BJT 2984Ngôi bảo tháp của đức Thế Tôn Padumuttara, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, đã ngự ở trong khu rừng đông đúc thú dữ.
BJT 2985Không người nào đã dám đi đến để đảnh lễ ngôi bảo tháp. Bị bao phủ bởi cỏ, cây cối, và dây leo, ngôi bảo tháp đã bị sụp đổ.
BJT 2986Khi ấy, tôi đã là người thợ rừng theo nghề của cha và ông nội. Tôi đã nhìn thấy ngôi bảo tháp đổ nát, bị chằng chịt bởi cỏ và dây leo ở trong khu rừng.
BJT 2987Sau khi nhìn thấy ngôi bảo tháp của đức Phật, tôi đã thiết lập tâm cung kính rằng: “Đây là ngôi bảo tháp của đức Phật tối thượng, nó đã bị sụp đổ và còn tồn tại ở trong khu rừng.
BJT 2988Thật không đúng đắn, không hợp lẽ đối với người biết được điều phải quấy! Ta hãy dọn sạch ngôi bảo tháp của đức Phật rồi hãy chăm lo công việc khác.”
BJT 2989Sau khi dọn sạch cỏ, cây cối, và dây leo ở ngôi bảo tháp, tôi đã đảnh lễ tám lượt rồi đã cúi mình ra đi.
BJT 2990Do việc làm ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại, tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 2991Tại nơi ấy, có cung điện bằng vàng vô cùng rực rỡ đã được kiến tạo khéo léo dành cho tôi, có chiều cao là sáu mươi do-tuần, chiều rộng ba mươi do-tuần.
BJT 2992Tôi đã cai quản Thiên quốc ba trăm lượt. Và tôi đã là đấng Chuyển Luân Vương hai mươi lăm lần.
BJT 2993Trong khi luân hồi ở cõi này cõi khác, tôi đạt được của cải lớn lao, tôi không có sự thiếu hụt về của cải; điều này là quả báu của việc dọn sạch (ngôi bảo tháp).
BJT 2994Khi tôi đang di chuyển bằng kiệu khiêng, bằng lưng voi ở trong khu rừng, bất cứ hướng nào tôi đi đến, khu rừng đều có sự trợ giúp đến tôi.
BJT 2995Được gắn liền với nghiệp phước thiện, gốc cây hoặc thậm chí gai nhọn mà tôi không nhìn thấy bằng mắt, tự chính chúng được dời đi.
BJT 2996Và bệnh cùi, nhọt, chàm, động kinh, ghẻ, lở, ngứa không xảy đến cho tôi; điều này là quả báu của việc dọn sạch (ngôi bảo tháp).
BJT 2997Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tôi không biết đến khối u mọc lên ở cơ thể của tôi.
BJT 2998Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tôi luân hồi ở hai cõi, ở bản thể Thiên nhân và loài người.
BJT 2999Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tôi có màu da vàng chói, có sự phát ra ánh sáng ở khắp mọi nơi.
BJT 3000Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là sự khó chịu biến mất và sự khoan khoái hiện hữu.
BJT 3001Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là tâm tôi được trong sạch, có sự chăm chú, khéo được định tĩnh.
BJT 3002Còn có điều phi thường khác nữa cho tôi khi ngôi bảo tháp đã được dọn sạch là sau khi ngồi ở ngay chỗ ngồi ấy tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 3003Kể từ khi tôi đã thực hiện việc làm ấy trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc làm sạch sẽ.
BJT 3004Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pabhaṅkara đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Padumuttarabhagavato,
lokajeṭṭhassa tādino;
Vipine cetiyaṁ āsi,
vāḷamigasamākule.
Na koci visahi gantuṁ,
cetiyaṁ abhivandituṁ;
Tiṇakaṭṭhalatonaddhaṁ,
paluggaṁ āsi cetiyaṁ.
Vanakammiko tadā āsiṁ,
pitumātumatenahaṁ;
Addasaṁ vipine thūpaṁ,
luggaṁ tiṇalatākulaṁ.
Disvānāhaṁ buddhathūpaṁ,
garucittaṁ upaṭṭhahiṁ;
Buddhaseṭṭhassa thūpoyaṁ,
paluggo acchatī vane.
Nacchannaṁ nappatirūpaṁ,
jānantassa guṇāguṇaṁ;
Buddhathūpaṁ asodhetvā,
aññaṁ kammaṁ payojaye.
Tiṇakaṭṭhañca valliñca,
sodhayitvāna cetiye;
Vanditvā aṭṭha vārāni,
paṭikuṭiko agacchahaṁ.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Tattha me sukataṁ byamhaṁ,
sovaṇṇaṁ sapabhassaraṁ;
Saṭṭhiyojanamubbiddhaṁ,
tiṁsayojanavitthataṁ.
Tisatāni ca vārāni,
devarajjamakārayiṁ;
Pañcavīsatikkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ.
Bhavābhave saṁsaranto,
mahābhogaṁ labhāmahaṁ;
Bhoge me ūnatā natthi,
sodhanāya idaṁ phalaṁ.
Sivikā hatthikhandhena,
vipine gacchato mama;
Yaṁ yaṁ disāhaṁ gacchāmi,
saraṇaṁ sampate vanaṁ.
Khāṇuṁ vā kaṇṭakaṁ vāpi,
nāhaṁ passāmi cakkhunā;
Puññakammena saṁyutto,
sayamevāpanīyare.
Kuṭṭhaṁ gaṇḍo kilāso ca,
apamāro vitacchikā;
Daddu kacchu ca me natthi,
sodhanāya idaṁ phalaṁ.
Aññampi me acchariyaṁ,
buddhathūpassa sodhane;
Nābhijānāmi me kāye,
jātaṁ piḷakabindukaṁ.
Aññampi me acchariyaṁ,
buddhathūpamhi sodhite;
Duve bhave saṁsarāmi,
devatte atha mānuse.
Aññampi me acchariyaṁ,
buddhathūpamhi sodhite;
Suvaṇṇavaṇṇo sabbattha,
sappabhāso bhavāmahaṁ.
Aññampi me acchariyaṁ,
buddhathūpamhi sodhite;
Amanāpaṁ vivajjati,
manāpaṁ upatiṭṭhati.
Aññampi me acchariyaṁ,
buddhathūpamhi sodhite;
Visuddhaṁ hoti me cittaṁ,
ekaggaṁ susamāhitaṁ.
Aññampi me acchariyaṁ,
buddhathūpamhi sodhite;
Ekāsane nisīditvā,
arahattamapāpuṇiṁ.
Satasahassito kappe,
yaṁ kammamakariṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
sodhanāya idaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pabhaṅkaro thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pabhaṅkarattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.
Walt 2984 In deep forest which was crowded
with wild beasts there was a stupa
of Blessed Padumuttara,
the World’s Best One, the Neutral One. Verse 1
Walt 2985 Nobody dared to travel there
to pay homage to the stupa.
The stupa was broken, in ruins,
covered in grasses, sticks and vines. Verse 2
Walt 2986 I was then a forest-worker,
as were father and grandfathers.
I saw that stupa in the woods,
broken, tangled in grass and vines. Verse 3
Walt 2987-2988Having seen the Buddha’s stupa,
I served it with a reverent heart:
“the Best Buddha’s stupa, broken,
is abandoned in the forest.
It’s not meet, not appropriate
for one who can tell right from wrong.
But I engage in other work,
not cleaning the Buddha’s stupa.” Verse 4-5
Walt 2989 Cleaning off the grasses and sticks
and vines growing on the stupa,
after worshipping it eight times,
still bent over I then went off. Verse 6
Walt 2990 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 7
Walt 2991 There my well-constructed mansion
was made of gold, brightly shining.
It rose up sixty leagues in height
and it was thirty leagues in width. Verse 8
Walt 2992 And thirty different times did I
exercise rule over the gods.
And five and twenty times was I
a wheel-turning king with great strength. Verse 9
Walt 2993 Transmigrating from birth to birth,
I’m receiving great possessions.
Possessions never lack for me:
that’s the fruit of cleaning stupas. Verse 10
Walt 2994 When I’m going in the forest,
seated on an elephant’s back,
whichever direction I go,
the forest provides me refuge. Verse 11
Walt 2995 I do not see with my two eyes
any tree-stump or thorn at all.
In accordance with my karma,
it gets removed all by itself. Verse 12
Walt 2996 I do not get the itch, ringworm,
rashes, abscesses, leprosy,
epilepsy and scabies too:
that’s the fruit of cleaning stupas. Verse 13
Walt 2997 Another miracle for me:
after I had cleaned the stupa,
I was not conscious of pimples
or spots produced on my body. Verse 14
Walt 2998 Another miracle for me:
after I had cleaned the stupa,
I transmigrate in just two states:
that of a god, or of a man. Verse 15
Walt 2999 Another miracle for me:
after I had cleaned the stupa,
every place where I am living
is gold-colored and very bright. Verse 16
Walt 3000 Another miracle for me:
after I had cleaned the stupa,
displeasing things are avoided,
and things which are pleasing appear. Verse 17
Walt 3001 Another miracle for me:
after I had cleaned the stupa,
my mind is always very pure,
one-pointed, very attentive. Verse 18
Walt 3002 Another miracle for me:
after I had cleaned the stupa,
seated in a single sitting,
I achieved the arahant-state. Verse 19
Walt 3003 In the hundred thousand aeons
since I did that good karma then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of cleaning stupas. Verse 20
Walt 3004 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 21
Thus indeed Venerable Pabhaṅkara Thera spoke these verses.
The legend of Pabhaṅkara Thera is finished.