Sau đó, đại đức Nāgasena đã đi đến nơi trú ngụ của đức vua Milinda, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt. Khi ấy, đức vua Milinda đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Nāgasena và hội chúng với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm, rồi đã dâng mỗi một vị tỳ khưu mỗi một xấp vải đôi, đã dâng đại đức Nāgasena với ba y, rồi đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, xin ngài hãy ngồi lại đây cùng với mười vị tỳ khưu, hãy cho các vị còn lại đi về.”
Sau đó, biết được đại đức Nāgasena đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, đức vua Milinda đã cầm lấy một chiếc ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, cuộc trao đổi trò chuyện là về điều gì?”
“Tâu đại vương, chúng ta là những người có sự mong cầu về mục đích, vậy hãy là cuộc trao đổi trò chuyện thuần về mục đích.”
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, sự xuất gia của ngài là với mục đích gì? Và mục đích tối hậu của ngài là gì?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, làm cách nào để cho khổ này diệt, và khổ khác không thể sanh lên? Tâu đại vương, sự xuất gia của chúng tôi là với mục đích ấy. Còn mục đích tối hậu của chúng tôi là Niết Bàn không còn chấp thủ.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải tất cả đều xuất gia với mục đích này?”
“Tâu đại vương, không hẳn. Một số xuất gia với mục đích này. Một số xuất gia vì sợ hãi đức vua. Một số xuất gia vì sợ hãi kẻ đạo tặc. Một số xuất gia vì bị hành hạ bởi nợ nần. Một số xuất gia vì mục đích nuôi mạng. Những người nào xuất gia chân chánh, những người ấy xuất gia với mục đích này.”
“Thưa ngài, có phải ngài đã xuất gia với mục đích này?”
“Tâu đại vương, tôi đã xuất gia khi còn là đứa bé trai. Tôi không biết là ‘tôi xuất gia với mục đích này.’ Tuy nhiên, tôi đã khởi ý như vầy: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này là các bậc trí. Các vị sẽ cho ta học tập.’ Tôi đây đã được học tập với họ, tôi biết và nhận thức rằng: ‘Sự xuất gia là với mục đích này.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Atha kho āyasmā nāgaseno yena milindassa rañño nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ saparisaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā ekamekaṁ bhikkhuṁ ekamekena dussayugena acchādetvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ ticīvarena acchādetvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, dasahi, bhikkhūhi saddhiṁ idha nisīdatha, avasesā gacchantū”ti.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ viditvā aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, kimhi hoti kathāsallāpo”ti?
“Atthena mayaṁ, mahārāja, atthikā, atthe hotu kathāsallāpo”ti.
Rājā āha—
“kimatthiyā, bhante nāgasena, tumhākaṁ pabbajjā, ko ca tumhākaṁ paramattho”ti.
Thero āha—
“kinti, mahārāja, idaṁ dukkhaṁ nirujjheyya, aññañca dukkhaṁ na uppajjeyyāti.
Etadatthā, mahārāja, amhākaṁ pabbajjā, anupādā parinibbānaṁ kho pana amhākaṁ paramattho”ti.
“Kiṁ pana, bhante nāgasena, sabbe etadatthāya pabbajantī”ti?
“Na hi, mahārāja, keci etadatthāya pabbajanti, keci rājābhinītā pabbajanti, keci corābhinītā pabbajanti, keci iṇaṭṭā pabbajanti, keci ājīvikatthāya pabbajanti, ye pana sammā pabbajanti, te etadatthāya pabbajantī”ti.
“Tvaṁ pana, bhante, etadatthāya pabbajitosī”ti?
“Ahaṁ kho, mahārāja, daharako santo pabbajito, na jānāmi imassa nāmatthāya pabbajāmīti, api ca kho me evaṁ ahosi ‘paṇḍitā ime samaṇā sakyaputtiyā, te maṁ sikkhāpessantī’ti, svāhaṁ tehi sikkhāpito jānāmi ca passāmi ca ‘imassa nāmatthāya pabbajjā’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Pabbajjapañho pañcamo.
PTS cs 5 And the venerable Nāgasena went to the king, and sat down on the seat prepared for him. And the king provided Nāgasena and his following with food, both hard and soft, as much as they required: and presented each brother with a suit of garments, and Nāgasena himself with a set of three robes. And then he said to him: ‘Be pleased to keep your seat here, and with you ten of the brethren. Let the rest depart.’
And when he saw that Nāgasena had finished his meal, he took a lower seat, and sat beside him, and said: ‘What shall we discuss?’
‘We want to arrive at truth. Let our discussion be about the truth.’
And the king said: ‘What is the object, Sir, of your renunciation, and what the summum bonum at which you aim?’
‘Why do you ask? Our renunciation is to the end that this sorrow may perish away, and that no further sorrow may arise; the complete passing away, without cleaving to the world, is our highest aim.’
‘How now, Sir! Is it for such high reasons that all members of it have joined the Order?,’
PTS vp Pali 32 ‘Certainly not, Sire. Some for those reasons, PTS vp En 50 but some have left the world in terror at the tyranny of kings. Some have joined us to be safe from being robbed, some harassed by debt, and some perhaps to gain a livelihood.’
‘But for what object, Sir, did you yourself join.’
‘I was received into the Order when I was a mere boy, I knew not then the ultimate aim. But I thought: “They are wise scholars, these Buddhist Samanas, they will be able to teach me.” And by them I have been taught; and now do I both know and understand what is at once the reason for, and the advantage of renunciation.’
‘Well put, Nāgasena!’
Sau đó, đại đức Nāgasena đã đi đến nơi trú ngụ của đức vua Milinda, sau khi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được sắp đặt. Khi ấy, đức vua Milinda đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Nāgasena và hội chúng với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm, rồi đã dâng mỗi một vị tỳ khưu mỗi một xấp vải đôi, đã dâng đại đức Nāgasena với ba y, rồi đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, xin ngài hãy ngồi lại đây cùng với mười vị tỳ khưu, hãy cho các vị còn lại đi về.”
Sau đó, biết được đại đức Nāgasena đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, đức vua Milinda đã cầm lấy một chiếc ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Thưa ngài Nāgasena, cuộc trao đổi trò chuyện là về điều gì?”
“Tâu đại vương, chúng ta là những người có sự mong cầu về mục đích, vậy hãy là cuộc trao đổi trò chuyện thuần về mục đích.”
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, sự xuất gia của ngài là với mục đích gì? Và mục đích tối hậu của ngài là gì?”
Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, làm cách nào để cho khổ này diệt, và khổ khác không thể sanh lên? Tâu đại vương, sự xuất gia của chúng tôi là với mục đích ấy. Còn mục đích tối hậu của chúng tôi là Niết Bàn không còn chấp thủ.”
“Thưa ngài Nāgasena, có phải tất cả đều xuất gia với mục đích này?”
“Tâu đại vương, không hẳn. Một số xuất gia với mục đích này. Một số xuất gia vì sợ hãi đức vua. Một số xuất gia vì sợ hãi kẻ đạo tặc. Một số xuất gia vì bị hành hạ bởi nợ nần. Một số xuất gia vì mục đích nuôi mạng. Những người nào xuất gia chân chánh, những người ấy xuất gia với mục đích này.”
“Thưa ngài, có phải ngài đã xuất gia với mục đích này?”
“Tâu đại vương, tôi đã xuất gia khi còn là đứa bé trai. Tôi không biết là ‘tôi xuất gia với mục đích này.’ Tuy nhiên, tôi đã khởi ý như vầy: ‘Các vị Sa-môn Thích tử này là các bậc trí. Các vị sẽ cho ta học tập.’ Tôi đây đã được học tập với họ, tôi biết và nhận thức rằng: ‘Sự xuất gia là với mục đích này.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Atha kho āyasmā nāgaseno yena milindassa rañño nivesanaṁ tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ saparisaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappetvā sampavāretvā ekamekaṁ bhikkhuṁ ekamekena dussayugena acchādetvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ ticīvarena acchādetvā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, dasahi, bhikkhūhi saddhiṁ idha nisīdatha, avasesā gacchantū”ti.
Atha kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ viditvā aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi, ekamantaṁ nisinno kho milindo rājā āyasmantaṁ nāgasenaṁ etadavoca—
“bhante nāgasena, kimhi hoti kathāsallāpo”ti?
“Atthena mayaṁ, mahārāja, atthikā, atthe hotu kathāsallāpo”ti.
Rājā āha—
“kimatthiyā, bhante nāgasena, tumhākaṁ pabbajjā, ko ca tumhākaṁ paramattho”ti.
Thero āha—
“kinti, mahārāja, idaṁ dukkhaṁ nirujjheyya, aññañca dukkhaṁ na uppajjeyyāti.
Etadatthā, mahārāja, amhākaṁ pabbajjā, anupādā parinibbānaṁ kho pana amhākaṁ paramattho”ti.
“Kiṁ pana, bhante nāgasena, sabbe etadatthāya pabbajantī”ti?
“Na hi, mahārāja, keci etadatthāya pabbajanti, keci rājābhinītā pabbajanti, keci corābhinītā pabbajanti, keci iṇaṭṭā pabbajanti, keci ājīvikatthāya pabbajanti, ye pana sammā pabbajanti, te etadatthāya pabbajantī”ti.
“Tvaṁ pana, bhante, etadatthāya pabbajitosī”ti?
“Ahaṁ kho, mahārāja, daharako santo pabbajito, na jānāmi imassa nāmatthāya pabbajāmīti, api ca kho me evaṁ ahosi ‘paṇḍitā ime samaṇā sakyaputtiyā, te maṁ sikkhāpessantī’ti, svāhaṁ tehi sikkhāpito jānāmi ca passāmi ca ‘imassa nāmatthāya pabbajjā’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Pabbajjapañho pañcamo.