BJT 5989Trước đây một trăm ngàn kiếp, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hiền Trí, đấng hiểu biết về toàn bộ thế giới, bậc Hữu Nhãn đã hiện khởi.
BJT 5990Là bậc giáo giới, là vị làm cho hiểu rõ, là vị giúp cho tất cả chúng sanh vượt qua, được thiện xảo trong việc thuyết giảng, đức Phật đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5991Bậc Thương Tưởng, đấng Bi Mẫn, vị tầm cầu sự lợi ích cho tất cả chúng sanh, cũng đã an trú vào ngũ giới cho tất cả các ngoại đạo đã đi đến.
BJT 5992Như thế, được tô điểm với các vị A-la-hán có năng lực như thế ấy, (thế gian) đã không bị rối loạn và trống vắng các vị ngoại đạo.
BJT 5993Bậc Đại Hiền Trí ấy cao năm mươi tám ratana(14.50 m) tợ như cây cột trụ bằng vàng, có ba mươi hai hảo tướng.
BJT 5994Cho đến khi ấy, tuổi thọ được biết là một trăm ngàn năm. Trong khi tồn tại như thế, Ngài đã giúp cho nhiều người vượt qua.
BJT 5995Lúc bấy giờ, tôi đã ở trong một gia đình nọ tại thành Haṁsavatī. Bị vướng bận trong sự quán xuyến công việc của người khác, tài sản riêng của tôi là không có gì.
BJT 5996Trong khi cư ngụ tại gian nhà nghỉ chân có nền đất đã được sửa soạn, tôi đã đốt lên ngọn lửa ở tại nơi ấy (khiến) nền đất ấy đã trở nên đen và cứng.
BJT 5997Khi ấy, đấng Bảo Hộ, bậc giảng giải về bốn Sự Thật, đã tán dương vị Thinh Văn là vị mặc y thô xấu ở hội chúng.
BJT 5998Hoan hỷ về đức hạnh đó của vị ấy, tôi đã quỳ xuống ở đức Như Lai và đã phát nguyện vị thế tối thượng là vị đứng đầu trong số các vị mặc y thô xấu.
BJT 5999Do đó, đức Thế Tôn Padumuttara đã nói với các vị Thinh Văn rằng: “Các ngươi hãy nhìn xem người nam có y phục thô xấu và thân hình gầy ốm này.
BJT 6000(Người này) với khuôn mặt tịnh tín và có sự phỉ lạc, được sở hữu tài sản về đức tin, có lông dựng đứng sanh lên ở cơ thể, được mừng rỡ, không cử động, có nhúm bông sālā.
BJT 6001Người này phát nguyện vị thế ấy của vị tỳ khưu có được đạo binh về sự chân thật và có thiên hướng về hình tướng của vị mặc y thô xấu ấy.”
BJT 6002Nghe được điều ấy, tôi đã trở nên hoan hỷ và đã quỳ xuống đê đầu ở đấng Chiến Thắng. Tôi đã thực hiện việc làm tốt đẹp trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng cho đến hết cuộc đời.
BJT 6003Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6004Do hành động đốt nền đất ở gian nhà nghỉ chân, tôi đã bị thiêu đốt, bị khổ đau về cảm thọ ở địa ngục một ngàn năm.
BJT 6005Do phần dư sót của nghiệp ấy, trong năm trăm kiếp sống dầu đã được may mắn sanh ra làm người, tôi đã bị đóng dấu từ lúc mới sanh.
BJT 6006Tôi đã bị nhiễm bệnh phong cùi luôn cả năm trăm kiếp sống. Do tác động của nghiệp ấy, tôi đã trải qua khổ đau lớn lao.
BJT 6007Ở vào kiếp Bhadda này, với tâm ý tịnh tín tôi đã làm hài lòng vị có danh vọng tối cao bằng món thức ăn.
BJT 6008Do tính chất đặc biệt của nghiệp ấy và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6009Khi đạt đến lần hiện hữu cuối cùng, tôi đã được sanh ra trong gia tộc Sát-đế-lỵ. Khi cha tôi băng hà, tôi đã được kế thừa vương quốc rộng lớn.
BJT 6010Bị bệnh phong cùi chế ngự, tôi không đạt được sự vui sướng và sự an lạc. Vì sự sung sướng về vương quốc là rỗng không, cho nên tôi là Mogharājā.
BJT 6011Sau khi nhìn thấy sự xấu xa của thân thể, tôi đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Tôi đã đi đến làm học trò của vị Bà-la-môn cao cả tên Bāvarī.
BJT 6012Cùng với đoàn tùy tùng đông đảo, tôi đã đi đến gặp đấng Lãnh Đạo nhân loại. Tôi đã hỏi đấng Anh Hùng ấy là vị (có khả năng) khuất phục người đối đáp một câu hỏi khôn khéo.
BJT 6013Thế giới này, thế giới khác, thế giới Phạm Thiên, luôn cả thế giới chư Thiên không biết rõ quan điểm của Ngài, của vị Gotama có danh vọng.
BJT 6014“Bằng cách nào Thần Chết không nhìn thấy người đang suy xét về thân này?” Là người có mục đích, tôi đã đi đến với người có sự thấy biết vượt trội như vậy bằng câu chất vấn.
BJT 6015“Này Mogharāja, hãy luôn luôn có niệm. Ngươi hãy suy xét thân này là không. Sau khi dẹp bỏ tà kiến về tự ngã,như vậy ngươi có thể vượt trội Thần Chết.
BJT 6016Thần Chết không nhìn thấy người đang suy xét về thân này là như thế.” Đức Phật, người thầy thuốc chữa tất cả các loại bệnh đã giảng cho tôi như vậy.
BJT 6017Với sự chấm dứt của câu kệ, tôi có râu tóc đã được cạo bỏ, có sự mặc lên tấm vải ca-sa, tôi đã trở thành vị tỳ khưu A-la-hán như thế.
BJT 6018Bị hành hạ bởi căn bệnh, tôi đã không cư ngụ trong các trú xá thuộc về hội chúng (nghĩ rằng): “Chớ để trú xá bị dơ bẩn,” tôi đã bị hành hạ bởi các cơn bệnh về gió.
BJT 6019Sau khi đã đem về từ đống rác, từ bãi tha ma, và từ các đường lộ, từ đó tôi đã làm nên y hai lớp và tôi đã mặc y thô xấu.
BJT 6020Hoan hỷ về đức hạnh ấy của tôi, bậc Thầy Thuốc vĩ đại, đấng Hướng Đạo đã thiết lập tôi vào vị thế tối thắng trong số các vị mặc y thô xấu.
BJT 6021Có sự đoạn tận thiện và ác, đã được dứt bỏ mọi cơn bệnh, tợ như ngọn lửa không còn nhiên liệu, tôi đã Niết Bàn không còn lậu hoặc.
BJT 6022Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6023Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6024Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Mogharāja đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Mogharāja là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Kaccāna, vị trưởng lão Vakkali, vị có tên là Mahākappina, vị Dabba, vị có tên là Kumāra, vị Bāhiya, vị Koṭṭhita có năng lực, vị Uruvelakassapa, vị Rādha, và bậc trí tuệ Mogharājā. Ở đây có ba trăm và luôn cả sáu mươi hai câu kệ đã được gộp chung lại.
Phẩm Kaccāna là phẩm thứ năm mươi bốn.
“Padumuttaro nāma jino,
sabbalokavidū muni;
Ito satasahassamhi,
kappe uppajji cakkhumā.
Ovādako viññāpako,
tārako sabbapāṇinaṁ;
Desanākusalo buddho,
tāresi janataṁ bahuṁ.
Anukampako kāruṇiko,
hitesī sabbapāṇinaṁ;
Sampatte titthiye sabbe,
pañcasīle patiṭṭhapi.
Evaṁ nirākulaṁ āsi,
suññataṁ titthiyehi ca;
Vicittaṁ arahantehi,
vasībhūtehi tādibhi.
Ratanānaṭṭhapaññāsaṁ,
uggato so mahāmuni;
Kañcanagghiyasaṅkāso,
bāttiṁsavaralakkhaṇo.
Vassasatasahassāni,
āyu vijjati tāvade;
Tāvatā tiṭṭhamāno so,
tāresi janataṁ bahuṁ.
Tadāhaṁ haṁsavatiyaṁ,
kule aññatare ahuṁ;
Parakammāyane yutto,
natthi me kiñci sandhanaṁ.
Paṭikkamanasālāyaṁ,
vasanto katabhūmiyaṁ;
Aggiṁ ujjālayiṁ tattha,
daḷhaṁ kaṇhāsi sā mahī.
Tadā parisatiṁ nātho,
catusaccapakāsako;
Sāvakaṁ sampakittesi,
lūkhacīvaradhārakaṁ.
Tassa tamhi guṇe tuṭṭho,
paṇipacca tathāgataṁ;
Lūkhacīvaradhāraggaṁ,
patthayiṁ ṭhānamuttamaṁ.
Tadā avoca bhagavā,
sāvake padumuttaro;
‘Passathetaṁ purisakaṁ,
kucelaṁ tanudehakaṁ.
Pītippasannavadanaṁ,
saddhādhanasamanvitaṁ;
Udaggatanujaṁ haṭṭhaṁ,
acalaṁ sālapiṇḍitaṁ.
Eso pattheti taṁ ṭhānaṁ,
saccasenassa bhikkhuno;
Lūkhacīvaradhārissa,
tassa vaṇṇasitāsayo’.
Taṁ sutvā mudito hutvā,
nipacca sirasā jinaṁ;
Yāvajīvaṁ subhaṁ kammaṁ,
karitvā jinasāsane.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsūpago ahaṁ.
Paṭikkamanasālāyaṁ,
bhūmidāhakakammunā;
Samasahassaṁ niraye,
adayhiṁ vedanāṭṭito.
Tena kammāvasesena,
pañca jātisatānihaṁ;
Manusso kulajo hutvā,
jātiyā lakkhaṇaṅkito.
Pañca jātisatāneva,
kuṭṭharogasamappito;
Mahādukkhaṁ anubhaviṁ,
tassa kammassa vāhasā.
Imasmiṁ bhaddake kappe,
upariṭṭhaṁ yasassinaṁ;
Piṇḍapātena tappesiṁ,
pasannamānaso ahaṁ.
Tena kammavisesena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Pacchime bhave sampatte,
ajāyiṁ khattiye kule;
Pituno accayenāhaṁ,
mahārajjasamappito.
Kuṭṭharogādhibhūtohaṁ,
na ratiṁ na sukhaṁ labhe;
Moghaṁ rajjaṁ sukhaṁ yasmā,
mogharājā tato ahaṁ.
Kāyassa dosaṁ disvāna,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Bāvarissa dijaggassa,
sissattaṁ ajjhupāgamiṁ.
Mahatā parivārena,
upecca naranāyakaṁ;
Apucchiṁ nipuṇaṁ pañhaṁ,
taṁ vīraṁ vādisūdanaṁ.
‘Ayaṁ loko paro loko,
brahmaloko sadevako;
Diṭṭhiṁ no nābhijānāmi,
gotamassa yasassino.
Evābhikkantadassāviṁ,
atthi pañhena āgamaṁ;
Kathaṁ lokaṁ avekkhantaṁ,
maccurājā na passati’.
‘Suññato lokaṁ avekkhassu,
mogharāja sadā sato;
Attānudiṭṭhiṁ uhacca,
evaṁ maccutaro siyā.
Evaṁ lokaṁ avekkhantaṁ,
maccurājā na passati’;
Iti maṁ abhaṇi buddho,
sabbarogatikicchako.
Saha gāthāvasānena,
kesamassuvivajjito;
Kāsāvavatthavasano,
āsiṁ bhikkhu tathārahā.
Saṅghikesu vihāresu,
na vasiṁ rogapīḷito;
Mā vihāro padussīti,
vātarogehi pīḷito.
Saṅkārakūṭā āhitvā,
susānā rathikāhi ca;
Tato saṅghāṭiṁ karitvā,
dhārayiṁ lūkhacīvaraṁ.
Mahābhisakko tasmiṁ me,
guṇe tuṭṭho vināyako;
Lūkhacīvaradhārīnaṁ,
etadagge ṭhapesi maṁ.
Puññapāpaparikkhīṇo,
sabbarogavivajjito;
Sikhīva anupādāno,
nibbāyissamanāsavo.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā mogharājā thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Mogharājattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Kaccāyanavaggo catupaññāsamo.
Tassuddānaṁ
Kaccāno vakkalī thero,
mahākappinasavhayo;
Dabbo kumāranāmo ca,
bāhiyo koṭṭhiko vasī.
Uruveḷakassapo rādho,
mogharājā ca paṇḍito;
Tīṇi gāthāsatānettha,
bāsaṭṭhi ceva piṇḍitā.
Walt 5987 The Victor, Padumuttara,
the Sage, Knower of Every World,
the One who had Five Eyes, arose
a hundred thousand aeons hence. Verse 1
Walt 5988The Admonisher, Instructor,
Crosser-Over of all that breathe,
Skilled at Preaching, he, the Buddha,
caused many folks to cross the flood. Verse 2
Walt 5989 Merciful, Compassionate One,
Well-Wisher of all that breathe, he
established in the five precepts
all the rivals who had arrived. Verse 3
Walt 5990 In this way he was Unconfused
and Very Well-Known by rivals,
Ornamented by arahants
who were masters and neutral ones. Verse 4
Walt 5991 The body of the Sage So Great
rose up fifty-eight cubits tall;
he was Valuable Like Gold,
Bearing the Thirty-Two Great Marks. Verse 5
Walt 5992 People’s lifespan at that time was
fully one hundred thousand years.
Remaining in the world so long,
he ferried many folks across. Verse 6
Walt 5993 I was then in Haṁsavatī;
I was born in a certain clan.
Bound to working for others, I
did not have any possessions. Verse 7
Walt 5994 Living on the unfinished floor
of a storeroom for special seats,
I lit a fire there on that floor;
the earth became hard and blackened. Verse 8
Walt 5995 Then the Lord, explaining the Four
Noble Truths to the retinue,
lavished praise on a follower
who wore inferior cloth robes. Verse 9
Walt 5996 Then thrilled at that virtue of his,
falling before the Thus-Gone-One,
I aspired to that supreme place,
foremost among those with rough robes. Verse 10
Walt 5997-5998 Then Buddha Padumuttara
said this to all his followers:
“All of you look at that person,
with bad clothes, a skinny body,
with joy and pleasure in his face,
possessing a great wealth of faith,
happy, body hair grown upward,
steadfast, eating food in a hall. Verse 11-12
Walt 5999 He’s wishing to attain the place
of this monk named Saccasena;
his hope’s for the appearance of
this monk wearing robes of rough cloth.” Verse 13
Walt 6000-6001 After hearing that, being thrilled,
bowing my head to the Victor,
doing good karma my whole life
in the Victor’s dispensation,
due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I was gone to Tāvatiṁsa. Verse 14-15
Walt 6002 Through the deed of burning the floor
in the storeroom for special seats,
for all of a thousand years, I
burned in hell, remaining in pain. Verse 16
Walt 6003 Due to that karma’s remainder,
I had five hundred more rebirths,
being born in a human clan,
and marked with the marks of my caste. Verse 17
Walt 6004 For those same five hundred rebirths,
I’m afflicted with skin disease,
I underwent great suffering,
through the power of that karma. Verse 18
Walt 6005 In this present lucky aeon,
having a mind full of pleasure,
I entertained with begged alms food
Upariṭṭha, the Famous One. Verse 19
Walt 6006 Through the rest of the deed I did,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 20
Walt 6007 When my last rebirth was attained,
I’m born in a warrior clan.
After the death of my father,
I possessed a large kingdom then. Verse 21
Walt 6009 Afflicted with a skin disease,
I get no comfort in the night.
Due to useless royal comfort,
I was then called “King of Useless.”
Seeing the flaws of the body,
I went forth into homelessness.
I entered in the studentship
of Bāvarī, the chief brahmin. Verse 23
Walt 6010 With an enormous retinue,
approaching the Leader of Men,
I asked a subtle question of
the Hero, Debater-Crusher. Verse 24
Walt 6011 “In this world or in the next world
or in Brahma’s world with its gods,
might he not know the sight of you,
of Gotama, the Famous One? Verse 25
Walt 6012 Thus one with excellent knowledge
comes to the point through the question,
while looking upon what world, then,
does the King of Death not see him?” Verse 26
Walt 6013-6014 The Physician for all Disease,
the Buddha answered this to me:
“Look upon the world as empty,
Mogharāja; always mindful,
and uprooting his own false views,
in this way he’d cross beyond death.
Thusly looking upon the world,
the King of Death does not see him.” Verse 27-28
Walt 6015 And the conclusion of that verse,
cutting off my hair and my beard,
putting on saffron-colored robes,
I became an arahant monk. Verse 29
Walt 6016 Oppressed by illness I don’t live
in Assembly monasteries.
“Don’t offend the monastery”—
by that word I’m extra-oppressed. Verse 30
Walt 6017 Taking cloth atop rubbish heaps,
from charnel field, on carriage roads,
having made my robe out of that,
I am wearing a rough-cloth robe. Verse 31
Walt 6018 Pleased about that virtue of mine,
the Great Physician, the Leader,
then placed me in the foremost place
of those who wear robes of rough cloth. Verse 32
Walt 6019 Merit and evil are all destroyed;
every illness is driven out.
Like fire, I have no attachments;
I will realize nirvana. Verse 33
Walt 6020 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 34
Walt 6021 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 35
Walt 6022 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 36
Thus indeed Venerable Mogharāja Thera spoke these verses.
The legend of Mogharāja Thera is finished.
The Summary:
Kaccāna, Vakkalī Thera,
the one named Mahākappina,
Dabba, and he named Kumāra,
Bāhiya, Master Koṭṭhita,
Uruvelakassapa, Rādha,
and Mogharājā the pundit.
There are three hundred verses here,
piled on another sixty-two.
The Kaccāna Chapter, the Fifty-Fourth