BJT 3326Vào thời kỳ Giáo Pháp của (đức Phật) Vipassī, một hang động đã được tôi xây dựng dành cho Hội Chúng bốn phương ở tại kinh thành Bandhumā.
BJT 3327Sau khi trải lót nền đất của hang động bằng các tấm vải, tôi đã cống hiến. Với tâm phấn chấn, với ý vui mừng, khi ấy tôi đã thực hiện lời ước nguyện rằng:
BJT 3328“Mong rằng tôi có thể làm hài lòng bậc Toàn Giác, có thể đạt được sự xuất gia, và có thể đạt đến sự an tịnh tối thượng, Niết Bàn vô thượng.”
BJT 3329Do nhờ chính nhân tố trong sạch ấy, tôi đã luân hồi chín mươi kiếp. Dầu trở thành vị Thiên nhân hay là loài người, tôi đã chói sáng, là người có phước báu đã được tạo lập (trước đây).
BJT 3330Sau đó, nhờ vào phần dư sót của nghiệp, tại đây trong kiếp sống cuối cùng, tôi đã được sanh làm người con trai độc nhất của nhà bá hộ cao cả ở tại Campā.
BJT 3331Ngay khi tôi vừa được sanh ra, nghe tin người cha đã khởi ước muốn này: “Ta ban cho công tử hai chục koṭi (hai trăm triệu) tiền, không thiếu đồng nào.”
BJT 3332Các sợi lông của tôi, dài bốn ngón tay, được mọc lên ở cả hai lòng bàn chân. Chúng là mảnh mai, có sự xúc chạm mềm mại, xinh xắn như là bông vải.
BJT 3333Chín mươi kiếp đã trôi qua, kiếp này là thêm một kiếp nữa, tôi không biết đến việc các bàn chân được đặt xuống ở mặt đất không có trải lót.
BJT 3334Tôi đã làm hài lòng bậc Toàn Giác, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Và phẩm vị A-la-hán đã được tôi đạt đến. Tôi có được trạng thái mát mẻ, chứng được Niết Bàn.
BJT 3335Đấng Toàn Tri đã xác định tôi là người đứng đầu trong số các vị đã ra sức tinh tấn, và có lậu hoặc đã được đoạn tận, là bậc A-la-hán, có sáu thắng trí, có đại thần lực.
BJT 3336Kể từ khi tôi đã dâng cúng vật thí trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng hang động.
BJT 3337Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật vào thời hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 3338Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 3339Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 3340Tại hồ nước lớn Anotatta, ở trước Hội Chúng tỳ khưu, bậc trưởng lão Soṇa Koṭivisa khi được hỏi câu hỏi đã trả lời.
Đại đức trưởng lão Soṇa Koṭivisa đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Vipassino pāvacane,
ekaṁ leṇaṁ mayā kataṁ;
Cātuddisassa saṅghassa,
bandhumārājadhāniyā.
Dussehi bhūmiṁ leṇassa,
santharitvā pariccajiṁ;
Udaggacitto sumano,
akāsiṁ paṇidhiṁ tadā.
Ārādhayeyyaṁ sambuddhaṁ,
pabbajjañca labheyyahaṁ;
Anuttarañca nibbānaṁ,
phuseyyaṁ santimuttamaṁ.
Teneva sukkamūlena,
kappe navuti saṁsariṁ;
Devabhūto manusso ca,
katapuñño virocahaṁ.
Tato kammāvasesena,
idha pacchimake bhave;
Campāyaṁ aggaseṭṭhissa,
jātomhi ekaputtako.
Jātamattassa me sutvā,
pitu chando ayaṁ ahu;
Dadāmahaṁ kumārassa,
vīsakoṭī anūnakā.
Caturaṅgulā ca me lomā,
jātā pādatale ubho;
Sukhumā mudusamphassā,
tūlāpicusamā subhā.
Atītā navuti kappā,
ayaṁ eko ca uttari;
Nābhijānāmi nikkhitte,
pāde bhūmyā asanthate.
Ārādhito me sambuddho,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Arahattañca me pattaṁ,
sītibhūtomhi nibbuto.
Aggo āraddhavīriyānaṁ,
niddiṭṭho sabbadassinā;
Khīṇāsavomhi arahā,
chaḷabhiñño mahiddhiko.
Ekanavutito kappe,
yaṁ dānamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
leṇadānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Thero koṭivīso soṇo,
bhikkhusaṅghassa aggato;
Pañhaṁ puṭṭho viyākāsi,
anotatte mahāsareti.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā soṇo koṭivīso thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Soṇakoṭivīsattherassāpadānaṁ navamaṁ.
Walt 3326 When Vipassi’s dispensation
arose, I made a single cave
in Bandhumā, royal city,
for the monks in four directions. Verse 1
Walt 3327 Covering the floor of the cave
with rugs, I dedicated it.
Happy, with rapture in my heart,
I then made this aspiration: Verse 2
Walt 3328 “Were I to please a Sambuddha
and to get to renounce the world,
I should attain ultimate peace
and the unexcelled nirvana.” Verse 3
Walt 3329 Just because of those good roots,
transmigrating ninety aeons,
born as a god or else a man,
I shined, a doer of merit. Verse 4
Walt 3330 As the remainder of that deed,
here in this final existence,
I was born as the only son
of Campa’s foremost millionaire. Verse 5
Walt 3331 Having heard that I had been born,
this was the wish of my father:
“I am giving to this young boy
an entire two hundred million.” Verse 6
Walt 3332 Hair four fingers wide was produced
on the soles of both of my feet.
It was fine and soft to the touch,
beautiful, just like cotton wool. Verse 7
Walt 3333 In the past for ninety aeons,
and this aeon one more than that,
I’ve not come to know my feet placed
on any ground that lacks a rug. Verse 8
Walt 3334 The Sambuddha was pleased by me;
I went forth into homelessness.
I have attained arahantship;
cooled off, I am in nirvana. Verse 9
Walt 3335 Appointed by the All-Seer
“foremost among resolute monks,”
I’m undefiled, an arahant,
six knowledge-holder, powerful. Verse 10
Walt 3336 In the ninety-one aeons since
I gave the Buddha that gift then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving a cave. Verse 11
Walt 3337 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 12
Walt 3338 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 13
Walt 3339 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 14
Walt 3340 Soṇa Koṭivisa Thera
in front of the monks’ Assembly,
being asked questions then answered
on the great Lake Anotatta.
Thus indeed Venerable Soṇakoṭivīsa Thera spoke these verses.
The legend of Soṇakoṭivīsa Thera is finished.