BJT 4936Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.
BJT 4937Sau khi cầm lấy tràng hoa sậy và ngay trong khi đang đi ra, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng lũ, vị không còn lậu hoặc ở tại nơi ấy.
BJT 4938Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cúng dường tràng hoa sậy đến đấng Đại Hùng, bậc xứng đáng cúng dường, vị có lòng thương tưởng đến tất cả thế gian.
BJT 4939(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4940Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4941Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4942Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Naḷamāliya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Naḷamāliya là phần thứ nhất.
“Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Āhutīnaṁ paṭiggahaṁ;
Vipinaggena gacchantaṁ,
Addasaṁ lokanāyakaṁ.
Naḷamālaṁ gahetvāna,
nikkhamanto ca tāvade;
Tatthaddasāsiṁ sambuddhaṁ,
oghatiṇṇamanāsavaṁ.
Pasannacitto sumano,
naḷamālamapūjayiṁ;
Dakkhiṇeyyaṁ mahāvīraṁ,
sabbalokānukampakaṁ.
Ekatiṁse ito kappe,
yaṁ mālamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṁ chetvā,
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā naḷamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Naḷamāliyattherassāpadānaṁ paṭhamaṁ.
Walt 4936 I saw the Leader of the World,
the Golden-Colored Sambuddha,
Sacrificial Recipient,
flying along the forest top. Verse 1
Walt 4937 Having taken a reed-flower,
I am setting out all the time.
There I saw him, the Sambuddha,
the Flood-Crosser, Undefiled One. Verse 2
Walt 4938 Happy, with pleasure in my heart,
I offered that reed-flower to
the Great Hero, Worthy of Gifts,
the Pitier of the Whole World. Verse 3
Walt 4939 In the thirty-one aeons since
I presented him that flower,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 4
Walt 4940 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 5
Walt 4941 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Walt 4942 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Thus indeed Venerable Naḷamāliya Thera spoke these verses.
The legend of Naḷamāliya Thera is finished.
BJT 4936Tôi đã nhìn thấy bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.
BJT 4937Sau khi cầm lấy tràng hoa sậy và ngay trong khi đang đi ra, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác, bậc đã vượt qua dòng lũ, vị không còn lậu hoặc ở tại nơi ấy.
BJT 4938Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã cúng dường tràng hoa sậy đến đấng Đại Hùng, bậc xứng đáng cúng dường, vị có lòng thương tưởng đến tất cả thế gian.
BJT 4939(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 4940Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4941Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4942Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Naḷamāliya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Naḷamāliya là phần thứ nhất.
“Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Āhutīnaṁ paṭiggahaṁ;
Vipinaggena gacchantaṁ,
Addasaṁ lokanāyakaṁ.
Naḷamālaṁ gahetvāna,
nikkhamanto ca tāvade;
Tatthaddasāsiṁ sambuddhaṁ,
oghatiṇṇamanāsavaṁ.
Pasannacitto sumano,
naḷamālamapūjayiṁ;
Dakkhiṇeyyaṁ mahāvīraṁ,
sabbalokānukampakaṁ.
Ekatiṁse ito kappe,
yaṁ mālamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Nāgova bandhanaṁ chetvā,
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
mama buddhassa santike;
Tisso vijjā anuppattā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā naḷamāliyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Naḷamāliyattherassāpadānaṁ paṭhamaṁ.