BJT 6219Trước đây một trăm ngàn kiếp, vị Lãnh Đạo, đấng Chiến Thắng tên Padumuttara, bậc Hữu Nhãn về tất cả các pháp đã hiện khởi.
BJT 6220Đức Như Lai giúp cho người an trú vào việc đi đến nương nhờ, giúp cho người an trú vào giới, vào mười đường lối tối thượng về (thiện) nghiệp.
BJT 6221Đấng Đại Hùng ấy ban cho người quả vị Sa-môn tối thượng. Tương tợ như thế Ngài ban phát tám sự thể nhập (thiền) và ba minh.
BJT 6222Bậc Tối Thượng Nhân giúp cho chúng sanh gắn bó vào sáu thắng trí. Bậc Bảo Hộ ấy ban cho người bốn pháp phân tích
BJT 6223Sau khi nhìn thấy người có khả năng giác ngộ dầu (ở xa) vô số do-tuần, đấng Điều Phục Nhân trong phút chốc vẫn đi đến gặp và hướng dẫn.
BJT 6224Lúc bấy giờ, tôi đã là con trai của vị Bà-la-môn ở thành Haṁsavatī, là người thông suốt tất cả các bộ Vệ-đà, được công nhận về (khả năng) giảng giải.
BJT 6225Được thiện xảo về ngôn từ, và tự tin về từ đồng nghĩa, là người rõ về cú pháp, hiểu biết về nghi lễ, rành rẽ về việc kết hợp âm điệu thi ca.
BJT 6226Trong khi đi bộ lang thang tôi đã đi đến tu viện Haṁsa. Tôi đã nhìn thấy bậc hàng đầu trong số các vị đang thuyết giảng, được đám đông dân chúng ái mộ.
BJT 6227Trong khi Ngài đang thuyết giảng Giáo Pháp không bị ô nhiễm, (dầu) có sự hiểu biết trái nghịch tôi đã đi đến và đã lắng nghe những lời nói không bị bợn nhơ của Ngài.
BJT 6228Tôi đã không nhìn thấy lời đã được nói ra của bậc Hiền Trí ấy là bị lập lại, lạc đề, hoặc không có ý nghĩa; do đó tôi đã xuất gia.
BJT 6229Trong thời gian không bao lâu, được tự tin về tất cả các học thuật, tôi đã được công nhận bởi tập thể là vị thông thạo về lời dạy của đức Phật.
BJT 6230Khi ấy, tôi đã sáng tác bốn câu kệ có sự diễn tả khéo léo. Tôi đã ngợi ca bậc Cao Cả của tam giới và tôi đã diễn giảng ngày này qua ngày khác:
BJT 6231“Bạch đấng Đại Hùng, Ngài không bị ái luyến trong khi sống trong luân hồi (đầy) sự kinh hãi. Vì lòng bi mẫn Ngài đã không Niết Bàn; do đó bậc Hiền Trí là đấng Bi Mẫn.
BJT 6232Người nào dầu còn là phàm nhân mà đã không bị sự chi phối của phiền não, có sự nhận biết mình, được gắn liền với niệm; do đó người này là không thể nghĩ bàn.
BJT 6233Đối với người nào các phiền não ở trạng thái ngủ ngầm đã trở nên yếu ớt, đã bị thiêu đốt bởi ngọn lửa trí tuệ mà không bị cạn kiệt, điều ấy là kỳ diệu.
BJT 6234Vị nào là thầy của tất cả thế gian và thế gian tôn kính như thế đối với vị nào, cũng tương tợ như vậy vị nào là thầy dạy của thế gian, thế gian là xu hướng theo vị ấy.”
BJT 6235Trong khi tán dương đấng Toàn Giác như thế, v.v… Sau khi thực hiện việc thuyết giảng Giáo Pháp đến hết cuộc đời, từ nơi ấy chết đi tôi đã đi đến cõi trời.
BJT 6236Kể từ khi tôi đã tán dương đức Phật cho đến một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 6237Ở thế giới chư Thiên, tôi đã cai quản vương quốc rộng lớn và vùng địa phận. Là đấng Chuyển Luân Vương, tôi đã thường xuyên thọ hưởng vương quốc rộng lớn.
BJT 6238Tôi (đã) được sanh ra ở hai cảnh giới trong bản thể Thiên nhân và loài người, tôi không biết đến cõi tái sanh khác; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 6239Tôi (đã) được sanh ra ở hai gia tộc, Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn, tôi không biết đến gia tộc hạ tiện; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 6240Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi là con trai của đức vua Bimbisāra ở tại kinh thành Giribbajja và có tên là Abhaya.
BJT 6241Sau khi rơi vào sự ảnh hưởng của bạn xấu, tôi đã bị mê muội vì ngoại đạo. Được phái đi bởi (Giáo chủ) Nātaputta, tôi đã đi đến gặp đức Phật tối thượng.
BJT 6242Tôi đã hỏi câu hỏi khôn khéo và đã lắng nghe lời giảng giải xuất chúng. Tôi đã xuất gia, chẳng bao lâu tôi đã thành tựu phẩm vị A-la-hán.
BJT 6243Sau khi tán dương đấng Chiến Thắng cao quý, tôi được ca ngợi vào mọi lúc. Với thân hình và khuôn mặt có hương thơm ngát, tôi đã đạt được sự an lạc.
BJT 6244Tôi có được tuệ sắc bén, tuệ vi tiếu, tuệ nhẹ nhàng và tuệ vĩ đại tương tợ y như thế, và tôi có tài biện giải đa dạng nhờ vào tác động của nghiệp ấy.
BJT 6245Với tâm tịnh tín, sau khi ngợi ca danh xưng (của đức Phật) Padumuttara, đấng Tự Chủ, không người sánh bằng, tôi (đã) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp nhờ vào quả báu của nghiệp ấy.
BJT 6246Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6247Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6248Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Abhaya đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Abhaya là phần thứ bảy.
“Padumuttaro nāma jino,
sabbadhammesu cakkhumā;
Ito satasahassamhi,
kappe uppajji nāyako.
Saraṇagamane kiñci,
nivesesi tathāgato;
Kiñci sīle nivesesi,
dasakammapathuttame.
Deti kassaci so vīro,
sāmaññaphalamuttamaṁ;
Samāpattī tathā aṭṭha,
tisso vijjā pavecchati.
Chaḷabhiññāsu yojesi,
kiñci sattaṁ naruttamo;
Deti kassaci nātho so,
catasso paṭisambhidā.
Bodhaneyyaṁ pajaṁ disvā,
asaṅkheyyampi yojanaṁ;
Khaṇena upagantvāna,
vineti narasārathi.
Tadāhaṁ haṁsavatiyaṁ,
ahosiṁ brāhmaṇatrajo;
Pāragū sabbavedānaṁ,
veyyākaraṇasammato.
Niruttiyā ca kusalo,
nighaṇḍumhi visārado;
Padako keṭubhavidū,
chandovicitikovido.
Jaṅghāvihāraṁ vicaraṁ,
haṁsārāmamupeccahaṁ;
Addasaṁ varadaṁ seṭṭhaṁ,
mahājanapurakkhataṁ.
Desentaṁ virajaṁ dhammaṁ,
paccanīkamatī ahaṁ;
Upetvā tassa kalyāṇaṁ,
sutvāna vimalaṁ ahaṁ.
Byāhataṁ punaruttaṁ vā,
apatthaṁ vā niratthakaṁ;
Nāddasaṁ tassa munino,
tato pabbajito ahaṁ.
Nacireneva kālena,
sabbasattavisārado;
Nipuṇo buddhavacane,
ahosiṁ guṇisammato.
Tadā catasso gāthāyo,
ganthayitvā subyañjanā;
Santhavitvā tilokaggaṁ,
desayissaṁ dine dine.
‘Virattosi mahāvīro,
saṁsāre sabhaye vasaṁ;
Karuṇāya na nibbāyi,
tato kāruṇiko muni.
Puthujjano vayo santo,
na kilesavaso ahu;
Sampajāno satiyutto,
tasmā eso acintiyo.
Dubbalāni kilesāni,
yassāsayagatāni me;
Ñāṇaggiparidaḍḍhāni,
na khīyiṁsu tamabbhutaṁ.
Yo sabbalokassa garu,
loko yassa tathā garu;
Tathāpi lokācariyo,
loko tassānuvattako’.
Evamādīhi sambuddhaṁ,
kittayaṁ dhammadesanaṁ;
Yāvajīvaṁ karitvāna,
gato saggaṁ tato cuto.
Satasahassito kappe,
yaṁ buddhamabhikittayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
kittanāya idaṁ phalaṁ.
Devaloke mahārajjaṁ,
pādesiṁ kañcanagghiyaṁ;
Cakkavattī mahārajjaṁ,
bahusonubhaviṁ ahaṁ.
Duve bhave pajāyāmi,
devatte atha mānuse;
Aññaṁ gatiṁ na jānāmi,
kittanāya idaṁ phalaṁ.
Duve kule pajāyāmi,
khattiye atha brāhmaṇe;
Nīce kule na jāyāmi,
kittanāya idaṁ phalaṁ.
Pacchime ca bhave dāni,
giribbajapuruttame;
Raññohaṁ bimbisārassa,
putto nāmena cābhayo.
Pāpamittavasaṁ gantvā,
nigaṇṭhena vimohito;
Pesito nāṭaputtena,
buddhaseṭṭhamupeccahaṁ.
Pucchitvā nipuṇaṁ pañhaṁ,
sutvā byākaraṇuttamaṁ;
Pabbajitvāna naciraṁ,
arahattamapāpuṇiṁ.
Kittayitvā jinavaraṁ,
kittito homi sabbadā;
Sugandhadehavadano,
āsiṁ sukhasamappito.
Tikkhahāsalahupañño,
mahāpañño tathevahaṁ;
Vicittapaṭibhāno ca,
tassa kammassa vāhasā.
Abhitthavitvā padumuttarāhaṁ,
Pasannacitto asamaṁ sayambhuṁ;
Na gacchi kappāni apāyabhūmiṁ,
Sataṁsahassāni balena tassa.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā abhayo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Abhayattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 6217 The Victor, Padumuttara,
the One with Eyes for everything,
the Leader of the World, arose
a hundred thousand aeons hence. Verse 1
Walt 6218 The Thus-Gone-One exhorts someone
in the going for refuge, and
he exhorts someone in morals,
in the supreme ten ways to act. Verse 2
Walt 6219 The Hero gives to somebody
the ultimate fruit of monkhood,
and likewise the eight attainments;
he bestows the three knowledges. Verse 3
Walt 6220 Supreme Man urges some being
in the six special knowledges,
and the Lord gives to somebody
the four analytical modes. Verse 4
Walt 6221 Seeing folks to be awakened,
across leagues that can’t be counted,
in no time having approached them,
the Charioteer of Men exhorts. Verse 5
Walt 6222-6223 I then lived in Haṁsavatī;
I was the son of a brahmin,
a master of all the Vedas,
revered as a grammarian,
skillful in etymology,
confident in definitions,
verse-knower, ritual-knower,
also clever at prosody. Verse 6-7
Walt 6224 While wandering about on foot,
having approached Swan Hermitage,
I saw him, the Best Debater,
Honored by the Great Populace, Verse 8
Walt 6225 preaching the Dhamma without stain.
I, with contrary ideas,
after having gone up to him,
after hearing his stainless words, Verse 9
Walt 6226 looking for a word of the Sage
which was incorrect, repeated,
or thrown-off or without meaning,
I saw none; therefore I went forth. Verse 10
Walt 6227 After not a long time, being
confident among all teachers,
I am taken as an expert
in the subtle words of Buddha. Verse 11
Walt 6228 After having put together
four well-written verses for him,
praising the Chief of the Three Worlds,
I had them preached from day to day. Verse 12
Walt 6229 “In this frightful existence you
are Free from Passion, Great Hero;
out of compassion, you don’t die,
thus you’re ‘the Compassionate Sage.’ Verse 13
Walt 6230 Someone who’s a common person
not overwhelmed by defilements,
would be attentive and mindful;
thus Buddha’s inconceivable. Verse 14
Walt 6231 These are not destroyed by themselves,
even someone’s weak defilements,
consumed in the fire of knowledge.
It would be a marvel if so. Verse 15
Walt 6232 He who’s the Teacher of All Worlds:
for him the world’s thus a teacher;
he’s thus known as ‘the World-Teacher’
and the world is following him.” Verse 16
Walt 6233 With fine verses like those, I praised
the Sambuddha, Dhamma-preacher;
doing so as long as I lived,
after death I went to heaven. Verse 17
Walt 6234 In the hundred thousand aeons
since I praised the Buddha like that,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of praising Buddha. Verse 18
Walt 6235 I experienced a lot of
great kingship in the world of gods,
and local kingship here on earth,
and wheel-turning kingship as well. Verse 19
Walt 6236 I transmigrate in just two states:
that of a god, or of a man.
I do not know other rebirths;
that’s the fruit of praising Buddha. Verse 20
Walt 6237 When human I‘m born in two clans:
the kṣatriyan or the brahmin.
I don’t get born in lesser clans:
that’s the fruit of praising Buddha. Verse 21
Walt 6238 Now, in my final existence,
in Rajgir, ultimate city,
I am King Bimbisāra’s son,
and my given name’s Abhaya. Verse 22
Walt 6239 Influenced by an evil friend,
I was bewildered by a Jain.
Sent by the leader of the Jains,
I approached the Best of Buddhas. Verse 23
Walt 6240 Having asked a subtle question,
hearing Buddha’s supreme response,
going forth, in not a long time,
I attained my arahantship. Verse 24
Walt 6241 After praising the Best Victor,
I myself am praised all the time.
With good-scented body and mouth,
I am endowed with happiness. Verse 25
Walt 6242 Thus indeed I am greatly wise,
with sharp, clever and quick wisdom,
and I speak with varied discourse,
through the power of that karma. Verse 26
Walt 6243 With pleasure in my heart, praising the Worthy,
the Unmatched, Self-Become Padumuttara,
as the fruit of that, to a place full of woe,
for a whole lakh of aeons, I did not go. Verse 27
Walt 6244 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 28
Walt 6245 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 29
Walt 6246 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 30
Thus indeed Venerable Abhaya Thera spoke these verses.
The legend of Abhaya Thera is finished.