BJT 29Tại thành phố ấy, ta đã cho thông báo ba lần trong ngày ở khắp các nơi rằng: “Ai muốn (hoặc) mong mỏi vật gì? Của cải gì nên được ban phát? (Ban phát) đến ai?
BJT 30Ai đói? Ai khát? Ai (cần) vòng hoa? Ai (cần) dầu thoa? Có các loại vải vóc đủ màu, ai trần truồng thì sẽ mặc vào?
BJT 31Ai đi đường cần đến dù? Ai (cần đến) giày dép mềm mại, đẹp đẽ?” Ta đã cho thông báo sáng chiều ở khắp các nơi như thế.
BJT 32Của cải ấy đã được chuẩn bị cho những người cầu xin không phải chỉ ở mười địa điểm, hoặc ở một trăm địa điểm, mà ở hàng trăm địa điểm.
BJT 33Nếu có người nghèo khổ đi đến cho dù ban ngày hoặc ban đêm, họ đều được nhận lãnh tài sản theo như ý thích rồi ra đi với hai tay tràn đầy của cải.
BJT 34Ta đã bố thí những phẩm vật lớn lao có hình thức như thế cho đến trọn đời. Ta cho ra của cải không phải là vì không thích ý, cũng không phải là vì ta không có chỗ để cất giữ.
BJT 35Cũng giống như người bị bệnh, sau khi làm hài lòng vị thầy thuốc với vàng bạc cho việc chữa lành căn bệnh, thì (sẽ) được hoàn toàn thoát khỏi căn bệnh.
BJT 36Tương tợ y như thế, khi biết được (điều ấy), để làm viên mãn (pháp bố thí) không bị thiếu sót và làm cho đầy đủ tâm ý còn khiếm khuyết, ta đã ban phát vật thí cho những người cầu xin, không luyến tiếc, không mong mỏi sự đền đáp nhằm thành tựu quả vị Toàn Giác.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mahāsudassana là phần thứ tư.
“Kusāvatimhi nagare,
yadā āsiṁ mahīpati;
Mahāsudassano nāma,
cakkavattī mahabbalo.
Tatthāhaṁ divase tikkhattuṁ,
ghosāpemi tahiṁ tahiṁ;
‘Ko kiṁ icchati pattheti,
kassa kiṁ dīyatū dhanaṁ.
Ko chātako ko tasito,
ko mālaṁ ko vilepanaṁ;
Nānārattāni vatthāni,
ko naggo paridahissati.
Ko pathe chattamādeti,
kopāhanā mudū subhā’;
Iti sāyañca pāto ca,
ghosāpemi tahiṁ tahiṁ.
Na taṁ dasasu ṭhānesu,
napi ṭhānasatesu vā;
Anekasataṭhānesu,
paṭiyattaṁ yācake dhanaṁ.
Divā vā yadi vā rattiṁ,
yadi eti vanibbako;
Laddhā yadicchakaṁ bhogaṁ,
pūrahatthova gacchati.
Evarūpaṁ mahādānaṁ,
Adāsiṁ yāvajīvikaṁ;
Napāhaṁ dessaṁ dhanaṁ dammi,
Napi natthi nicayo mayi.
Yathāpi āturo nāma,
rogato parimuttiyā;
Dhanena vejjaṁ tappetvā,
rogato parimuccati.
Tathevāhaṁ jānamāno,
paripūretumasesato;
Ūnamanaṁ pūrayituṁ,
demi dānaṁ vanibbake;
Nirālayo apaccāso,
sambodhimanupattiyā”ti.
Mahāsudassanacariyaṁ catutthaṁ.
“In the city of Kusāvatī,
when I was Lord of the Earth,
my name was Sudassana the Great,
a wheel-turning monarch of great power.
There, thrice a day,
I declared in one place or another:
‘Who needs what? Who wants what?
To whom ought riches be given?
Who needs an umbrella? Who is thirsty?
Who a garland? Who some makeup?
What person, being naked,
and will put on colorful clothes?
Who will take an umbrella on a highway,
who needs sandals, soft and pretty?’
Thus I had it proclaimed everywhere
morning and night.
It was not just in ten places,
or even a hundred,
but in many hundreds of places
riches were prepared for supplicants.
By day or by night
if a supplicant comes,
then having gotten all he wants,
he leaves with full hands.
I gave great gifts like this
for my whole life.
I did not give because I disliked riches,
or because I had a store set aside.
Suppose a person is sick.
In order to be free of sickness
having compensated the doctor with money,
they become freed from sickness.
Thus I, knowingly,
in order to fulfill without remainder,
to fulfill what is lacking,
gave gifts to supplicants
without clinging or reward,
for the attainment of awakening.”
BJT 29Tại thành phố ấy, ta đã cho thông báo ba lần trong ngày ở khắp các nơi rằng: “Ai muốn (hoặc) mong mỏi vật gì? Của cải gì nên được ban phát? (Ban phát) đến ai?
BJT 30Ai đói? Ai khát? Ai (cần) vòng hoa? Ai (cần) dầu thoa? Có các loại vải vóc đủ màu, ai trần truồng thì sẽ mặc vào?
BJT 31Ai đi đường cần đến dù? Ai (cần đến) giày dép mềm mại, đẹp đẽ?” Ta đã cho thông báo sáng chiều ở khắp các nơi như thế.
BJT 32Của cải ấy đã được chuẩn bị cho những người cầu xin không phải chỉ ở mười địa điểm, hoặc ở một trăm địa điểm, mà ở hàng trăm địa điểm.
BJT 33Nếu có người nghèo khổ đi đến cho dù ban ngày hoặc ban đêm, họ đều được nhận lãnh tài sản theo như ý thích rồi ra đi với hai tay tràn đầy của cải.
BJT 34Ta đã bố thí những phẩm vật lớn lao có hình thức như thế cho đến trọn đời. Ta cho ra của cải không phải là vì không thích ý, cũng không phải là vì ta không có chỗ để cất giữ.
BJT 35Cũng giống như người bị bệnh, sau khi làm hài lòng vị thầy thuốc với vàng bạc cho việc chữa lành căn bệnh, thì (sẽ) được hoàn toàn thoát khỏi căn bệnh.
BJT 36Tương tợ y như thế, khi biết được (điều ấy), để làm viên mãn (pháp bố thí) không bị thiếu sót và làm cho đầy đủ tâm ý còn khiếm khuyết, ta đã ban phát vật thí cho những người cầu xin, không luyến tiếc, không mong mỏi sự đền đáp nhằm thành tựu quả vị Toàn Giác.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mahāsudassana là phần thứ tư.
“Kusāvatimhi nagare,
yadā āsiṁ mahīpati;
Mahāsudassano nāma,
cakkavattī mahabbalo.
Tatthāhaṁ divase tikkhattuṁ,
ghosāpemi tahiṁ tahiṁ;
‘Ko kiṁ icchati pattheti,
kassa kiṁ dīyatū dhanaṁ.
Ko chātako ko tasito,
ko mālaṁ ko vilepanaṁ;
Nānārattāni vatthāni,
ko naggo paridahissati.
Ko pathe chattamādeti,
kopāhanā mudū subhā’;
Iti sāyañca pāto ca,
ghosāpemi tahiṁ tahiṁ.
Na taṁ dasasu ṭhānesu,
napi ṭhānasatesu vā;
Anekasataṭhānesu,
paṭiyattaṁ yācake dhanaṁ.
Divā vā yadi vā rattiṁ,
yadi eti vanibbako;
Laddhā yadicchakaṁ bhogaṁ,
pūrahatthova gacchati.
Evarūpaṁ mahādānaṁ,
Adāsiṁ yāvajīvikaṁ;
Napāhaṁ dessaṁ dhanaṁ dammi,
Napi natthi nicayo mayi.
Yathāpi āturo nāma,
rogato parimuttiyā;
Dhanena vejjaṁ tappetvā,
rogato parimuccati.
Tathevāhaṁ jānamāno,
paripūretumasesato;
Ūnamanaṁ pūrayituṁ,
demi dānaṁ vanibbake;
Nirālayo apaccāso,
sambodhimanupattiyā”ti.
Mahāsudassanacariyaṁ catutthaṁ.