến những kẻ cầu xin?
BJT 26Con voi là tối ưu trong việc chiến thắng ở trận tiền, được thành tựu sự thịnh vượng và may mắn. Khi con voi ấy đã được cho đi thì cái gì sẽ vận hành vương quốc của ngài?”
BJT 27Ta có thể bố thí luôn cả toàn bộ vương quốc của ta. Ta có thể bố thí cả thân mạng của mình. Ðối với ta, quả vị Toàn Tri là yêu quý; vì thế ta đã bố thí con long tượng.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Kurudhamma là phần thứ ba.
“Punāparaṁ yadā homi,
indapatthe puruttame;
Rājā dhanañcayo nāma,
kusale dasahupāgato.
Kaliṅgaraṭṭhavisayā,
brāhmaṇā upagañchu maṁ;
Āyācuṁ maṁ hatthināgaṁ,
dhaññaṁ maṅgalasammataṁ.
‘Avuṭṭhiko janapado,
dubbhikkho chātako mahā;
Dadāhi pavaraṁ nāgaṁ,
nīlaṁ añjanasavhayaṁ’.
‘Na me yācakamanuppatte,
paṭikkhepo anucchavo;
Mā me bhijji samādānaṁ,
dassāmi vipulaṁ gajaṁ’.
Nāgaṁ gahetvā soṇḍāya,
bhiṅgāre ratanāmaye;
Jalaṁ hatthe ākiritvā,
brāhmaṇānaṁ adaṁ gajaṁ.
Tassa nāge padinnamhi,
amaccā etadabravuṁ;
‘Kiṁ nu tuyhaṁ varaṁ nāgaṁ,
yācakānaṁ padassasi.
Dhaññaṁ maṅgalasampannaṁ,
saṅgāmavijayuttamaṁ;
Tasmiṁ nāge padinnamhi,
kiṁ te rajjaṁ karissati’.
‘Rajjampi me dade sabbaṁ,
sarīraṁ dajjamattano;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā nāgaṁ adāsahan’”ti.
Kururājacariyaṁ tatiyaṁ.
“Then again when I reigned
in Indapatta, the capital city,
as the king named Dhanañjaya
I was blessed with the ten skillful deeds.
From the realm of Kaliṅga
brahmins came to me
requesting the royal elephant
that was lucky and deemed auspicious.
‘Our nation is suffering from drought,
food is scarce and famine abounds,
please give the noble elephant
of midnight hue named Añjana.’
‘When supplicants come to me
it is unbefitting to refuse.
Let not my vow be broken,
I shall give the mighty elephant.’
Taking the elephant by the trunk,
and a bejeweled ceremonial vessel,
I sprinkled water on the hand,
and gave the elephant to the brahmins.
When I had given the elephant,
my ministers said,
‘Why did you give the noble elephant
to the supplicants?
He was lucky and endowed with the auspicious,
supreme victor in battle.
Now you have given the elephant,
how shall you govern the realm?’
‘I would give the entire realm
and my physical body as well.
Omniscience is precious to me,
which is why I gave away the elephant.’”
BJT 20Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị vua tên Dhanañjaya ở tại kinh thành Indapattha, và được thuần thục về mười thiện nghiệp.
BJT 21Những người Bà-la-môn từ lãnh thổ vương quốc Kaliṅga đã đi đến gặp ta. Họ đã cầu xin ta con long tượng được xem là biểu hiện của sự thịnh vượng và may mắn.
BJT 22(Họ đã nói rằng): “Xứ sở chúng tôi không có mưa, thức ăn hiếm hoi, đói kém trầm trọng. Xin ngài hãy ban cho con hắc long tượng cao quý có tên là Añjana.”
BJT 23(Ta nghĩ rằng): “Đối với ta, khi có được người cầu xin thì sự từ chối là điều không đúng đắn. Sự thọ trì của ta chớ có bị đổ vỡ. Ta sẽ bố thí con voi vĩ đại.”
BJT 24Sau khi nắm lấy con voi ở chiếc ngà và rưới nước từ chiếc bình làm bằng ngọc quý lên bàn tay, ta đã cho con voi đến các vị Bà-la-môn.
BJT 25Khi con voi ấy đã được cho đi, các quan đại thần đã nói điều này: “Sao ngài lại cho con voi quý báu của ngài đến những kẻ cầu xin?
BJT 26Con voi là tối ưu trong việc chiến thắng ở trận tiền, được thành tựu sự thịnh vượng và may mắn. Khi con voi ấy đã được cho đi thì cái gì sẽ vận hành vương quốc của ngài?”
BJT 27Ta có thể bố thí luôn cả toàn bộ vương quốc của ta. Ta có thể bố thí cả thân mạng của mình. Ðối với ta, quả vị Toàn Tri là yêu quý; vì thế ta đã bố thí con long tượng.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Kurudhamma là phần thứ ba.
“Punāparaṁ yadā homi,
indapatthe puruttame;
Rājā dhanañcayo nāma,
kusale dasahupāgato.
Kaliṅgaraṭṭhavisayā,
brāhmaṇā upagañchu maṁ;
Āyācuṁ maṁ hatthināgaṁ,
dhaññaṁ maṅgalasammataṁ.
‘Avuṭṭhiko janapado,
dubbhikkho chātako mahā;
Dadāhi pavaraṁ nāgaṁ,
nīlaṁ añjanasavhayaṁ’.
‘Na me yācakamanuppatte,
paṭikkhepo anucchavo;
Mā me bhijji samādānaṁ,
dassāmi vipulaṁ gajaṁ’.
Nāgaṁ gahetvā soṇḍāya,
bhiṅgāre ratanāmaye;
Jalaṁ hatthe ākiritvā,
brāhmaṇānaṁ adaṁ gajaṁ.
Tassa nāge padinnamhi,
amaccā etadabravuṁ;
‘Kiṁ nu tuyhaṁ varaṁ nāgaṁ,
yācakānaṁ padassasi.
Dhaññaṁ maṅgalasampannaṁ,
saṅgāmavijayuttamaṁ;
Tasmiṁ nāge padinnamhi,
kiṁ te rajjaṁ karissati’.
‘Rajjampi me dade sabbaṁ,
sarīraṁ dajjamattano;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā nāgaṁ adāsahan’”ti.
Kururājacariyaṁ tatiyaṁ.