BJT 1886Lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā. Và tôi đã có thức ăn là bông hoa, tương tợ như vậy có y phục là bông hoa.
BJT 1887Và đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã đi ra ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng, tợ như chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 1888“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Tâm của Ngài khéo được thanh tịnh. Ngài có khuôn mặt và ánh mắt an tịnh, có khuôn mặt và các giác quan trong sáng.”
BJT 1889Bậc Trí Tuệ có tuệ bao la đã từ bầu trời bước xuống. Ngài đã trải ra tấm y hai lớp rồi đã ngồi vào tư thế kiết già.
BJT 1890Tôi đã cầm lấy trầm hương hòa tan rồi đã đi đến gần đấng Chiến Thắng. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 1891Sau khi đảnh lễ đấng Toàn Giác, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tôi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 1892(Kể từ khi) tôi đã cúng dường trầm hương (trước đây) một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1893Trước đây một ngàn bốn trăm kiếp, ba vị (cùng) tên Rohita ấy đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1894Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Candanapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Candanapūjaka là phần thứ ba.
(Tụng phẩm thứ tám).
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnaro tadā;
Pupphabhakkho cahaṁ āsiṁ,
pupphānivasano tathā.
Atthadassī tu bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Vipinaggena niyyāsi,
haṁsarājāva ambare.
Namo te purisājañña,
cittaṁ te suvisodhitaṁ;
Pasannamukhavaṇṇosi,
vippasannamukhindriyo.
Orohitvāna ākāsā,
bhūripañño sumedhaso;
Saṅghāṭiṁ pattharitvāna,
pallaṅkena upāvisi.
Vilīnaṁ candanādāya,
agamāsiṁ jinantikaṁ;
Pasannacitto sumano,
buddhassa abhiropayiṁ.
Abhivādetvāna sambuddhaṁ,
lokajeṭṭhaṁ narāsabhaṁ;
Pāmojjaṁ janayitvāna,
pakkāmiṁ uttarāmukho.
Aṭṭhārase kappasate,
candanaṁ yaṁ apūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Catuddase kappasate,
ito āsiṁsu te tayo;
Rohaṇī nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā candanapūjanako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Candanapūjanakattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Aṭṭhamabhāṇavāraṁ.
Walt 1886 On Candabhāgā River’s bank,
I was a kinnara back then.
I lived on flowers as my food
and dressed in clothes made of flowers. Verse 1
Walt 1887 But Atthadassi, Blessed One,
the World’s Best One, the Bull of Men,
departed through the forest’s roof,
like a swan-king flies through the air. Verse 2
Walt 1888 “Praise to you, O Well-Bred Person;
your heart is so well-purified.
Your complexion shows your pleasure;
your face shows your senses are clear.” Verse 3
Walt 1889 The Wise One, Great Intelligence,
having descended from the sky,
and spreading out his upper robe
sat on it, legs crossed together. Verse 4
Walt 1890 Carrying some sandalwood oil,
I went to the Victor's presence.
Happy, with pleasure in my heart,
I gave that oil to the Buddha. Verse 5
Walt 1891 Having worshipped the Sambuddha,
the World’s Best One, the Bull of Men,
experiencing great delight,
I departed facing the north. Verse 6
Walt 1892 In the eighteen hundred aeons
since I did sandalwood-pūjā,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 7
Walt 1893 In the fourteenth aeon ago
there were three people who lived then,
all known by the name Rohiṇi,
wheel-turning kings with great power. Verse 8
Walt 1894 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Candanapūjaka Thera spoke these verses.
The legend of Candanapūjaka Thera is finished.
BJT 1886Lúc bấy giờ, tôi đã là loài kim-sỉ-điểu ở bờ sông Candabhāgā. Và tôi đã có thức ăn là bông hoa, tương tợ như vậy có y phục là bông hoa.
BJT 1887Và đức Thế Tôn Atthadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu đã đi ra ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng, tợ như chim thiên nga chúa ở trên bầu trời.
BJT 1888“Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Tâm của Ngài khéo được thanh tịnh. Ngài có khuôn mặt và ánh mắt an tịnh, có khuôn mặt và các giác quan trong sáng.”
BJT 1889Bậc Trí Tuệ có tuệ bao la đã từ bầu trời bước xuống. Ngài đã trải ra tấm y hai lớp rồi đã ngồi vào tư thế kiết già.
BJT 1890Tôi đã cầm lấy trầm hương hòa tan rồi đã đi đến gần đấng Chiến Thắng. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 1891Sau khi đảnh lễ đấng Toàn Giác, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, sau khi làm cho sanh khởi niềm hưng phấn, tôi đã ra đi, mặt hướng phía bắc.
BJT 1892(Kể từ khi) tôi đã cúng dường trầm hương (trước đây) một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1893Trước đây một ngàn bốn trăm kiếp, ba vị (cùng) tên Rohita ấy đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1894Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Candanapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Candanapūjaka là phần thứ ba.
(Tụng phẩm thứ tám).
“Candabhāgānadītīre,
ahosiṁ kinnaro tadā;
Pupphabhakkho cahaṁ āsiṁ,
pupphānivasano tathā.
Atthadassī tu bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Vipinaggena niyyāsi,
haṁsarājāva ambare.
Namo te purisājañña,
cittaṁ te suvisodhitaṁ;
Pasannamukhavaṇṇosi,
vippasannamukhindriyo.
Orohitvāna ākāsā,
bhūripañño sumedhaso;
Saṅghāṭiṁ pattharitvāna,
pallaṅkena upāvisi.
Vilīnaṁ candanādāya,
agamāsiṁ jinantikaṁ;
Pasannacitto sumano,
buddhassa abhiropayiṁ.
Abhivādetvāna sambuddhaṁ,
lokajeṭṭhaṁ narāsabhaṁ;
Pāmojjaṁ janayitvāna,
pakkāmiṁ uttarāmukho.
Aṭṭhārase kappasate,
candanaṁ yaṁ apūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Catuddase kappasate,
ito āsiṁsu te tayo;
Rohaṇī nāma nāmena,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā candanapūjanako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Candanapūjanakattherassāpadānaṁ tatiyaṁ.
Aṭṭhamabhāṇavāraṁ.