BJT 1634Lúc bấy giờ, tôi đã là người làm tràng hoa tên Sudassana. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu.
BJT 1635Tôi đã cầm lấy bông hoa nhài và đã cúng dường đến (đức Phật) Padumuttara. Có nhãn quan trong sạch, có thiện ý, tôi đã chứng đắc Thiên nhãn.
BJT 1636Do sự cúng dường bông hoa này và do các nguyện lực của tâm, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1637Trước đây ba mươi sáu kiếp, đã có mười sáu vị vua tên Devuttara là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1638Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Muṭṭhipupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Sudassanoti nāmena,
mālākāro ahaṁ tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
lokajeṭṭhaṁ narāsabhaṁ.
Jātipupphaṁ gahetvāna,
pūjayiṁ padumuttaraṁ;
Visuddhacakkhu sumano,
dibbacakkhuṁ samajjhagaṁ.
Etissā pupphapūjāya,
cittassa paṇidhīhi ca;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Soḷasāsiṁsu rājāno,
devuttarasanāmakā;
Chattiṁsamhi ito kappe,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā muṭṭhipupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Muṭṭhipupphiyattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.
Walt 1634 I was a garland-maker then
who was known as Sudassana.
I saw the Buddha, Stainless One,
the World’s Best One, the Bull of Men. Verse 1
Walt 1635 Picking up a jasmine flower,
happy and with my eyes most clear
I worshipped Padumuttara,
the Divine-Eyed-One who had come. Verse 2
Walt 1636 Because of that Buddha-pūjā
and the resolve in my own heart,
for one hundred thousand aeons
I came into no bad rebirth. Verse 3
Walt 1637 There were sixteen different kings then,
all were known as Devuttara,
wheel-turning monarchs with great strength,
in the thirty-sixth aeon hence. Verse 4
Walt 1638 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 5
Thus indeed Venerable Muṭṭhipupphiya Thera spoke these verses.
The legend of Muṭṭhipupphiya Thera is finished.
BJT 1634Lúc bấy giờ, tôi đã là người làm tràng hoa tên Sudassana. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, đấng Vô Nhiễm, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu.
BJT 1635Tôi đã cầm lấy bông hoa nhài và đã cúng dường đến (đức Phật) Padumuttara. Có nhãn quan trong sạch, có thiện ý, tôi đã chứng đắc Thiên nhãn.
BJT 1636Do sự cúng dường bông hoa này và do các nguyện lực của tâm, tôi đã không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.
BJT 1637Trước đây ba mươi sáu kiếp, đã có mười sáu vị vua tên Devuttara là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1638Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Muṭṭhipupphiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Sudassanoti nāmena,
mālākāro ahaṁ tadā;
Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
lokajeṭṭhaṁ narāsabhaṁ.
Jātipupphaṁ gahetvāna,
pūjayiṁ padumuttaraṁ;
Visuddhacakkhu sumano,
dibbacakkhuṁ samajjhagaṁ.
Etissā pupphapūjāya,
cittassa paṇidhīhi ca;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjahaṁ.
Soḷasāsiṁsu rājāno,
devuttarasanāmakā;
Chattiṁsamhi ito kappe,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā muṭṭhipupphiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Muṭṭhipupphiyattherassāpadānaṁ pañcamaṁ.