BJT 5841Trước đây một trăm ngàn kiếp đã hiện khởi đấng Lãnh Đạo tên Padumuttara là vị có hào quang chói lọi, đứng đầu tam giới.
BJT 5842Tôi đã lắng nghe đấng Hiền Trí đang tán dương đức hạnh của vị tỳ khưu có thắng trí nhạy bén. Với tâm phấn chấn tôi đã thể hiện sự tôn kính đến bậc Đại Ẩn Sĩ.
BJT 5843Lúc bấy giờ, sau khi dâng cúng vật thí đến bậc Hiền Trí cùng các đệ tử trong bảy ngày, tôi đã đảnh lễ bậc Toàn Giác và đã phát nguyện vị thế ấy.
BJT 5844Do đó, đức Phật đã chú nguyện cho tôi rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem người Bà-la-môn này đã quỳ xuống cạnh bàn chân của Ta với ánh mắt và khuôn mặt được tịnh tín.
BJT 5845Có làn da mỏng manh màu trắng, có thân hình được mang sợi dây quàng vai vàng chói, có môi đỏ như là trái bimba được treo lơ lửng, có răng màu trắng sắc bén.
BJT 5846(Người này) có dồi dào năng lực về đức hạnh, có thân hình vươn cao, là nguồn nước về các hạnh lành, có khuôn mặt nở rộ niềm phỉ lạc.
BJT 5847Người này phát nguyện vị thế của vị tỳ khưu có thắng trí nhạy bén. Trong ngày vị lai sẽ có bậc Đại Hùng tên là Gotama.
BJT 5848(Người này) sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư, là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, có tên là Bāhiya.”
BJT 5849Khi ấy, vô cùng hớn hở tôi đã đứng dậy. Tôi đã thể hiện sự tôn kính đến bậc Đại Hiền Trí đến hết cuộc đời. Mệnh chung, tôi đã đi đến cõi trời như là (đi đến) nhà của chính mình.
BJT 5850Dầu trở thành vị Thiên nhân hay là nhân loại, do nhờ tác động của nghiệp ấy tôi được sung sướng. Tôi đã luân hồi và đã thọ hưởng sự thành đạt.
BJT 5851Lần khác nữa, trong khi Giáo Pháp của đấng Anh Hùng Kassapa đang đi đến hoại diệt, (bảy vị chúng tôi) đã leo lên đỉnh ngọn núi và đã gắn bó vào lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5852Là những người thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng, có giới trong sạch, có trí tuệ, mệnh chung từ nơi ấy năm người chúng tôi đã đi đến thế giới của chư Thiên.
BJT 5853Sau đó, Bāhiya tôi đã được sanh ra ở kinh thành Bhārukaccha. Từ nơi ấy, tôi dùng thuyền lao vào khu vực biển cả ít có sự an toàn.
BJT 5854Do đó, sau khi ra đi một vài ngày chiếc thuyền đã bị vỡ tan. Khi ấy, tôi đã rơi vào khu vực có cá dữ, khủng khiếp, gây ra sự kinh hoàng.
BJT 5855Khi ấy, tôi đã ra sức và đã tự vượt qua được đại dương. Tôi đã đến được bến tàu Suppāra quý báu, lờ đờ, run lẩy bẩy.
BJT 5856Tôi đã khoác lên y phục vỏ cây và đã đi vào làng để khất thực. Khi ấy, dân chúng ấy đã hớn hở nói rằng: “Vị A-la-hán này đã ngự đến nơi đây.
BJT 5857Sau khi hậu đãi người này với cơm ăn, nước uống, vải vóc, giường nằm, và thuốc men chữa bệnh, chúng ta sẽ được an lạc.”
BJT 5858Khi ấy, được họ tôn kính và cúng dường, tôi đã có được lợi lộc về các vật dụng cần thiết. Tôi đã khiến họ có sự suy nghĩ một cách không đúng đắn rằng: “Tôi là vị A-la-hán.”
BJT 5859Vì thế, sau khi biết được tâm của tôi, vị Thiên nhân (trong số bảy vị) trước đây đã quở trách rằng: “Ngươi không biết phương pháp và đường lối, làm sao ngươi có thể trở thành bậc A-la-hán?”
BJT 5860Bị quở trách bởi vị ấy, bị chấn động, khi ấy tôi đã hỏi rằng: “Các bậc tối thượng nhân A-la-hán ở trên đời là những ai? Các vị này ở đâu?”
BJT 5861“Ở tại Sāvatthī là cung điện của xứ Kosala, có đấng Chiến Thắng là bậc có trí tuệ dồi dào, có sự sáng suốt bao la cao quý. Là người con trai dòng Sakya, là bậc A-la-hán, không còn lậu hoặc, Ngài thuyết giảng Giáo Pháp đưa đến sự thành tựu phẩm vị A-la-hán.”
BJT 5862Lúc bấy giờ, sau khi lắng nghe lời nói của vị này, tôi vô cùng sung sướng, và sửng sốt tợ như người ăn xin đã đạt được của chôn giấu. Tôi đã có tâm phấn chấn để được yết kiến bậc A-la-hán tối thượng, có hình dáng tốt đẹp, có hành xứ không giới hạn.
BJT 5863Lúc bấy giờ, tôi đã rời khỏi nơi ấy (nghĩ rằng): “Khi nào tôi (sẽ) nhìn thấy đấng Chiến Thắng, con người cao quý, bậc có khuôn mặt không vết bẩn?” Tôi đã đi đến khu rừng đáng yêu tên Vijita và đã hỏi những người Bà-la-môn rằng: “Bậc đem lại niềm hân hoan cho thế gian ở nơi đâu?”
BJT 5864Do đó, họ đã nói rằng: “Bậc được tôn vinh bởi chư Thiên và nhân loại đã đi vào thành phố với ý định tìm kiếm vật thực. Nếu mong mỏi diện kiến bậc Hiền Trí, ngươi hãy mau mau đi đến và hãy lễ bái nhân vật cao cả ấy.”
BJT 5865Do đó, tôi đã mau chóng đi đến kinh thành Sāvatthī. Tôi đã nhìn thấy Ngài đang đi đó đây vì mục đích vật thực, không thèm khát, không ham hố.
BJT 5866Có bình bát ở tay, mắt không ước vọng, như là đang phân phát sự Bất Tử, có khuôn mặt mang vẻ sáng lạn của mặt trời, tợ như chỗ ngụ của điều may mắn.
BJT 5867Tôi đã đi đển gặp Ngài và đã nói lời nói này: “Bạch đấng Gotama, xin Ngài hãy là chốn nương nhờ cho kẻ đã bị lầm lạc vào con đường sai trái.”
BJT 5868Bậc Hiền Trí tối thượng đã nói rằng: “Ta đang đi loanh quanh để khất thực nhằm mục đích tế độ chúng sanh, không phải là lúc thuyết Pháp cho ngươi.”
BJT 5869Khi ấy, khát khao về Giáo Pháp tôi đã liên tục cầu xin đức Phật. Ngài đã thuyết giảng cho tôi Giáo Pháp thâm sâu về đường lối của Không tánh.
BJT 5870Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đã thành tựu sự đoạn tận các lậu hoặc. Tôi là người có tuổi thọ đã tận cùng. Ôi bậc Đạo Sư quả là đấng có lòng thương xót!
BJT 5871Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5872Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5873Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
BJT 5874Vị trưởng lão Bāhiya Dārucīriya đã giải thích như thế. Vị ấy đã bị té ngã vào đống rác bởi con bò cái đã bị quỷ nhập vào.
BJT 5875Bậc đại trí đã thuật lại cuộc sống trước đây của bản thân. Vị anh hùng ấy đã Viên Tịch Niết Bàn tại kinh thành Sāvatthī.
BJT 5876Bậc Ẩn Sĩ tối thượng, trong khi đi ra khỏi thành phố, đã nhìn thấy vị Bāhiya trí tuệ ấy mặc y phục vỏ cây có sự tái sanh đã xa lìa.
BJT 5877Tợ như ngọn cờ của đức vua đã bị đổ xuống, bậc đã được rèn luyện bị ngã ở trên đất, có tuổi thọ đã hết, có phiền não đã lìa, đã là vị thực hành lời dạy của đấng Chiến Thắng.
BJT 5878Do đó, bậc Đạo Sư đã bảo các vị Thinh Văn nhiệt tình với Giáo Pháp rằng: “Các người hãy khiêng lên, đưa đi, rồi hỏa thiêu thi thể của bậc Phạm hạnh.
BJT 5879Các người hãy xây dựng ngôi bảo tháp. Vị đại trí ấy đã Niết Bàn. Vị này là vị Thinh Văn đứng đầu trong số các vị có thắng trí nhạy bén, là người thực hành theo lời dạy của Ta.”
BJT 5880Nếu một ngàn câu kệ chỉ chứa đựng những từ vô ý nghĩa, một (phần tư) câu kệ vẫn là tốt hơn (nếu) người đã nghe điều ấy được an tịnh.
BJT 5881Nơi nào nước, đất, lửa, và gió không trụ vững, nơi ấy đạo đức không chiếu sáng, mặt trời không rực sáng, nơi ấy không có mặt trăng tỏa sáng, nơi ấy bóng tối không được biết đến.
BJT 5882Và khi nào vị Bà-la-môn hiền trí đã tự thân biết được với sự sáng suốt, thì được giải thoát khỏi sắc, khỏi vô sắc, khỏi lạc, và khỏi khổ,” đấng Bảo Hộ, bậc Hiền Trí, đấng Nương Nhờ của tam giới đã nói như thế.
Đại đức trưởng lão Bāhiya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Bāhiya là phần thứ sáu.
“Ito satasahassamhi,
kappe uppajji nāyako;
Mahappabho tilokaggo,
nāmena padumuttaro.
Khippābhiññassa bhikkhussa,
guṇaṁ kittayato mune;
Sutvā udaggacittohaṁ,
kāraṁ katvā mahesino.
Datvā sattāhikaṁ dānaṁ,
sasissassa mune ahaṁ;
Abhivādiya sambuddhaṁ,
taṁ ṭhānaṁ patthayiṁ tadā.
Tato maṁ byākari buddho,
‘etaṁ passatha brāhmaṇaṁ;
Patitaṁ pādamūle me,
cariyaṁ paccavekkhaṇaṁ.
Hemayaññopacitaṅgaṁ,
avadātatanuttacaṁ;
Palambabimbatamboṭṭhaṁ,
setatiṇhasamaṁ dijaṁ.
Guṇathāmabahutaraṁ,
samuggatatanūruhaṁ;
Guṇoghāyatanībhūtaṁ,
pītisamphullitānanaṁ.
Eso patthayate ṭhānaṁ,
khippābhiññassa bhikkhuno;
Anāgate mahāvīro,
gotamo nāma hessati.
Tassa dhammesu dāyādo,
oraso dhammanimmito;
Bāhiyo nāma nāmena,
hessati satthu sāvako’.
Tadā hi tuṭṭho vuṭṭhāya,
yāvajīvaṁ mahāmune;
Kāraṁ katvā cuto saggaṁ,
agaṁ sabhavanaṁ yathā.
Devabhūto manusso vā,
sukhito tassa kammuno;
Vāhasā saṁsaritvāna,
sampattimanubhomahaṁ.
Puna kassapavīrassa,
atthamentamhi sāsane;
Āruyha selasikharaṁ,
yuñjitvā jinasāsanaṁ.
Visuddhasīlo sappañño,
jinasāsanakārako;
Tato cutā pañca janā,
devalokaṁ agamhase.
Tatohaṁ bāhiyo jāto,
bhārukacche puruttame;
Tato nāvāya pakkhando,
sāgaraṁ appasiddhiyaṁ.
Tato nāvā abhijjittha,
gantvāna katipāhakaṁ;
Tadā bhīsanake ghore,
patito makarākare.
Tadāhaṁ vāyamitvāna,
santaritvā mahodadhiṁ;
Suppārapaṭṭanavaraṁ,
sampatto mandavedhito.
Dārucīraṁ nivāsetvā,
gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ;
Tadāha so jano tuṭṭho,
‘arahāyamidhāgato.
Imaṁ annena pānena,
vatthena sayanena ca;
Bhesajjena ca sakkatvā,
hessāma sukhitā mayaṁ’.
Paccayānaṁ tadā lābhī,
tehi sakkatapūjito;
Arahāhanti saṅkappaṁ,
uppādesiṁ ayoniso.
Tato me cittamaññāya,
codayī pubbadevatā;
‘Na tvaṁ upāyamaggaññū,
kuto tvaṁ arahā bhave’.
Codito tāya saṁviggo,
tadāhaṁ paripucchi taṁ;
‘Ke vā ete kuhiṁ loke,
arahanto naruttamā’.
‘Sāvatthiyaṁ kosalamandire jino,
Pahūtapañño varabhūrimedhaso;
So sakyaputto arahā anāsavo,
Deseti dhammaṁ arahattapattiyā’.
Tadassa sutvā vacanaṁ supīṇito,
Nidhiṁva laddhā kapaṇoti vimhito;
Udaggacitto arahattamuttamaṁ,
Sudassanaṁ daṭṭhumanantagocaraṁ.
Tadā tato nikkhamitvāna ‘satthuno,
Sadā jinaṁ passāmi vimalānanaṁ’;
Upecca rammaṁ vijitavhayaṁ vanaṁ,
Dije apucchiṁ ‘kuhiṁ lokanandano’.
‘Tato avocuṁ naradevavandito,
Puraṁ paviṭṭho asanesanāya so;
Sasova khippaṁ munidassanussuko,
Upecca vandāhi tamaggapuggalaṁ’.
Tatohaṁ tuvaṭaṁ gantvā,
sāvatthiṁ puramuttamaṁ;
Vicarantaṁ tamaddakkhiṁ,
piṇḍatthaṁ apihāgidhaṁ.
Pattapāṇiṁ alolakkhaṁ,
pācayantaṁ pītākaraṁ;
Sirīnilayasaṅkāsaṁ,
ravidittiharānanaṁ.
Taṁ samecca nipaccāhaṁ,
idaṁ vacanamabraviṁ;
‘Kupathe vippanaṭṭhassa,
saraṇaṁ hohi gotama’.
‘Pāṇasantāraṇatthāya,
piṇḍāya vicarāmahaṁ;
Na te dhammakathākālo’,
iccāha munisattamo.
Tadā punappunaṁ buddhaṁ,
āyāciṁ dhammalālaso;
Yo me dhammamadesesi,
gambhīraṁ suññataṁ padaṁ.
Tassa dhammaṁ suṇitvāna,
pāpuṇiṁ āsavakkhayaṁ;
Parikkhīṇāyuko santo,
aho satthānukampako.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Evaṁ thero viyākāsi,
bāhiyo dārucīriyo;
Saṅkārakūṭe patito,
bhūtāviṭṭhāya gāviyā.
Attano pubbacariyaṁ,
kittayitvā mahāmati;
Parinibbāyi so thero,
sāvatthiyaṁ puruttame.
Nagarā nikkhamanto taṁ,
disvāna isisattamo;
Dārucīradharaṁ dhīraṁ,
bāhiyaṁ bāhitāgamaṁ.
Bhūmiyaṁ patitaṁ dantaṁ,
indaketūva pātitaṁ;
Gatāyuṁ sukkhakilesaṁ,
jinasāsanakārakaṁ.
Tato āmantayī satthā,
sāvake sāsane rate;
‘Gaṇhatha netvā jhāpetha,
tanuṁ sabrahmacārino.
Thūpaṁ karotha pūjetha,
nibbuto so mahāmati;
Khippābhiññānamesaggo,
sāvako me vacokaro.
Sahassamapi ce gāthā,
anatthapadasañhitā;
Ekaṁ gāthāpadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Yattha āpo ca pathavī,
tejo vāyo na gādhati;
Na tattha sukkā jotanti,
ādicco na pakāsati.
Na tattha candimā bhāti,
tamo tattha na vijjati;
Yadā ca attanā vedi,
munimonena brāhmaṇo.
Atha rūpā arūpā ca,
sukhadukkhā vimuccati’;
Iccevaṁ abhaṇī nātho,
tilokasaraṇo muni”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā bāhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Bāhiyattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.
Walt 5839 One hundred thousand aeons hence
the Leader arose in the world,
the Great Light, Chief of the Three Worlds,
who name was Padumuttara. Verse 1
Walt 5840-5841 My mind thrilled, having heard the Sage,
praising the virtue of a monk
who had instant comprehension;
doing a deed for the Great Sage,
having given alms for a week
to the Sage with his students, I
saluting him, the Sambuddha,
then aspired to attain that place. Verse 2-3
Walt 5842-5845 The Buddha prophesied of me:
“All of you look at this brahmin,
fallen down in front of my feet,
broad-shouldered, contemplating me,
gold brahmin’s cord on his torso,
skin that’s white upon his body,
who has pouty, copper-red lips,
teeth that are white, sharp and even,
with the utmost strength of virtue,
his body hair growing upward,
with senses flooded by virtue,
with a face blossoming in joy,
wishing for the place of the monk
who has instant comprehension.
In the future, a Great Hero
will come to be, named Gotama. Verse 4-7
Walt 5846Worthy heir to that one’s Dhamma,
Dhamma’s legitimate offspring,
the one whose name is Bāhiya
will be the Teacher’s follower.” Verse 8
Walt 5847 Then very happy, being roused,
for as long as I lived, doing
deeds for the Sage, fallen, I went
to heaven, as though my own home. Verse 9
Walt 5848 Born as a god or as a man,
because of the power of that
karma, transmigrating I then
enjoyed good fortune everywhere. Verse 10
Walt 5849 Again, when Hero Kassapa’s
dispensation had reached its goal,
ascending to a mountain-top,
engaged in the Victor’s teachings, Verse 11
Walt 5850 of pure morals, wise, doers
of the Victor’s dispensation,
fallen from there, we five people,
then went to the world of the gods. Verse 12
Walt 5851 Then I was born as Bāhiya,
in Bhārukaccha, best city.
From there by boat I venture forth
on the ocean full of danger. Verse 13
Walt 5852 After going for a few days
from there, the boat was broken up;
then I fell into the ocean,
awful, fearful, sea-monster-mine. Verse 14
Walt 5853 At that time, after much struggling,
having crossed over the ocean,
disoriented, I arrived
at the good seaport Suppāra. Verse 15
Walt 5854-5855 Having dressed in robes made of bark,
I entered the village for alms.
Then a man there, delighted, said,
“This is an arahant who’s come;
honoring him with food and drink,
with clothes and also with a bed,
and furthermore with medicine,
we’ll be happy through that karma.” Verse 16-17
Walt 5856 Receiving that, then going back,
thus honored and worshipped by them,
wrongly I gave rise to the thought
that “this one is an arahant.” Verse 18
Walt 5857 Afterward, discerning my mind,
the non-returner god reproached:
“You don’t know the path, the method;
how could you be an arahant?” Verse 19
Walt 5858 Reproached by him I was then moved;
I questioned him back in this way:
“Who, or where in the world are they,
those supreme men, the arahants?” Verse 20
Walt 5859 “Of Vast Wisdom, Greatly Very Wise, the
Victor, in Śrāvasti, in Kosala’s palace,
the Śākyas’ Son, the Arahant, Undefiled One
is preaching Dhamma for reaching arahantship.” Verse 21-22
Walt 5860 Then having heard that word of him I was well-gladdened,
very astonished like a pauper finding treasure,
mind thrilled for ultimate arahantship, and to
know the Good-Looking One, the Limitless Pasture. Verse 23-24
Walt 5861 Delighting at that time, departing for the Teacher,
always I see the Victor whose Face is Stainless.
Approaching the delightful grove named Vijita,
I questioned brahmins, “Where is the World’s Delighter?” Verse 25-26
Walt 5862 Then they replied, “the One Worshipped by Men and Gods
has entered the city wishing to eat some food;
very quickly indeed, zealous to see the Sage,
approach and worship him, the Foremost of People. Verse 27-28
Walt 5863-5864 And then, having gone speedily
to Śrāvasti, the best city,
I saw the Buddha wandering
for alms, without greed or desire,
bowl in hand, eyes undistracted,
as though dividing ambrosia,
like the abode of good fortune,
face bearing the blaze of the sun. Verse 29-30
Walt 5865 Coming together, bowing down,
I then spoke these words to him there:
“O Gotama, be the refuge
for one who’s lost on the wrong road.” Verse 31
Walt 5866 The Seventh Sage said this to me:
“I’m wandering on my alms-round
to help living beings cross; not
the time to tell you the Dhamma.” Verse 32
Walt 5867 Again and again I asked the
Buddha, being greedy for Dhamma.
He then preached the Dhamma to me,
the state that is deep and empty. Verse 33
Walt 5868 Hearing his Teaching, I attained
the destruction of the outflows,
my lifespan obliterated.
O! the Teacher’s mercifulness! Verse 34
Walt 5869 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 35
Walt 5870 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 36
Walt 5871 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 37
Walt 5872 Thus prophesied the elder named
Bāhiya Dārucīriya.
He fell down on a garbage heap
when he had been gored by a cow. Verse 38
Walt 5873 Having detailed his own former
conduct, he who was very wise,
that hero fully passed away
in Śrāvasti, supreme city. Verse 39
Walt 5874-5875 Then departing from the city,
the Seventh Sage, having seen him—
the wise one who wore robes of wood,
outsider come to the outside,
now fallen onto the safe ground,
like the fallen flag of Indra,
lifespan gone, defilements gone, a
doer of the Victor’s teachings—Verse 40-41
Walt 5876 the Teacher said to followers
who delighted in the teachings:
“get, and having taken it burn,
the body of your fellow monk. Verse 42
Walt 5877 Build a stupa and worship it;
this great wise one reached nirvana,
foremost in instant comprehension,
follower who heeded my words. Verse 43
Walt 5878 One word in a verse, hearing which,
one becomes calm, is better than
even a thousand verses, if
they possess words without meaning. Verse 44
Walt 5879 Where the waters and the earth, the
fire and the wind have no footing,
there the stars are not shining, and
the sun remains invisible;
the moon does not shed light there, and
darkness is not to be found there. Verse 45,.46a-b
Walt 5880 And when one knows that place oneself,
a sage, a brahmin with wisdom,
he’s freed from form and formlessness,
from happiness and suffering.”
Thus he spoke, the Buddha, the Lord,
the Sage, Refuge of the Three Worlds. Verse 46c-d,.47
Thus indeed Venerable Bāhiya Thera spoke these verses.
The legend of Bāhiya Thera is finished.