Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa901-1000
SA969 Kinh 969. trường trảo
SA901 Kinh 901. thiện pháp kiến lập SA902 Kinh 902. như lai đệ nhất SA903 Kinh 903. ly tham pháp đệ nhất SA904 Kinh 904. thanh văn đệ nhất SA905 Kinh 905. ngoại đạo SA906 Kinh 906. pháp tướng hoại SA907 Kinh 907. giá-la-châu-la SA908 Kinh 908. chiến đấu hoạt SA909 Kinh 909. điều mã SA910 Kinh 910. hung ác SA911 Kinh 911. ma-ni châu kế SA912 Kinh 912. vương đảnh SA913 Kinh 913. kiệt đàm SA914 Kinh 914. đao sư thị (1) SA915 Kinh 915. đao sư thị (2) SA916 Kinh 916. đao sư thị (3) SA917 Kinh 917. tam chủng điều mã SA918 Kinh 918. thuận lương mã SA919 KINH 919 SA920 Kinh 920. tam SA921 Kinh 921. tứ SA922 Kinh 922. tiên ảnh SA923 Kinh 923. chỉ-thi SA924 Kinh 924. hữu quá SA925 Kinh 925. bát chủng đức SA926 Kinh 926. sằn-đà ca-chiên-diên SA927 Kinh 927. ưu-bà-tắc SA928 Kinh 928. thâm diệu công đức SA929 Kinh 929. nhất thiết sự SA930 Kinh 930. tự khủng SA931 Kinh 931. tu tập trụ SA932 Kinh 932. thập nhất SA933 Kinh 933. thập nhị SA934 Kinh 934. giải thoát SA935 Kinh 935. sa-đà SA936 Kinh 936. bách thủ SA937 Kinh 937. huyết SA938 Kinh 938. lệ SA939 Kinh 939. mẫu nhũ SA940 Kinh 940. thảo mộc SA941 Kinh 941. thổ hoàn liệp SA942 Kinh 942. an lạc SA943 Kinh 943. khổ não SA944 Kinh 944. khủng bố SA945 Kinh 945. ái niệm SA946 Kinh 946. hằng hà SA947 Kinh 947. lụy cốt SA948 Kinh 948. thành trì SA949 Kinh 949. núi SA950 Kinh 950. quá khứ SA951 Kinh 951. vô hữu nhất xứ SA952 Kinh 952. vô bất nhất xứ SA953 Kinh 953. bong bóng nước mưa SA954 Kinh 954. cơn mưa trút SA955 Kinh 955. ngũ tiết luân SA956 Kinh 956. tỳ-phú-la SA957 Kinh 957. thân mạng SA958 Kinh 958. mục-liên SA959 Kinh 959. kỳ tai SA960 Kinh 960. kỳ đặc SA961 Kinh 961. hữu ngã SA962 Kinh 962. kiến SA963 Kinh 963. vô tri SA964 Kinh 964. xuất gia SA965 Kinh 965. uất-đê-ca SA966 Kinh 966. phú-lân-ni SA967 Kinh 967. câu-ca-na SA968 Kinh 968. cấp cô độc SA969 Kinh 969. trường trảo SA970 Kinh 970. xá-la-bộ SA971 Kinh 971. thượng tọa SA972 Kinh 972. tam đế SA973 Kinh 973. chiên-đà SA974 Kinh 974. bổ-lũ-đê-ca (1) SA975 Kinh 975. bổ-lũ-đê-ca (2) SA976 Kinh 976. thi-bà (1) SA977 Kinh 977. thi-bà (2) SA978 Kinh 978. thương chủ SA979 Kinh 979. tu-bạt-đà-la SA980 Kinh 980. niệm tam bảo SA981 Kinh 981. cây phướn SA982 Kinh 982. a-nan xá-lợi-phất (1) SA983 Kinh 983. a-nan xá-lợi-phất (2) SA984 Kinh 984. ái (1) SA985 Kinh 985. ái (2) SA986 Kinh 986. hai sự khó đoạn SA987 Kinh 987. hai pháp SA988 Kinh 988. đế thích (1) SA989 Kinh 989. đế thích (2) SA990 Kinh 990. lộc trú (1) SA991 Kinh 991. lộc trú (2) SA992 Kinh 992. phước điền SA993 Kinh 993. tán thượng tọa SA994 Kinh 994. bà-kỳ-xá tán phật SA995 Kinh 995. a-luyện-nhã SA996 Kinh 996. kiêu mạn SA997 Kinh 997. công đức tăng trưởng SA998 Kinh 998. cho gì được sức lớn SA999 Kinh 999. hoan hỷ SA1000 Kinh 1000. viễn du
SA969

Kinh 969. trường trảo

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà tại thành Vương xá. Bấy giờ có tu sĩ ngoại đạo là Trường Trảo đến chỗ Phật, cùng Thế Tôn chào hỏi an úy xong, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:

“Thưa Cù-đàm, tôi không chấp nhận mọi sở kiến.”

Phật bảo:

“Này Hỏa chủng, ông nói không chấp nhận mọi sở kiến, vậy sở kiến này cũng chẳng chấp nhận luôn chăng?”

Trường Trảo ngoại đạo nói:

“Đã nói không chấp nhận mọi sở kiến thì cái sở kiến này cũng không chấp nhận.”

Phật bảo Hỏa chủng:

“Biết như vậy, thấy như vậy thì sở kiến này đã đoạn, đã xả, đã lìa, các sở kiến khác không còn tương tục, không khởi, không sanh. Này Hỏa chủng, nhiều người có cùng sở kiến như ông. Nhiều người cũng thấy như vậy, nói như vậy, ông cùng với họ giống nhau. Này Hỏa chủng, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào xả bỏ các kiến chấp kia, các kiến chấp khác không khởi, thì hàng Sa-môn, Bà-la-môn này rất ít có ở thế gian.

“Này Hỏa chủng, y cứ vào ba loại kiến. Những gì là ba? Có người thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tôi chấp nhận tất cả.’ Lại có người thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tôi không chấp nhận tất cả.’ Lại có người thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tôi chấp nhận một phần, không chấp nhận một phần.’

“Này Hỏa chủng, nếu chủ trương chấp nhận tất cả, kiến chấp này cùng sanh với tham, chẳng phải không tham; cùng sanh với nhuế, chẳng phải không nhuế; cùng sanh với si, chẳng phải không si; ràng buộc, chẳng lìa ràng buộc; phiền não, chẳng thanh tịnh; ái lạc, chấp thủ, nhiễm trước sanh. Hay nếu có kiến chấp như vầy: ‘Ta không chấp nhận tất cả’, kiến chấp này chẳng cùng sanh với tham, chẳng cùng sanh với nhuế, chẳng cùng sanh với si; thanh tịnh, không phiền não; lìa ràng buộc, chẳng ràng buộc; không ái lạc, không chấp thủ, không nhiễm trước sanh. Này Hỏa chủng, hay nếu có kiến chấp như vầy: ‘Ta chấp nhận một phần, không chấp nhận một phần’; vậy nếu chấp nhận thì câu hữu với tham,… cho đến sanh nhiễm trước; còn nếu không chấp nhận thì ly tham… cho đến không sanh nhiễm trước. Đa văn Thánh đệ tử kia nên học: ‘Nếu ta thấy như vầy, nói như vầy: ‘Ta chấp nhận tất cả’, sẽ bị hai hạng người chê trách và cật vấn. Những gì là hai? Người không chấp nhận tất cả và người một phần chấp nhận, một phần không chấp nhận. Họ sẽ bị hai hạng người này chê trách. Vì bị chê trách nên bị cật vấn. Vì bị cật vấn nên bị hại. Kiến chấp kia vì bị chê trách, bị cất vấn, bị phá hại nên họ xả bỏ kiến chấp đó, còn những kiến chấp khác thì không còn sanh trở lại. Cũng vậy đoạn kiến, xả kiến, ly kiến, các kiến khác, không còn tương tục, không khởi, không sanh.

“Đa văn Thánh đệ tử kia nên học như vầy: ‘Nếu ta thấy như vầy, nói như vầy: ‘Tất cả không chấp nhận’, sẽ bị hai hạng người chê trách và hai hạng người cật vấn. Những gì là hai? Người chấp nhận tất cả và người một phần chấp nhận, một phần không chấp nhận. Hai hạng người chê trách và cật vấn như vậy, ‘… cho đến không tương tục, không khởi, không sanh.’

“Đa văn Thánh đệ tử kia nên học như vầy: ‘Nếu ta thấy như vầy, nói như vầy: ‘Ta một phần chấp nhận, một phần không chấp nhận’, sẽ bị hai hạng người chê trách, hai hạng người cật vấn. Những gì là hai? Là người thấy như vầy, nói như vầy: ‘Ta chấp nhận tất cả và không chấp nhận tất cả’. Hai trường hợp bị trách như vậy, ‘… cho đến không tương tục, không khởi, không sanh.’

“Lại nữa, Hỏa chủng, thân có sắc gồm bốn đại thô kệch như vậy, Thánh đệ tử nên quán vô thường, quán sanh diệt, quán ly dục, quán diệt tận, quán xả. Nếu Thánh đệ tử sống mà luôn quán vô thường, quán sanh diệt, quán ly dục, quán diệt tận, quán xả, thì sống đối thân kia sự tham dục thuộc về thân, sự nhớ tưởng về thân, cảm thọ về thân, sự nhiễm về thân, sự đắm trước về thân vĩnh viễn diệt trừ không còn.

“Này Hỏa chủng, có ba thứ cảm thọ. Đó là khổ thọ, lạc thọ và bất khổ bất lạc thọ. Ba thứ cảm thọ này cần có nhân gì, tập gì, sanh gì, chuyển gì? Ba cảm thọ này cần có xúc là nhân, do xúc tập, xúc sanh, xúc chuyển. Mỗi mỗi xúc tập khởi, thọ tập khởi; mỗi mỗi xúc diệt tận, thọ diệt tận; vắng lặng, trong mát, vĩnh viễn hết sạch. Người kia đối với ba thọ này, biết rõ khổ, biết rõ lạc, biết rõ không khổ không lạc; biết như thật mỗi mỗi thọ hoặc tập khởi, hoặc diệt tận, hoặc vị ngọt, hoặc tai hại, hoặc xuất ly. Khi đã biết như thật rồi, đối những thọ ấy liền quán sát vô thường, quán sanh diệt, quán ly dục, quán diệt tận, quán xả bỏ. Người ấy ngay nơi toàn thân mình biết như thật các cảm thọ, nơi toàn phần sanh mạng mình biết như thật các cảm thọ. Nếu người ấy sau khi thân hoại, mạng chung, ngay lúc ấy các thọ hoàn toàn chấm dứt, không còn gì nữa. Bấy giờ, người ấy nghĩ rằng: ‘Lúc biết rõ cảm thọ lạc thì thân mình cũng hoại, lúc biết rõ cảm thọ khổ, thì thân mình cũng hoại, ngay lúc biết rõ cảm thọ chẳng lạc chẳng khổ, thì thân mình cũng hoại, thảy đều thoát khổ. Đối với cái cảm thọ lạc kia lìa ràng buộc, chẳng ràng buộc; đối với cái cảm thọ khổ kia lìa ràng buộc, chẳng ràng buộc; đối với cái cảm thọ chẳng lạc chẳng khổ kia, lìa ràng buộc, chẳng bị ràng buộc. Lìa ràng buộc gì? Lìa tham dục, sân nhuế, ngu si; lìa sanh, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ, não’. Ta nói những điều này gọi là lìa khổ.”

Vào lúc bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất vừa mới thọ giới cụ túc nửa tháng, Tôn giả đang cầm quạt đứng sau hầu Phật. Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất tự nghĩ: ‘Thế Tôn đã khen ngợi nói ở nơi pháp này, pháp kia mà đoạn dục, ly dục, diệt tận dục, xả dục.’ Tôn giả Xá-lợi-phất đối với từng pháp này quán sát vô thường, quán sanh diệt, quán ly dục, quán diệt tận, quán xả bỏ, không khởi các lậu, tâm được giải thoát.

Bấy giờ, xuất gia ngoại đạo Trường Trảo xa lìa trần cấu, đắc pháp nhãn tịnh. Ông thấy pháp, đắc pháp, giác ngộ pháp, thâm nhập pháp, thoát khỏi các nghi hoặc, không do người khác độ, vào trong Chánh pháp luật, được vô sở úy, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, đảnh lễ Phật và chắp tay bạch Phật:

“Con xin được xuất gia thọ giới cụ túc ở trong Chánh pháp luật, ở trong Phật pháp tu các phạm hạnh.”

Phật bảo xuất gia ngoại đạo Trường Trảo:

“Ông được xuất gia thọ cụ túc trở thành Tỳ-kheo, ở trong Chánh pháp luật.”

Được xuất gia trở thành thiện lai Tỳ-kheo. Ông suy nghĩ lý do người thiện nam cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không nhà… cho đến tâm thiện giải thoát đắc A-la-hán.

Phật nói kinh này xong, Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Trường Trảo nghe Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA970...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc