“Thưa ngài, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, giống như sau khi nhìn thấy tâm của những người khác đã được giải thoát, vị hành giả tiến vào quả Nhập Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán, thực hành việc tu luyện để đạt đến pháp chưa được đạt đến, để chứng đạt pháp chưa được chứng đạt, để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc. Tâu đại vương, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đám mây lớn ở phía trên núi đổ mưa xuống, nước mưa ấy trong khi di chuyển xuống chỗ thấp, sau khi làm đầy các rãnh, các khe, các suối của ngọn núi, thì có thể làm đầy con sông; con sông trôi chảy ngập tràn hai con đê. Rồi có đám đông người đi đến, trong khi không biết mức độ cạn hay sâu của con sông, sợ hãi, ngần ngại, đứng ở bờ sông. Rồi một người nam đi đến, trong khi nhận biết thể lực và sức mạnh của mình đã buộc chặt chiếc khố rồi tiến vào và vượt qua. Sau khi nhìn thấy người ấy đã vượt qua được, đám đông người cũng vượt qua.
Tâu đại vương, giống như sau khi nhìn thấy tâm của những người khác đã được giải thoát, vị hành giả tiến vào quả Nhập Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán, thực hành việc tu luyện để đạt đến pháp chưa được đạt đến, để chứng đạt pháp chưa được chứng đạt, để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc. Tâu đại vương, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu:
Vượt qua cơn lũ nhờ vào tín, vượt qua biển cả nhờ vào sự không xao lãng, vượt lên khổ đau nhờ vào sự tinh tấn, được hoàn toàn trong sạch nhờ vào tuệ.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
“Kathaṁ, bhante, sampakkhandanalakkhaṇā saddhā”ti?
“Yathā, mahārāja, yogāvacaro aññesaṁ cittaṁ vimuttaṁ passitvā sotāpattiphale vā sakadāgāmiphale vā anāgāmiphale vā arahatte vā sampakkhandati yogaṁ karoti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Evaṁ kho, mahārāja, sampakkhandanalakkhaṇā saddhā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, uparipabbate mahāmegho abhippavasseyya, taṁ udakaṁ yathāninnaṁ pavattamānaṁ pabbatakandarapadarasākhā paripūretvā nadiṁ paripūreyya, sā ubhato kūlāni saṁvissandantī gaccheyya, atha mahājanakāyo āgantvā tassā nadiyā uttānataṁ vā gambhīrataṁ vā ajānanto bhīto vitthato tīre tiṭṭheyya, athaññataro puriso āgantvā attano thāmañca balañca sampassanto gāḷhaṁ kacchaṁ bandhitvā pakkhanditvā tareyya, taṁ tiṇṇaṁ passitvā mahājanakāyopi tareyya;
evameva kho, mahārāja, yogāvacaro aññesaṁ cittaṁ vimuttaṁ passitvā sotāpattiphale vā sakadāgāmiphale vā anāgāmiphale vā arahatte vā sampakkhandati yogaṁ karoti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Evaṁ kho, mahārāja, sampakkhandanalakkhaṇā saddhāti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā saṁyuttanikāyavare—
‘Saddhāya taratī oghaṁ,
appamādena aṇṇavaṁ;
Vīriyena dukkhamacceti,
paññāya parisujjhatī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sampakkhandanalakkhaṇasaddhāpañho ekādasamo.
‘And how is aspiration the mark of faith?’
‘In as much as the recluse, on perceiving how the hearts of others have been set free, aspires to enter as it were by a leap upon the fruit of the first stage, or of the second, or of the third in the Excellent Way, or to gain Arahatship itself, and thus applies himself to the attainment of what he has not reached, to the experience of what he has not yet felt, to the realisation of what he has not yet realised—therefore is it that aspiration is the mark of faith.’
‘Give me an illustration.’
‘Just, O king, as if a mighty storm PTS vp Pali 36 were to break upon a mountain top and pour out rain, the water would flow down according to the levels, and after filling up the crevices and chasms and gullies PTS vp En 56 of the hill, would empty itself into the brook below, so that the stream would rush along, overflowing both its banks. Now suppose a crowd of people, one after the other, were to come up, and being ignorant of the real breadth or depth of the water, were to stand fearful and hesitating on the brink. And suppose a certain man should arrive, who knowing exactly his own strength and power should gird himself firmly and, with a spring, land himself on the other side. Then the rest of the people, seeing him safe on the other side, would likewise cross. That is the kind of way in which the recluse, by faith, aspires to leap, as it were by a bound, into higher things. For this has been said, O king, by the Blessed One in the Samyutta Nikāya:
“By faith he crosses over the stream,
By earnestness the sea of life;
By steadfastness all grief he stills,
By wisdom is he purified.”
‘Well put, Nāgasena!’
“Thưa ngài, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, giống như sau khi nhìn thấy tâm của những người khác đã được giải thoát, vị hành giả tiến vào quả Nhập Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán, thực hành việc tu luyện để đạt đến pháp chưa được đạt đến, để chứng đạt pháp chưa được chứng đạt, để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc. Tâu đại vương, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như đám mây lớn ở phía trên núi đổ mưa xuống, nước mưa ấy trong khi di chuyển xuống chỗ thấp, sau khi làm đầy các rãnh, các khe, các suối của ngọn núi, thì có thể làm đầy con sông; con sông trôi chảy ngập tràn hai con đê. Rồi có đám đông người đi đến, trong khi không biết mức độ cạn hay sâu của con sông, sợ hãi, ngần ngại, đứng ở bờ sông. Rồi một người nam đi đến, trong khi nhận biết thể lực và sức mạnh của mình đã buộc chặt chiếc khố rồi tiến vào và vượt qua. Sau khi nhìn thấy người ấy đã vượt qua được, đám đông người cũng vượt qua.
Tâu đại vương, giống như sau khi nhìn thấy tâm của những người khác đã được giải thoát, vị hành giả tiến vào quả Nhập Lưu, hoặc quả Nhất Lai, hoặc quả Bất Lai, hoặc phẩm vị A-la-hán, thực hành việc tu luyện để đạt đến pháp chưa được đạt đến, để chứng đạt pháp chưa được chứng đạt, để chứng đắc pháp chưa được chứng đắc. Tâu đại vương, tín có sự tiến vào là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến ở Tương Ưng Bộ quý báu:
Vượt qua cơn lũ nhờ vào tín, vượt qua biển cả nhờ vào sự không xao lãng, vượt lên khổ đau nhờ vào sự tinh tấn, được hoàn toàn trong sạch nhờ vào tuệ.”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
“Kathaṁ, bhante, sampakkhandanalakkhaṇā saddhā”ti?
“Yathā, mahārāja, yogāvacaro aññesaṁ cittaṁ vimuttaṁ passitvā sotāpattiphale vā sakadāgāmiphale vā anāgāmiphale vā arahatte vā sampakkhandati yogaṁ karoti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Evaṁ kho, mahārāja, sampakkhandanalakkhaṇā saddhā”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, uparipabbate mahāmegho abhippavasseyya, taṁ udakaṁ yathāninnaṁ pavattamānaṁ pabbatakandarapadarasākhā paripūretvā nadiṁ paripūreyya, sā ubhato kūlāni saṁvissandantī gaccheyya, atha mahājanakāyo āgantvā tassā nadiyā uttānataṁ vā gambhīrataṁ vā ajānanto bhīto vitthato tīre tiṭṭheyya, athaññataro puriso āgantvā attano thāmañca balañca sampassanto gāḷhaṁ kacchaṁ bandhitvā pakkhanditvā tareyya, taṁ tiṇṇaṁ passitvā mahājanakāyopi tareyya;
evameva kho, mahārāja, yogāvacaro aññesaṁ cittaṁ vimuttaṁ passitvā sotāpattiphale vā sakadāgāmiphale vā anāgāmiphale vā arahatte vā sampakkhandati yogaṁ karoti appattassa pattiyā anadhigatassa adhigamāya asacchikatassa sacchikiriyāya.
Evaṁ kho, mahārāja, sampakkhandanalakkhaṇā saddhāti.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā saṁyuttanikāyavare—
‘Saddhāya taratī oghaṁ,
appamādena aṇṇavaṁ;
Vīriyena dukkhamacceti,
paññāya parisujjhatī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Sampakkhandanalakkhaṇasaddhāpañho ekādasamo.