Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa901-1000
SA925 Kinh 925. bát chủng đức
SA901 Kinh 901. thiện pháp kiến lập SA902 Kinh 902. như lai đệ nhất SA903 Kinh 903. ly tham pháp đệ nhất SA904 Kinh 904. thanh văn đệ nhất SA905 Kinh 905. ngoại đạo SA906 Kinh 906. pháp tướng hoại SA907 Kinh 907. giá-la-châu-la SA908 Kinh 908. chiến đấu hoạt SA909 Kinh 909. điều mã SA910 Kinh 910. hung ác SA911 Kinh 911. ma-ni châu kế SA912 Kinh 912. vương đảnh SA913 Kinh 913. kiệt đàm SA914 Kinh 914. đao sư thị (1) SA915 Kinh 915. đao sư thị (2) SA916 Kinh 916. đao sư thị (3) SA917 Kinh 917. tam chủng điều mã SA918 Kinh 918. thuận lương mã SA919 KINH 919 SA920 Kinh 920. tam SA921 Kinh 921. tứ SA922 Kinh 922. tiên ảnh SA923 Kinh 923. chỉ-thi SA924 Kinh 924. hữu quá SA925 Kinh 925. bát chủng đức SA926 Kinh 926. sằn-đà ca-chiên-diên SA927 Kinh 927. ưu-bà-tắc SA928 Kinh 928. thâm diệu công đức SA929 Kinh 929. nhất thiết sự SA930 Kinh 930. tự khủng SA931 Kinh 931. tu tập trụ SA932 Kinh 932. thập nhất SA933 Kinh 933. thập nhị SA934 Kinh 934. giải thoát SA935 Kinh 935. sa-đà SA936 Kinh 936. bách thủ SA937 Kinh 937. huyết SA938 Kinh 938. lệ SA939 Kinh 939. mẫu nhũ SA940 Kinh 940. thảo mộc SA941 Kinh 941. thổ hoàn liệp SA942 Kinh 942. an lạc SA943 Kinh 943. khổ não SA944 Kinh 944. khủng bố SA945 Kinh 945. ái niệm SA946 Kinh 946. hằng hà SA947 Kinh 947. lụy cốt SA948 Kinh 948. thành trì SA949 Kinh 949. núi SA950 Kinh 950. quá khứ SA951 Kinh 951. vô hữu nhất xứ SA952 Kinh 952. vô bất nhất xứ SA953 Kinh 953. bong bóng nước mưa SA954 Kinh 954. cơn mưa trút SA955 Kinh 955. ngũ tiết luân SA956 Kinh 956. tỳ-phú-la SA957 Kinh 957. thân mạng SA958 Kinh 958. mục-liên SA959 Kinh 959. kỳ tai SA960 Kinh 960. kỳ đặc SA961 Kinh 961. hữu ngã SA962 Kinh 962. kiến SA963 Kinh 963. vô tri SA964 Kinh 964. xuất gia SA965 Kinh 965. uất-đê-ca SA966 Kinh 966. phú-lân-ni SA967 Kinh 967. câu-ca-na SA968 Kinh 968. cấp cô độc SA969 Kinh 969. trường trảo SA970 Kinh 970. xá-la-bộ SA971 Kinh 971. thượng tọa SA972 Kinh 972. tam đế SA973 Kinh 973. chiên-đà SA974 Kinh 974. bổ-lũ-đê-ca (1) SA975 Kinh 975. bổ-lũ-đê-ca (2) SA976 Kinh 976. thi-bà (1) SA977 Kinh 977. thi-bà (2) SA978 Kinh 978. thương chủ SA979 Kinh 979. tu-bạt-đà-la SA980 Kinh 980. niệm tam bảo SA981 Kinh 981. cây phướn SA982 Kinh 982. a-nan xá-lợi-phất (1) SA983 Kinh 983. a-nan xá-lợi-phất (2) SA984 Kinh 984. ái (1) SA985 Kinh 985. ái (2) SA986 Kinh 986. hai sự khó đoạn SA987 Kinh 987. hai pháp SA988 Kinh 988. đế thích (1) SA989 Kinh 989. đế thích (2) SA990 Kinh 990. lộc trú (1) SA991 Kinh 991. lộc trú (2) SA992 Kinh 992. phước điền SA993 Kinh 993. tán thượng tọa SA994 Kinh 994. bà-kỳ-xá tán phật SA995 Kinh 995. a-luyện-nhã SA996 Kinh 996. kiêu mạn SA997 Kinh 997. công đức tăng trưởng SA998 Kinh 998. cho gì được sức lớn SA999 Kinh 999. hoan hỷ SA1000 Kinh 1000. viễn du
SA925

Kinh 925. bát chủng đức

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Ngựa tốt ở thế gian thành tựu được tám đức, theo ý muốn của người, đi đường nhiều ít. Những gì là tám? Sanh nơi quê hương của giống ngựa tốt. Đó là đức thứ nhất của ngựa tốt.

“Lại nữa, thể tánh ôn hòa, không làm người kinh sợ. Đó là đức thứ hai của ngựa tốt.

“Lại nữa, ngựa tốt không lựa chọn đồ ăn thức uống. Đó là đức thứ ba của ngựa tốt.

“Lại nữa, ngựa tốt ghê tởm chỗ nhơ không sạch, chọn đất sạch để nằm. Đó là đức thứ tư của ngựa tốt.

“Lại nữa, ngựa tốt luôn thể hiện tính tình thái độ nhạy cảm trước người huấn luyện, Mã sư sẽ luyện tập cho nó bỏ những thái độ này. Đó là đức thứ năm của ngựa tốt.

“Lại nữa, ngựa tốt khi đã đóng vào xe, sẽ không để ý những con ngựa khác; tùy cỗ xe nặng nhẹ mà tận dụng sức lực của mình. Đó là đức thứ sáu của ngựa tốt.

“Lại nữa, ngựa tốt thường theo đường chánh, không đi lạc đường. Đó là đức thứ bảy của ngựa tốt.

“Lại nữa, ngựa tốt dù bị bệnh, hoặc già yếu vẫn gắng sức kéo xe không chán, không mệt. Đó là đức thứ tám của ngựa tốt.

“Cũng vậy, trượng phu trong Chánh pháp luật cũng thành tựu được tám đức, nên biết đó là bậc Hiền sĩ. Những gì là tám? Bậc Hiền sĩ an trụ chánh giới, luật nghi Ba-la-đề-mộc-xoa, có đủ oai nghi hành xử; thấy tội vi tế thường sanh lòng sợ hãi, giữ gìn học giới. Đó là đức thứ nhất của trượng phu trong Chánh pháp luật.

“Lại nữa, trượng phu tính tự hiền thiện, khéo điều phục, khéo an trụ, chẳng làm phiền, không làm sợ hãi phạm hạnh khác. Đó là đức thứ hai của trượng phu.

“Lại nữa, trượng phu đi khất thực, theo thứ lớp, tùy theo những gì nhận được, dù ngon hay dở, tâm vẫn bình đẳng, không hiềm, không đắm trước. Đó là đức thứ ba của trượng phu.

“Lại nữa, trượng phu sanh tâm yểm ly các nghiệp ác nơi thân, miệng, ý, các pháp ác bất thiện, cùng các phiền não, chúng dẫn đến thọ nhận các báo khổ nhiệt não nhiều lần; đối với sự sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não trong đời vị lai lại càng yểm ly. Đó là đức thứ tư của trượng phu.

“Lại nữa, trượng phu nếu có lỗi lầm của Sa-môn, mà quanh co, không chân thật, hãy nhanh chóng trình lên Đại Sư và thiện tri thức; Đại Sư thuyết pháp chắc chắn sẽ trừ dứt. Đó là đức thứ năm của vị trượng phu.

“Lại nữa, trượng phu tâm cầu học có đủ, nghĩ như vầy: ‘Giả sử người khác có học hay không học, ta cũng phải học. Đó là đức thứ sáu của trượng phu.

“Lại nữa, trượng phu thực hành tám Chánh đạo, chẳng thực hành phi đạo. Đó là đức thứ bảy của trượng phu.

“Lại nữa, trượng phu suốt đời nỗ lực tinh cần, không chán, không mệt. Đó là đức thứ tám của trượng phu.

“Trượng phu thành tựu tám đức như vậy, tùy thuộc vào sự thực hành của mình mà có thể tiến triển nhanh chóng.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA926...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc