Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1101-1200
SA1175 Kinh 1175. khẩn-thú dụ
SA1101 Kinh 1101. sư tử SA1102 Kinh 1102. bát SA1103 Kinh 1103. nhập xứ SA1104 KINH 1104 SA1105 Kinh 1105. ma-ha-ly SA1106 Kinh 1106. do nhân gì SA1107 Kinh 1107. dạ-xoa SA1108 Kinh 1108. được mắt SA1109 Kinh 1109. được thiện thắng SA1110 Kinh 1110. cột trói SA1111 Kinh 1111. kính phật SA1112 Kinh 1112. kính pháp SA1113 Kinh 1113. kính tăng SA1114 Kinh 1114. tú-tỳ-lê SA1115 Kinh 1115. tiên nhân SA1116 Kinh 1116. diệt sân SA1117 Kinh 1117. ngày mồng tám SA1118 Kinh 1118. bệnh SA1119 Kinh 1119. bà-trĩ SA1120 Kinh 1120. thệ ước SA1121 Kinh 1121. thích thị SA1122 Kinh 1122. tật bệnh SA1123 Kinh 1123. bồ-đề SA1124 Kinh 1124. vãng sanh SA1125 Kinh 1125. tu-đà-hoàn (1) SA1126 Kinh 1126. tu-đà-hoàn (2) SA1127 Kinh 1127. bốn pháp SA1128 Kinh 1128. bốn quả (1) SA1129 Kinh 1129. bốn quả (2) SA1130 Kinh 1130. hàn xứ SA1131 Kinh 1131. bốn thức ăn SA1132 Kinh 1132. nhuận trạch (1) SA1133 Kinh 1133. nhuận trạch (2) SA1134 Kinh 1134. nhuận trạch (3) SA1135 Kinh 1135. bốn mươi thiên tử SA1136 Kinh 1136. nguyệt dụ SA1137 Kinh 1137. thí dữ SA1138 Kinh 1138. thắng SA1139 Kinh 1139. vô tín SA1140 Kinh 1140. phật là căn bản SA1141 Kinh 1141. quá già SA1142 Kinh 1142. nạp y nặng SA1143 Kinh 1143. khi ấy SA1144 Kinh 1144. chúng giảm thiểu SA1145 Kinh 1145. ưng thí SA1146 Kinh 1146. sáng tối SA1147 Kinh 1147. núi đá SA1148 Kinh 1148. xà-kỳ-la SA1149 Kinh 1149. bảy vua SA1150 Kinh 1150. thở suyển SA1151 Kinh 1151. a-tu-la SA1152 Kinh 1152. tân-kỳ-ca SA1153 Kinh 1153. mạ lỵ (1) SA1154 Kinh 1154. mạ lỵ (2) SA1155 Kinh 1155. trái nghĩa SA1156 Kinh 1156. bất hại SA1157 Kinh 1157. hỏa dữ SA1158 Kinh 1158. bà-tứ-tra SA1159 Kinh 1159. ma-cù SA1160 Kinh 1160. cầm lọng vàng SA1161 Kinh 1161. la-hán pháp SA1162 Kinh 1162. vợ chồng già SA1163 Kinh 1163. già chết SA1164 Kinh 1164. bà-la-diên SA1165 Kinh 1165. tân-đầu lô SA1166 Kinh 1166. ví dụ tay chân SA1167 Kinh 1167. con rùa SA1168 Kinh 1168. lúa SA1169 Kinh 1169. cây đàn SA1170 Kinh 1170. cùi hủi SA1171 Kinh 1171. sáu chúng sanh SA1172 Kinh 1172. rắn độc SA1173 Kinh 1173. khổ pháp SA1174 Kinh 1174. khúc gỗ trôi SA1175 Kinh 1175. khẩn-thú dụ SA1176 Kinh 1176. lậu pháp SA1177 Kinh 1177. sông tro SA1178 Kinh 1178. bà-tứ-tra SA1179 Kinh 1179. mất bò SA1180 Kinh 1180. trí giả SA1181 Kinh 1181. thiên tác SA1182 Kinh 1182. nghề ruộng SA1183 Kinh 1183. nhặt củi SA1184 Kinh 1184. tôn-đà-lợi (1) SA1185 Kinh 1185. tôn-đà-lợi (2) SA1186 Kinh 1186. búi tóc (1) SA1187 Kinh 1187. búi tóc (2) SA1188 Kinh 1188. tôn trọng SA1189 Kinh 1189. phạm thiên (1) SA1190 Kinh 1190. phạm chúa SA1191 Kinh 1191. không nhàn xứ SA1192 Kinh 1192. tập hội SA1193 Kinh 1193. cù-ca-lê SA1194 Kinh 1194. phạm thiên (2) SA1195 Kinh 1195. bà-cú phạm SA1196 Kinh 1196. tà kiến SA1197 Kinh 1197. nhập diệt SA1198 Kinh 1198. a-lạp-tỳ SA1199 Kinh 1199. tô-ma SA1200 Kinh 1200. cù-đàm-di
SA1175

Kinh 1175. khẩn-thú dụ

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo một mình ngồi thiền tại chỗ vắng, tự nghĩ: “Tỳ-kheo biết thế nào, thấy thế nào, để được cái thấy thanh tịnh?” Nghĩ rồi, đến các chỗ các Tỳ-kheo, bạch các Tỳ-kheo rằng:

“Thưa các Tỳ-kheo biết thế nào, thấy thế nào để khiến cái thấy được thanh tịnh?”

Các Tỳ-kheo đáp:

“Tôn giả, biết đúng như thật về tập, diệt, vị, hoạn, ly của sáu xúc nhập xứ. Tỳ-kheo nào biết, thấy như vậy, sẽ được cái thấy thanh tịnh.”

Tỳ-kheo này nghe các Tỳ-kheo kia nói như vậy, tâm không hoan hỷ, lại đến chỗ Tỳ-kheo khác, hỏi Tỳ-kheo kia rằng:

“Chư tôn Tỳ-kheo, biết thế nào, thấy thế nào để được cái thấy thanh tịnh?”

Tỳ-kheo kia đáp:

“Biết đúng như thật về tập, diệt, vị, hoạn, ly của sáu giới. Tỳ-kheo nào biết như vậy, thấy như vậy, sẽ được cái thấy thanh tịnh.”

Tỳ-kheo này nghe Tỳ-kheo kia ký thuyết như vậy tâm cũng không lạc, lại đến Tỳ-kheo khác hỏi:

“Tỳ-kheo, biết thế nào, thấy thế nào để được cái thấy thanh tịnh?”

Tỳ-kheo kia đáp:

“Quán sát năm thủ uẩn như là bệnh tật, như ung nhọt, như gai nhọn, như giết hại, là vô thường, khổ, không, phi ngã. Biết như vậy, thấy như vậy, sẽ được cái thấy thanh tịnh.”

Tỳ-kheo này nghe Tỳ-kheo kia ký thuyết như vậy tâm cũng không lạc, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, con một mình ở chỗ vắng tư duy: ‘Tỳ-kheo, biết thế nào, thấy thế nào để được cái thấy thanh tịnh?’ Sau khi nghĩ như vậy, rồi con đi đến chỗ các Tỳ-kheo, ba nơi đã nói những gì, như đã bạch đầy đủ lên Thế Tôn, con nghe họ nói vậy, tâm không hoan hỷ, nên đến Thế Tôn đem nghĩa này xin hỏi Thế Tôn: ‘Tỳ-kheo, biết thế nào, thấy thế nào để được cái thấy thanh tịnh?’”

Phật đáp:

“Vào thời quá khứ, có một người chưa từng thấy cây khẩn-thú, đến người đã từng thấy khẩn-thú; hỏi người đã từng thấy khẩn thú rằng: ‘Ông biết cây khẩn-thú không?’ Đáp: ‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình dạng của nó thế nào?’ Đáp: ‘Nó màu đen như cái cột bị cháy.’ Vì người kia đang lúc thấy khẩn-thú màu đen như cột trụ cháy sém. Người này nghe nói khẩn-thú màu đen như cái cột cháy sém thì không hoan hỷ lắm. Lại đi đến người khác đã từng thấy khẩn-thú và hỏi: ‘Ông đã từng biết khẩn-thú phải không?’ Người kia đáp: ‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình dạng của nó thế nào?’ Người từng thấy khẩn-thú đáp: ‘Sắc của nó màu đỏ, hoa nở ra như khúc thịt.’ Vì người kia lúc thấy khẩn-thú nở hoa thật như một khúc thịt. Người này nghe những gì người kia nói như vậy không hoan hỷ. Lại đến người đã từng thấy khẩn-thú khác hỏi: ‘Ông từng biết khẩn-thú phải không?’ Người kia đáp: ‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình dạng của nó thế nào?’ Đáp: ‘Lông thân của nó dài thườn thượt rủ xuống như quả Thi-lợi-sa.’ Người này nghe rồi, tâm cũng không hoan hỷ. Lại đi hỏi người đã biết khẩn-thú khác: ‘Ông đã biết khẩn-thú phải không?’ Đáp: ‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình dáng của nó thế nào?’ Người kia trả lời: ‘Nó màu xanh lá cây, lá bóng, lá dài rộng như cây Ni-câu-lâu-đà.’ Như những người kia, khi hỏi về khẩn-thú, nghe xong, tâm không hoan hỷ. Lại đi tìm khắp nơi, nhưng những người thấy khẩn-thú, tùy thời tùy sở kiến của mỗi người mà trả lời; cho nên không giống nhau.

“Cũng vậy, các Tỳ-kheo, nếu ở nơi thanh vắng, chuyên tinh tư duy, sống không buông lung, nhân theo pháp tư duy mà không khởi lên các lậu, tâm được giải thoát và tùy theo sở kiến của họ mà ký thuyết. Nay ông nghe Ta nói thí dụ, người trí nhờ thí dụ sẽ hiểu được. Thí như có một quốc vương biên địa, khéo chỉnh trị thành quách, dưới cửa kiên cố, đường sá bằng phẳng. Bốn cửa thành đặt bốn người canh gác. Tất cả đều thông minh trí tuệ, biết người đi người đến. Trong thành này, tại một con đường ngã tư, an trí giường chõng. Thành chủ ngồi trên đó. Nếu có sứ giả từ phương Đông đến hỏi người giữ cửa: ‘Thành chủ ở đâu?’ Liền được trả lời: ‘Đang ngồi trên tòa, ở ngã tư đường, trong thành.’ Vị sứ giả kia nghe rồi, đến chỗ thành chủ nhận chỉ thị rồi trở về đường cũ. Những sứ giả từ Nam, Tây, Bắc, đến cũng hỏi người giữ cửa: ‘Thành chủ ở đâu?’ Họ cũng đáp: ‘Ở giữa ngã tư đường, trong thành.’ Các sứ giả kia nghe rồi đều đến chỗ thành chủ, nhận chỉ thị của ông, rồi mỗi người trở về chỗ cũ của mình.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Ta đã nói thí dụ. Nay sẽ nói ý nghĩa. Thành là dụ cho sắc thô của thân người. Giống như kinh nói thí dụ cái tráp rắn độc. Khéo sửa sang tường thành là chỉ cho chánh kiến. Đường sá bằng phẳng là nội sáu nhập xứ. Bốn cửa chỉ cho bốn trú xứ của thức. Bốn người giữ cửa chỉ cho tứ niệm xứ. Thành chủ chỉ cho thức thủ uẩn. Sứ giả là Chánh quán. Nói lời như thật là Bốn chân đế. Trở về đường cũ là tám Thánh đạo.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Nếu Đại Sư có những điều cần làm cho đệ tử; thì nay Ta đã làm xong. Vì thương xót nên: Như kinh thí dụ về cái tráp rắn độc.

Sau khi Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, chuyên tinh tư duy, không sống buông lung, tiến tu phạm hạnh,… cho đến không tái sanh đời sau nữa, thành A-la-hán.

⏳ Đang tải SA1176...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc