BJT 40Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị đại vương tên Nimi, là bậc trí tuệ và là người tầm cầu thiện pháp ở tại kinh thành Mithilā.
BJT 41Khi ấy, ta đã cho thực hiện bốn sảnh đường (mỗi sảnh đường) có bốn cổng ra vào (ở bốn hướng chính). Ở tại nơi ấy, ta đã cho tiến hành việc bố thí đến các thú vật, chim chóc, loài người, v.v…
BJT 42Ta đã thực hiện không ngừng nghỉ (ngày đêm không gián đoạn đến lúc dứt tuổi thọ, CpA. 54) và đã cho tiến hành cuộc đại thí (gồm có) y phục, giường ghế, cơm ăn, nước uống, và thực phẩm (các loại).
BJT 43Cũng giống như người đầy tớ, vì lý do lương bổng, tiếp cận chủ nhân và suy tầm cách làm hài lòng bằng thân, khẩu, ý (bằng hành động, lời nói, và tư tưởng).
BJT 44Tương tợ y như thế, trong tất cả mọi kiếp sống ta cũng sẽ tầm cầu việc làm sanh khởi sự giác ngộ. Sau khi làm thỏa mãn các chúng sanh với vật bố thí, ta mong cầu quả vị giác ngộ tối thượng.
Hạnh của đức vua Nimi là phần thứ sáu.
“Punāparaṁ yadā homi,
mithilāyaṁ puruttame;
Nimi nāma mahārājā,
paṇḍito kusalatthiko.
Tadāhaṁ māpayitvāna,
catussālaṁ catummukhaṁ;
Tattha dānaṁ pavattesiṁ,
migapakkhinarādinaṁ.
Acchādanañca sayanaṁ,
annaṁ pānañca bhojanaṁ;
Abbocchinnaṁ karitvāna,
mahādānaṁ pavattayiṁ.
Yathāpi sevako sāmiṁ,
dhanahetumupāgato;
Kāyena vācā manasā,
ārādhanīyamesati.
Tathevāhaṁ sabbabhave,
pariyesissāmi bodhijaṁ;
Dānena satte tappetvā,
icchāmi bodhimuttaman”ti.
Nimirājacariyaṁ chaṭṭhaṁ.
“Then again when I was
in the capital city of Mithilā
I was the great king named Nimi,
astute and seeking the good.
Then having had constructed
four halls with four openings,
I provided gifts there
for beasts, birds, men, and so forth.
Clothing and beds,
food and drink to enjoy:
I provided them without let,
performing a great offering.
Suppose a servant is looking
to get a raise from their boss,
they’d seek to fulfill their needs
by body, speech, and mind.
In that way in every life
I shall seek the wisdom born of awakening.
Having pleased beings with gifts,
I wish for the supreme awakening.”
BJT 40Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vị đại vương tên Nimi, là bậc trí tuệ và là người tầm cầu thiện pháp ở tại kinh thành Mithilā.
BJT 41Khi ấy, ta đã cho thực hiện bốn sảnh đường (mỗi sảnh đường) có bốn cổng ra vào (ở bốn hướng chính). Ở tại nơi ấy, ta đã cho tiến hành việc bố thí đến các thú vật, chim chóc, loài người, v.v…
BJT 42Ta đã thực hiện không ngừng nghỉ (ngày đêm không gián đoạn đến lúc dứt tuổi thọ, CpA. 54) và đã cho tiến hành cuộc đại thí (gồm có) y phục, giường ghế, cơm ăn, nước uống, và thực phẩm (các loại).
BJT 43Cũng giống như người đầy tớ, vì lý do lương bổng, tiếp cận chủ nhân và suy tầm cách làm hài lòng bằng thân, khẩu, ý (bằng hành động, lời nói, và tư tưởng).
BJT 44Tương tợ y như thế, trong tất cả mọi kiếp sống ta cũng sẽ tầm cầu việc làm sanh khởi sự giác ngộ. Sau khi làm thỏa mãn các chúng sanh với vật bố thí, ta mong cầu quả vị giác ngộ tối thượng.
Hạnh của đức vua Nimi là phần thứ sáu.
“Punāparaṁ yadā homi,
mithilāyaṁ puruttame;
Nimi nāma mahārājā,
paṇḍito kusalatthiko.
Tadāhaṁ māpayitvāna,
catussālaṁ catummukhaṁ;
Tattha dānaṁ pavattesiṁ,
migapakkhinarādinaṁ.
Acchādanañca sayanaṁ,
annaṁ pānañca bhojanaṁ;
Abbocchinnaṁ karitvāna,
mahādānaṁ pavattayiṁ.
Yathāpi sevako sāmiṁ,
dhanahetumupāgato;
Kāyena vācā manasā,
ārādhanīyamesati.
Tathevāhaṁ sabbabhave,
pariyesissāmi bodhijaṁ;
Dānena satte tappetvā,
icchāmi bodhimuttaman”ti.
Nimirājacariyaṁ chaṭṭhaṁ.