BJT 1895Là vị giảng huấn, gắn bó với sự hiến cúng, vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật tên Sunanda đã cúng hiến cho lễ hiến cúng.
BJT 1896Khi ấy, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, bậc Cao Cả, đấng Bi Mẫn, bậc Ẩn Sĩ, trong lúc thương tưởng dân chúng đã đi kinh hành ở trên không trung.
BJT 1897Sau khi đã đi kinh hành, bậc Toàn Giác, đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, vị không còn mầm mống tái sanh, đã lan tỏa bằng tâm từ ái đến các chúng sanh một cách không giới hạn.
BJT 1898Sau khi đã cắt các bông hoa ở cuống, vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật đã triệu tập lại tất cả các học trò rồi đã thảy (các bông hoa) lên không trung.
BJT 1899Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật, mái che của các bông hoa đã trải khắp cả thành phố và đã không biến mất trong bảy ngày.
BJT 1900Do nhờ nhân tố trong sạch ấy, tôi đã thọ hưởng sự thành đạt. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi đã vượt qua sự ràng buộc ở thế gian.
BJT 1901(Trước đây) 1100 kiếp, ba mươi lăm vị Sát-đế-lỵ có (cùng) tên Ambaraṁsa đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
xxxx. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pupphachadaniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pupphachadaniya là phần thứ tư.
“Sunando nāma nāmena,
brāhmaṇo mantapāragū;
Ajjhāyako yācayogo,
vājapeyyaṁ ayājayi.
Padumuttaro lokavidū,
aggo kāruṇiko isi;
Janataṁ anukampanto,
ambare caṅkamī tadā.
Caṅkamitvāna sambuddho,
sabbaññū lokanāyako;
Mettāya aphari satte,
appamāṇe nirūpadhi.
Vaṇṭe chetvāna pupphāni,
brāhmaṇo mantapāragū;
Sabbe sisse samānetvā,
ākāse ukkhipāpayi.
Yāvatā nagaraṁ āsi,
pupphānaṁ chadanaṁ tadā;
Buddhassa ānubhāvena,
sattāhaṁ na vigacchatha.
Teneva sukkamūlena,
anubhotvāna sampadā;
Sabbāsave pariññāya,
tiṇṇo loke visattikaṁ.
Ekārase kappasate,
pañcatiṁsāsu khattiyā;
Ambaraṁsasanāmā te,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pupphacchadaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pupphacchadaniyattherassāpadānaṁ catutthaṁ.
Walt 1895 The brahmin known as Sunanda
who was a master of the mantras,
a learned man, fit for begging,
sacrificed a vājapeyya. Verse 1
Walt 1896 Padumuttara, World-Knower,
the Top, Compassionate, the Sage,
having pity for the people,
walked back and forth across the sky. Verse 2
Walt 1897 Having walked thus the Sambuddha,
Omniscient One, the World-Leader,
Desireless One, with love for them,
then thrilled uncountable beings. Verse 3
Walt 1898 Breaking off a stem of flowers,
that brahmin master of mantras,
assembling all of his students ,
threw them right up into the sky. Verse 4
Walt 1899 There was a floral canopy
over the whole city then;
through the power of the Buddha,
they were there an entire week. Verse 5
Walt 1900 By means of just those wholesome roots,
experiencing happiness,
knowing well all the defilements,
I’ve crossed over worldly ties. Verse 6
Walt 1901 In the eleventh aeon hence
there were thirty-five different kings
known Ambaraṁsasama,
wheel-turning kings with great power. Verse 7
The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Pupphachadanīya Thera spoke these verses.
The legend of Pupphachadanīya Thera is finished.
BJT 1895Là vị giảng huấn, gắn bó với sự hiến cúng, vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật tên Sunanda đã cúng hiến cho lễ hiến cúng.
BJT 1896Khi ấy, đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, bậc Cao Cả, đấng Bi Mẫn, bậc Ẩn Sĩ, trong lúc thương tưởng dân chúng đã đi kinh hành ở trên không trung.
BJT 1897Sau khi đã đi kinh hành, bậc Toàn Giác, đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian, vị không còn mầm mống tái sanh, đã lan tỏa bằng tâm từ ái đến các chúng sanh một cách không giới hạn.
BJT 1898Sau khi đã cắt các bông hoa ở cuống, vị Bà-la-môn thông thạo về chú thuật đã triệu tập lại tất cả các học trò rồi đã thảy (các bông hoa) lên không trung.
BJT 1899Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật, mái che của các bông hoa đã trải khắp cả thành phố và đã không biến mất trong bảy ngày.
BJT 1900Do nhờ nhân tố trong sạch ấy, tôi đã thọ hưởng sự thành đạt. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi đã vượt qua sự ràng buộc ở thế gian.
BJT 1901(Trước đây) 1100 kiếp, ba mươi lăm vị Sát-đế-lỵ có (cùng) tên Ambaraṁsa đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
xxxx. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pupphachadaniyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pupphachadaniya là phần thứ tư.
“Sunando nāma nāmena,
brāhmaṇo mantapāragū;
Ajjhāyako yācayogo,
vājapeyyaṁ ayājayi.
Padumuttaro lokavidū,
aggo kāruṇiko isi;
Janataṁ anukampanto,
ambare caṅkamī tadā.
Caṅkamitvāna sambuddho,
sabbaññū lokanāyako;
Mettāya aphari satte,
appamāṇe nirūpadhi.
Vaṇṭe chetvāna pupphāni,
brāhmaṇo mantapāragū;
Sabbe sisse samānetvā,
ākāse ukkhipāpayi.
Yāvatā nagaraṁ āsi,
pupphānaṁ chadanaṁ tadā;
Buddhassa ānubhāvena,
sattāhaṁ na vigacchatha.
Teneva sukkamūlena,
anubhotvāna sampadā;
Sabbāsave pariññāya,
tiṇṇo loke visattikaṁ.
Ekārase kappasate,
pañcatiṁsāsu khattiyā;
Ambaraṁsasanāmā te,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pupphacchadaniyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pupphacchadaniyattherassāpadānaṁ catutthaṁ.