BJT 1646Đức Phật Padumuttara, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, bậc an tịnh như thế ấy đã ngồi xuống ở tấm thảm cỏ.
BJT 1647Sau khi cầm lấy tràng hoa sậy và buộc lại thành chiếc quạt, tôi đã dâng đến đức Phật, đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 1648Đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã thọ nhận chiếc quạt. Sau khi biết được ý định của tôi, Ngài đã nói lên lời kệ này:
BJT 1649“Giống như thân thể của Ta được mát mẻ, sự bực bội không được biết đến, tương tợ y như thế mong rằng tâm ngươi được giải thoát khỏi ba loại lửa.”
BJT 1650Tất cả chư Thiên là những vị sống nương tựa vào khu rừng đã hội tụ lại. Chúng tôi lắng nghe lời dạy của đức Phật là điều làm cho người thí chủ được hoan hỷ.
BJT 1651Ngồi xuống tại nơi ấy ở phía trước Hội Chúng tỳ khưu, đức Thế Tôn, trong lúc làm cho thí chủ được hoan hỷ, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1652“Do sự dâng cúng chiếc quạt này và do các nguyện lực của tâm, (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương có tên là Subbata.
BJT 1653Nhờ vào phần dư sót của nghiệp ấy, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương có tên là Māluta.
BJT 1654Do sự dâng cúng chiếc quạt này và do tính chất đầy đủ của việc tôn kính, (người này) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1655(Trước đây) ba mươi ngàn kiếp, ba mươi tám vị ấy tên là Subbata. (Trước đây) hai mươi chín ngàn kiếp, (đã có) tám vị tên là Māluta.
BJT 1656Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Naḷamāliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Padumuttarabuddhassa,
lokajeṭṭhassa tādino;
Tiṇatthare nisinnassa,
upasantassa tādino.
Naḷamālaṁ gahetvāna,
bandhitvā bījaniṁ ahaṁ;
Buddhassa upanāmesiṁ,
dvipadindassa tādino.
Paṭiggahetvā sabbaññū,
bījaniṁ lokanāyako;
Mama saṅkappamaññāya,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Yathā me kāyo nibbāti,
pariḷāho na vijjati;
Tatheva tividhaggīhi,
cittaṁ tava vimuccatu’.
Sabbe devā samāgacchuṁ,
ye keci vananissitā;
Sossāma buddhavacanaṁ,
hāsayantañca dāyakaṁ.
Nisinno bhagavā tattha,
devasaṅghapurakkhato;
Dāyakaṁ sampahaṁsento,
imā gāthā abhāsatha.
‘Iminā bījanidānena,
cittassa paṇidhīhi ca;
Subbato nāma nāmena,
cakkavattī bhavissati.
Tena kammāvasesena,
sukkamūlena codito;
Māluto nāma nāmena,
cakkavattī bhavissati’.
Iminā bījanidānena,
sammānavipulena ca;
Kappasatasahassampi,
duggatiṁ nupapajjati.
Tiṁsakappasahassamhi,
subbatā aṭṭhatiṁsa te;
Ekūnatiṁsasahasse,
aṭṭha mālutanāmakā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā naḷamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Naḷamāliyattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Sattamabhāṇavāraṁ.
Walt 1646-1647Taking up a garland of reeds
and binding it I then approached
Padumuttara, the Buddha,
the World’s Best One, the Neutral One,
the Tranquil One, the Neutral One,
who was seated in the grass then,
and there I fanned the Biped-Lord,
the Buddha, he, the Neutral One. Verse 1-2
Walt 1648 The Omniscient One received it,
then the World-Leader fanned himself.
Discerning what I was thinking,
he spoke this verse about me then: Verse 3
Walt 1649 “Just as this one cooled my body
he will not feel the scorch of hell;
just so your heart will be freed from
the three-fold fire of existence.” Verse 4
Walt 1650 All the gods gathered in a tree
whichever ones were then thinking,
“we’ll hear the words of the Buddha
which will cause the donor to laugh.” Verse 5
Walt 1651 Then, seated there, the Blessed One,
Honored by the Gods’ Assembly
bringing laughter to the donor
spoke these verses about me too: Verse 6
Walt 1652 “Because of this gift of fanning
and the resolve in his own heart,
he’ll become a wheel-turning king
known by the name of Subbata. Verse 7
Walt 1653 Through the remainder of that deed,
incited by his wholesome roots,
he’ll become a wheel-turning king
known by the name of Māluta. Verse 8
Walt 1654 Because of this gift of fanning
and his abundant honoring,
for one hundred thousand aeons
he’ll come to know no bad rebirth.” Verse 9
Walt 1655 In the thirty-thousandth aeon
there were eight kings named Subbata.
In the twenty-nine thousandth aeon
there were eight kings named Māluta. Verse 10
Walt 1656 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 11
Thus indeed Venerable Naḷamāliya Thera spoke these verses.
The legend of Naḷamāliya Thera is finished.
BJT 1646Đức Phật Padumuttara, đấng Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, bậc an tịnh như thế ấy đã ngồi xuống ở tấm thảm cỏ.
BJT 1647Sau khi cầm lấy tràng hoa sậy và buộc lại thành chiếc quạt, tôi đã dâng đến đức Phật, đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.
BJT 1648Đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã thọ nhận chiếc quạt. Sau khi biết được ý định của tôi, Ngài đã nói lên lời kệ này:
BJT 1649“Giống như thân thể của Ta được mát mẻ, sự bực bội không được biết đến, tương tợ y như thế mong rằng tâm ngươi được giải thoát khỏi ba loại lửa.”
BJT 1650Tất cả chư Thiên là những vị sống nương tựa vào khu rừng đã hội tụ lại. Chúng tôi lắng nghe lời dạy của đức Phật là điều làm cho người thí chủ được hoan hỷ.
BJT 1651Ngồi xuống tại nơi ấy ở phía trước Hội Chúng tỳ khưu, đức Thế Tôn, trong lúc làm cho thí chủ được hoan hỷ, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1652“Do sự dâng cúng chiếc quạt này và do các nguyện lực của tâm, (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương có tên là Subbata.
BJT 1653Nhờ vào phần dư sót của nghiệp ấy, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch, (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương có tên là Māluta.
BJT 1654Do sự dâng cúng chiếc quạt này và do tính chất đầy đủ của việc tôn kính, (người này) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1655(Trước đây) ba mươi ngàn kiếp, ba mươi tám vị ấy tên là Subbata. (Trước đây) hai mươi chín ngàn kiếp, (đã có) tám vị tên là Māluta.
BJT 1656Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Naḷamāliyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Padumuttarabuddhassa,
lokajeṭṭhassa tādino;
Tiṇatthare nisinnassa,
upasantassa tādino.
Naḷamālaṁ gahetvāna,
bandhitvā bījaniṁ ahaṁ;
Buddhassa upanāmesiṁ,
dvipadindassa tādino.
Paṭiggahetvā sabbaññū,
bījaniṁ lokanāyako;
Mama saṅkappamaññāya,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Yathā me kāyo nibbāti,
pariḷāho na vijjati;
Tatheva tividhaggīhi,
cittaṁ tava vimuccatu’.
Sabbe devā samāgacchuṁ,
ye keci vananissitā;
Sossāma buddhavacanaṁ,
hāsayantañca dāyakaṁ.
Nisinno bhagavā tattha,
devasaṅghapurakkhato;
Dāyakaṁ sampahaṁsento,
imā gāthā abhāsatha.
‘Iminā bījanidānena,
cittassa paṇidhīhi ca;
Subbato nāma nāmena,
cakkavattī bhavissati.
Tena kammāvasesena,
sukkamūlena codito;
Māluto nāma nāmena,
cakkavattī bhavissati’.
Iminā bījanidānena,
sammānavipulena ca;
Kappasatasahassampi,
duggatiṁ nupapajjati.
Tiṁsakappasahassamhi,
subbatā aṭṭhatiṁsa te;
Ekūnatiṁsasahasse,
aṭṭha mālutanāmakā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā naḷamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Naḷamāliyattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Sattamabhāṇavāraṁ.