Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, niệm có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng, có sự nắm lấy là tướng trạng?”
“Thưa ngài, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều nhắc nhở cho đức chuyển luân vương về sự vinh quang rằng: ‘Tâu bệ hạ, bệ hạ có chừng này voi, chừng này ngựa, chừng này cỗ xe, chừng này bộ binh, chừng này vàng khối, chừng này vàng ròng, chừng này tài sản, xin bệ hạ hãy ghi nhớ điều ấy,’ và không lơ đễnh về tài sản của đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Thưa ngài, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, nắm lấy quả là như vậy. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như vị tướng quân báu của đức chuyển luân vương biết được điều lợi ích và không lợi ích cho đức vua rằng: ‘Đối với đức vua, các điều này có lợi ích, các điều này không có lợi ích, các điều này hữu dụng, các điều này không hữu dụng,’ nhờ đó bỏ đi các điều không có lợi ích, nắm lấy các điều có lợi ích, bỏ đi các điều không hữu dụng, nắm lấy các điều hữu dụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta nói rằng niệm quả là có lợi ích về mọi mặt.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇā satī”ti?
“Apilāpanalakkhaṇā, mahārāja, sati, upaggaṇhanalakkhaṇā cā”ti.
“Kathaṁ, bhante, apilāpanalakkhaṇā satī”ti?
“Sati, mahārāja, uppajjamānā kusalākusalasāvajjānavajjahīnappaṇītakaṇhasukkasappaṭibhāgadhamme apilāpeti ‘ime cattāro satipaṭṭhānā, ime cattāro sammappadhānā, ime cattāro iddhipādā, imāni pañcindriyāni, imāni pañca balāni, ime satta bojjhaṅgā, ayaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, ayaṁ samatho, ayaṁ vipassanā, ayaṁ vijjā, ayaṁ vimuttī’ti.
Tato yogāvacaro sevitabbe dhamme sevati, asevitabbe dhamme na sevati.
Bhajitabbe dhamme bhajati abhajitabbe dhamme na bhajati.
Evaṁ kho, mahārāja, apilāpanalakkhaṇā satī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, rañño cakkavattissa bhaṇḍāgāriko rājānaṁ cakkavattiṁ sāyaṁ pātaṁ yasaṁ sarāpeti ‘ettakā, deva, te hatthī, ettakā assā, ettakā rathā, ettakā pattī, ettakaṁ hiraññaṁ, ettakaṁ suvaṇṇaṁ, ettakaṁ sāpateyyaṁ, taṁ devo saratū’ti rañño sāpateyyaṁ apilāpeti;
evameva kho, mahārāja, sati uppajjamānā kusalākusalasāvajjānavajjahīnappaṇītakaṇhasukkasappaṭibhāgadhamme apilāpeti ‘ime cattāro satipaṭṭhānā, ime cattāro sammappadhānā, ime cattāro iddhipādā, imāni pañcindriyāni, imāni pañca balāni, ime satta bojjhaṅgā, ayaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, ayaṁ samatho, ayaṁ vipassanā, ayaṁ vijjā, ayaṁ vimuttī’ti.
Tato yogāvacaro sevitabbe dhamme sevati, asevitabbe dhamme na sevati.
Bhajitabbe dhamme bhajati, abhajitabbe dhamme na bhajati.
Evaṁ kho, mahārāja, apilāpanalakkhaṇā satī”ti.
“Kathaṁ, bhante, upaggaṇhanalakkhaṇā satī”ti?
“Sati, mahārāja, uppajjamānā hitāhitānaṁ dhammānaṁ gatiyo samanveti ‘ime dhammā hitā, ime dhammā ahitā.
Ime dhammā upakārā, ime dhammā anupakārā’ti.
Tato yogāvacaro ahite dhamme apanudeti, hite dhamme upaggaṇhāti.
Anupakāre dhamme apanudeti, upakāre dhamme upaggaṇhāti.
Evaṁ kho, mahārāja, upaggaṇhanalakkhaṇā satī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, rañño cakkavattissa pariṇāyakaratanaṁ rañño hitāhite jānāti ‘ime rañño hitā, ime ahitā.
Ime upakārā, ime anupakārā’ti.
Tato ahite apanudeti, hite upaggaṇhāti.
Anupakāre apanudeti, upakāre upaggaṇhāti.
Evameva kho, mahārāja, sati uppajjamānā hitāhitānaṁ dhammānaṁ gatiyo samanveti ‘ime dhammā hitā, ime dhammā ahitā.
Ime dhammā upakārā, ime dhammā anupakārā’ti.
Tato yogāvacaro ahite dhamme apanudeti, hite dhamme upaggaṇhāti.
Anupakāre dhamme apanudeti, upakāre damme upaggaṇhāti.
Evaṁ kho, mahārāja, upaggaṇhanalakkhaṇā sati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘satiñca khvāhaṁ, bhikkhave, sabbatthikaṁ vadāmī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Satilakkhaṇapañho terasamo.
PTS cs 12 The king said: ‘What, Nāgasena, is the characteristic mark of mindfulness ?’
‘Repetition, O king, and keeping up.’
‘And how is repetition the mark of mindfulness?’
‘As mindfulness, O king, springs up in his heart he repeats over the good and evil, right and wrong, slight and important, dark and light qualities, and those that resemble them, saying to himself: “These are the four modes of keeping oneself ready and mindful, these the four modes of spiritual effort, these the four bases of extraordinary powers, these the five organs of the moral sense, these the five mental powers, these the seven bases of Arahatship, these the eight divisions of the Excellent Way, this is serenity and this insight, this is wisdom and this emancipation.” Thus does the recluse follow after PTS vp En 59 those qualities that are desirable, and not after those that are not; thus does he cultivate those which ought to be practised, and not those which ought not. That is how repetition is the mark of mindfulness.’
‘Give me an illustration.’
‘It is like the treasurer of the imperial sovran, who reminds his royal master early and late of his glory, saying: “So many are thy war elephants, O king, and so many thy cavalry, thy war chariots and thy bowmen, so much the quantity of thy money, and gold, and wealth, may your Majesty keep yourself in mind thereof.’
‘And how, Sir, is keeping up a mark of mindfulness?’
‘As mindfulness springs up in his heart, O king, he searches out the categories of good qualities and their opposites, saying to himself: “Such and such qualities are good, and such bad; PTS vp Pali 38 such and such qualities helpful, and such the reverse.” Thus does the recluse make what is evil in himself to disappear, and keeps up what is good. That is how keeping up is the mark of mindfulness.’
‘Give me an illustration.’
‘It is like the confidential adviser of that imperial PTS vp En 60 sovran who instructs him in good and evil, saying: “These things are bad for the king and these good, these helpful and these the reverse.” And thus the king makes the evil in himself die out, and keeps up the good.’
‘Well put, Nāgasena!’
Đức vua đã nói rằng: “Thưa ngài Nāgasena, niệm có gì là tướng trạng?”
“Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng, có sự nắm lấy là tướng trạng?”
“Thưa ngài, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như viên quan giữ kho của đức chuyển luân vương sáng chiều nhắc nhở cho đức chuyển luân vương về sự vinh quang rằng: ‘Tâu bệ hạ, bệ hạ có chừng này voi, chừng này ngựa, chừng này cỗ xe, chừng này bộ binh, chừng này vàng khối, chừng này vàng ròng, chừng này tài sản, xin bệ hạ hãy ghi nhớ điều ấy,’ và không lơ đễnh về tài sản của đức vua. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì không lơ đễnh các pháp có sự xen lẫn là thiện, bất thiện, có tội, không có tội, hạ liệt, cao quý, đen, trắng rằng: ‘Đây là bốn sự thiết lập niệm, đây là bốn chánh cần, đây là bốn nền tảng của thần thông, đây là năm quyền, đây là năm lực, đây là bảy chi phần đưa đến giác ngộ, đây là Thánh đạo tám chi phần, đây là chỉ tịnh, đây là minh sát, đây là minh, đây là giải thoát.’ Nhờ đó, hành giả thực hành các pháp nên thực hành, không thực hành các pháp không nên thực hành, thân cận các pháp nên thân cận, không thân cận các pháp không nên thân cận. Tâu đại vương, niệm có sự không lơ đễnh là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Thưa ngài, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là thế nào?”
“Tâu đại vương, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, nắm lấy quả là như vậy. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy.”
“Xin ngài cho ví dụ.”
“Tâu đại vương, giống như vị tướng quân báu của đức chuyển luân vương biết được điều lợi ích và không lợi ích cho đức vua rằng: ‘Đối với đức vua, các điều này có lợi ích, các điều này không có lợi ích, các điều này hữu dụng, các điều này không hữu dụng,’ nhờ đó bỏ đi các điều không có lợi ích, nắm lấy các điều có lợi ích, bỏ đi các điều không hữu dụng, nắm lấy các điều hữu dụng. Tâu đại vương, tương tợ y như thế, niệm trong khi được sanh lên thì xem xét các hành vi của các pháp có lợi ích và không có lợi ích rằng: ‘Các pháp này có lợi ích, các pháp này không có lợi ích. Các pháp này hữu dụng, các pháp này không hữu dụng. Nhờ đó, hành giả bỏ đi các pháp không có lợi ích, nắm lấy các pháp có lợi ích, bỏ đi các pháp không hữu dụng, nắm lấy các pháp hữu dụng. Tâu đại vương, niệm có sự nắm lấy là tướng trạng nghĩa là như vậy. Tâu đại vương, điều này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến: ‘Này các tỳ khưu, ta nói rằng niệm quả là có lợi ích về mọi mặt.’”
“Thưa ngài Nāgasena, ngài thật khôn khéo.”
Rājā āha—
“bhante nāgasena, kiṁlakkhaṇā satī”ti?
“Apilāpanalakkhaṇā, mahārāja, sati, upaggaṇhanalakkhaṇā cā”ti.
“Kathaṁ, bhante, apilāpanalakkhaṇā satī”ti?
“Sati, mahārāja, uppajjamānā kusalākusalasāvajjānavajjahīnappaṇītakaṇhasukkasappaṭibhāgadhamme apilāpeti ‘ime cattāro satipaṭṭhānā, ime cattāro sammappadhānā, ime cattāro iddhipādā, imāni pañcindriyāni, imāni pañca balāni, ime satta bojjhaṅgā, ayaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, ayaṁ samatho, ayaṁ vipassanā, ayaṁ vijjā, ayaṁ vimuttī’ti.
Tato yogāvacaro sevitabbe dhamme sevati, asevitabbe dhamme na sevati.
Bhajitabbe dhamme bhajati abhajitabbe dhamme na bhajati.
Evaṁ kho, mahārāja, apilāpanalakkhaṇā satī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, rañño cakkavattissa bhaṇḍāgāriko rājānaṁ cakkavattiṁ sāyaṁ pātaṁ yasaṁ sarāpeti ‘ettakā, deva, te hatthī, ettakā assā, ettakā rathā, ettakā pattī, ettakaṁ hiraññaṁ, ettakaṁ suvaṇṇaṁ, ettakaṁ sāpateyyaṁ, taṁ devo saratū’ti rañño sāpateyyaṁ apilāpeti;
evameva kho, mahārāja, sati uppajjamānā kusalākusalasāvajjānavajjahīnappaṇītakaṇhasukkasappaṭibhāgadhamme apilāpeti ‘ime cattāro satipaṭṭhānā, ime cattāro sammappadhānā, ime cattāro iddhipādā, imāni pañcindriyāni, imāni pañca balāni, ime satta bojjhaṅgā, ayaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, ayaṁ samatho, ayaṁ vipassanā, ayaṁ vijjā, ayaṁ vimuttī’ti.
Tato yogāvacaro sevitabbe dhamme sevati, asevitabbe dhamme na sevati.
Bhajitabbe dhamme bhajati, abhajitabbe dhamme na bhajati.
Evaṁ kho, mahārāja, apilāpanalakkhaṇā satī”ti.
“Kathaṁ, bhante, upaggaṇhanalakkhaṇā satī”ti?
“Sati, mahārāja, uppajjamānā hitāhitānaṁ dhammānaṁ gatiyo samanveti ‘ime dhammā hitā, ime dhammā ahitā.
Ime dhammā upakārā, ime dhammā anupakārā’ti.
Tato yogāvacaro ahite dhamme apanudeti, hite dhamme upaggaṇhāti.
Anupakāre dhamme apanudeti, upakāre dhamme upaggaṇhāti.
Evaṁ kho, mahārāja, upaggaṇhanalakkhaṇā satī”ti.
“Opammaṁ karohī”ti.
“Yathā, mahārāja, rañño cakkavattissa pariṇāyakaratanaṁ rañño hitāhite jānāti ‘ime rañño hitā, ime ahitā.
Ime upakārā, ime anupakārā’ti.
Tato ahite apanudeti, hite upaggaṇhāti.
Anupakāre apanudeti, upakāre upaggaṇhāti.
Evameva kho, mahārāja, sati uppajjamānā hitāhitānaṁ dhammānaṁ gatiyo samanveti ‘ime dhammā hitā, ime dhammā ahitā.
Ime dhammā upakārā, ime dhammā anupakārā’ti.
Tato yogāvacaro ahite dhamme apanudeti, hite dhamme upaggaṇhāti.
Anupakāre dhamme apanudeti, upakāre damme upaggaṇhāti.
Evaṁ kho, mahārāja, upaggaṇhanalakkhaṇā sati.
Bhāsitampetaṁ, mahārāja, bhagavatā—
‘satiñca khvāhaṁ, bhikkhave, sabbatthikaṁ vadāmī’”ti.
“Kallosi, bhante nāgasenā”ti.
Satilakkhaṇapañho terasamo.