BJT 6296Ở vào kiếp Bhadda này, trong số các vị đang thuyết giảng đã hiện khởi đấng cao quý tên Kassapa có danh tiếng vĩ đại, là thân quyến của đấng Phạm Thiên (dòng dõi Bà-la-môn).
BJT 6297Ngài đầy đủ các tướng phụ, có ba mươi hai hảo tướng, được bao quanh bởi quầng ánh sáng, được bao trùm bởi mạng lưới hào quang.
BJT 6298Là người làm cho thoải mái tương tợ mặt trăng, là nguồn tạo ra ánh sáng tợ như mặt trời, là người dập tắt (lửa phiền não) như là cơn mưa, là kho chứa của đức hạnh ví như biển cả.
BJT 6299Với giới như là trái đất, với định như là núi Hi-mã-lạp, với tuệ tợ như bầu trời, không bị dính mắc giống như làn gió.
BJT 6300Vào lúc bấy giờ, tôi được sanh ra tại thành Bārāṇasī trong đại gia tộc có tài sản và lúa gạo dồi dào, có sự tích lũy nhiều loại châu báu khác nhau.
BJT 6301Vào lúc đấng Lãnh Đạo Thế Gian đang ngồi cùng đoàn tùy tùng đông đảo, tôi đã đi đến gần và đã lắng nghe Giáo Pháp tợ như cao lương mỹ vị có sự thu hút tâm ý.
BJT 6302Ngài có ba mươi hai hảo tướng như là mặt trăng có chòm tinh tú, được đầy đủ các tướng phụ tợ như cây sālā chúa đã được trổ hoa.
BJT 6303Ngài phát ra xung quanh mạng lưới hào quang tợ như ngọn núi vàng cháy rực, được bao quanh bởi quầng ánh sáng tợ như mặt trời có các tia sáng.
BJT 6304Đấng Chiến Thắng cao quý có khuôn mặt vàng chói tợ như tảng đá có viên ngọc ma-ni, có trái tim tràn đầy lòng bi mẫn cùng với đức hạnh như là biển cả.
BJT 6305Và đấng Anh Hùng, bậc Hiền Trí có danh tiếng lẫy lừng ở thế gian tợ như ngọn núi tối thượng Sineru, đã được lan rộng với sự vinh quang tương tợ bầu trời.
BJT 6306Đấng Lãnh Đạo có tâm không bị ràng buộc với tất cả các nơi như là làn gió. Bậc Hiền Trí thứ bảy là sự nâng đỡ đối với tất cả chúng sanh tợ như trái đất.
BJT 6307Ngài không bị vấy bẩn bởi thế gian giống như hoa sen không bị lấm lem bởi nước. Ngài chiếu sáng như là khối lửa có sự đốt cháy những lùm cây ngoại giáo.
BJT 6308Ngài là người tiêu diệt chất độc phiền não ở tất cả các nơi như là phương thuốc chữa bệnh. Ngài được trang sức bằng hương thơm của đức hạnh tợ như viên đá nghiền nát hương liệu.
BJT 6309Đấng Chiến Thắng là kho chứa của các đức hạnh tợ như biển cả (là nơi chứa đựng) đối với các loại châu báu, là người mang đi các phiền não và ô nhiễm tợ như con sông Sindhu đối với những dãy rừng.
BJT 6310Với sự tiêu diệt đạo binh của Ma Vương, Ngài như là người chiến sĩ lực lưỡng có sự chiến thắng. Ngài là vị chúa tể của các loại châu báu là các chi phần đưa đến giác ngộ tợ như đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 6311Ngài là người thầy thuốc về cơn bệnh sân hận tương tợ vị y sĩ vĩ đại. Ngài là người mổ xẻ mụt nhọt tà kiến giống như phẫu thuật viên hạng nhất.
BJT 6312Khi ấy, được loài người và chư Thiên kính trọng, bậc Quang Đăng của thế gian, ánh Mặt Trời của nhân loại, đấng Chiến Thắng ấy thuyết giảng Giáo Pháp ở các hội chúng.
BJT 6313Ngài đã chỉ dạy như vầy: “Sau khi dâng cúng vật thí thì trở nên có tài sản lớn lao, nhờ vào giới đi đến nhàn cảnh, và do sự tham thiền đạt đến Niết Bàn.”
BJT 6314Toàn thể các hội chúng lắng nghe sự thuyết giảng có phẩm vị cao cả ấy, có sự tốt đẹp ở phần đầu phần giữa và phần cuối, như là cao lương mỹ vị có chất bổ dưỡng lớn lao.
BJT 6315Sau khi lắng nghe Giáo Pháp có vị ngọt tuyệt vời, tôi được tịnh tín với Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Tôi đã đi đến nương nhờ đức Thiện Thệ và đã tôn kính Ngài đến hết cuộc đời.
BJT 6316Khi ấy, tôi đã lau chùi nền đất ở hương thất của bậc Hiền Trí bằng chất thơm được sanh lên từ bốn loại (bông hoa) vào tám ngày trong một tháng.
BJT 6317Tôi đã ước nguyện về trạng thái có hương thơm ở thân thể bị mùi khó chịu. Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã chú nguyện về việc đạt được cơ thể có hương thơm rằng:
BJT 6318“Người nào lau chùi nền đất của hương thất bằng chất thơm một lần, do kết quả của nghiệp ấy được sanh lên ở nơi này nơi khác.
BJT 6319Ở tất cả các nơi, người nam này sẽ có được thân hình có hương thơm ngạt ngào. Sau khi được gắn liền với hương thơm của đức hạnh, (người này) sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 6320Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại tôi đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 6321Và trong kiếp sống cuối cùng hiện nay, tôi đã được sanh vào gia đình Bà-la-môn. Khi tôi đang trú ở trong bào thai, mẹ của tôi đã trở thành người có hương thơm ở cơ thể.
BJT 6322Và vào lúc tôi rời khỏi lòng mẹ, khi ấy thành Sāvatthī đã tỏa ra như là được tẩm bằng tất cả các loại hương thơm.
BJT 6323Và có cơn mưa bông hoa thơm ngát làm thích ý với các hương thơm của cõi trời và có các hương trầm có giá trị cao đã thổi đến liền khi ấy.
BJT 6324Và ở ngôi nhà tôi đã được sanh ra, chư Thiên đã tẩm hương thơm ngôi nhà ấy bằng mọi thứ hương thơm, bằng hương trầm và các bông hoa.
BJT 6325Và vào lúc tôi còn trẻ, hiền thiện, đang ở vào giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, khi ấy đấng Điều Phục Nhân đã hướng dẫn Sela cùng nhóm tùy tùng.
BJT 6326Cùng với tất cả những người ấy, Ngài đã ngự đến thành Sāvatthī. Sau khi nhìn thấy năng lực ấy của đức Phật, tôi đã xuất gia.
BJT 6327Sau khi làm cho phát triển bốn pháp: Giới, Định, Tuệ, và sự Giải Thoát vô thượng, tôi đã thành tựu sự đoạn tận các lậu hoặc.
BJT 6328Và vào lúc tôi đã được xuất gia, vào lúc tôi trở thành vị A-la-hán, và vào lúc tôi sẽ Niết Bàn, khi ấy sẽ có cơn mưa hương thơm.
BJT 6329Hương thơm ở cơ thể của tôi luôn luôn vượt trội các loại hương trầm, hương campaka, và hương sen vô cùng giá trị, tương tợ như thế ấy khi tôi đi nơi này nơi khác tôi tỏa ra hương thơm át hẳn tất cả các loại hương thơm khác về mọi phương diện.
BJT 6330Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 6331Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 6332Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Cūḷasugandha đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Cūḷasugandha là phần thứ mười.
Phẩm Bhaddiya là phẩm thứ năm mươi lăm.
Phần Tóm Lược:
Vị Bhaddiya, vị trưởng lão Revata, và vị Sīvali có lợi lộc lớn lao, vị Vaṅgīsa, vị Nandaka, và luôn cả vị Kāḷudāyi, và tương tợ là vị Abhaya, vị Lomasa, vị Vanavaccha, và vị Sugandha đã được thực hiện là thứ mười. Ở đây, có ba trăm câu kệ và mười sáu câu thêm vào đó nữa.
Giờ là phần tóm lược của các phẩm:
Phẩm tên Kaṇikāra, phẩm về vị dâng cúng trái cây, phẩm về vị dâng cúng cỏ, phẩm Kaccāna, và phẩm Bhaddiya. Và các câu kệ này đã được tính đếm ở đây là chín trăm và tám mươi bốn. Có năm trăm năm mươi ký sự đã được giảng giải. Cùng với các câu kệ tóm lược, đây là sáu ngàn hai trăm câu kệ và mười tám câu thêm vào đó nữa.
“Imamhi bhaddake kappe,
brahmabandhu mahāyaso;
Kassapo nāma gottena,
uppajji vadataṁ varo.
Anubyañjanasampanno,
bāttiṁsavaralakkhaṇo;
Byāmappabhāparivuto,
raṁsijālasamotthaṭo.
Assāsetā yathā cando,
sūriyova pabhaṅkaro;
Nibbāpetā yathā megho,
sāgarova guṇākaro.
Dharaṇīriva sīlena,
himavāva samādhinā;
Ākāso viya paññāya,
asaṅgo anilo yathā.
Tadāhaṁ bārāṇasiyaṁ,
upapanno mahākule;
Pahūtadhanadhaññasmiṁ,
nānāratanasañcaye.
Mahatā parivārena,
nisinnaṁ lokanāyakaṁ;
Upecca dhammamassosiṁ,
amataṁva manoharaṁ.
Dvattiṁsalakkhaṇadharo,
sanakkhattova candimā;
Anubyañjanasampanno,
sālarājāva phullito.
Raṁsijālaparikkhitto,
dittova kanakācalo;
Byāmappabhāparivuto,
sataraṁsī divākaro.
Soṇṇānano jinavaro,
samaṇīva siluccayo;
Karuṇā puṇṇahadayo,
guṇena viya sāgaro.
Lokavissutakitti ca,
sinerūva naguttamo;
Yasasā vitthato vīro,
ākāsasadiso muni.
Asaṅgacitto sabbattha,
anilo viya nāyako;
Patiṭṭhā sabbabhūtānaṁ,
mahīva munisattamo.
Anupalitto lokena,
toyena padumaṁ yathā;
Kuvādagacchadahano,
aggikhandhova sobhasi.
Agadho viya sabbattha,
kilesavisanāsako;
Gandhamādanaselova,
guṇagandhavibhūsito.
Guṇānaṁ ākaro vīro,
ratanānaṁva sāgaro;
Sindhūva vanarājīnaṁ,
kilesamalahārako.
Vijayīva mahāyodho,
mārasenāvamaddano;
Cakkavattīva so rājā,
bojjhaṅgaratanissaro.
Mahābhisakkasaṅkāso,
dosabyādhitikicchako;
Sallakatto yathā vejjo,
diṭṭhigaṇḍaviphālako.
So tadā lokapajjoto,
sanarāmarasakkato;
Parisāsu narādicco,
dhammaṁ desayate jino.
‘Dānaṁ datvā mahābhogo,
sīlena sugatūpago;
Bhāvanāya ca nibbāti’,
iccevamanusāsatha.
Desanaṁ taṁ mahassādaṁ,
ādimajjhantasobhanaṁ;
Suṇanti parisā sabbā,
amataṁva mahārasaṁ.
Sutvā sumadhuraṁ dhammaṁ,
pasanno jinasāsane;
Sugataṁ saraṇaṁ gantvā,
yāvajīvaṁ namassahaṁ.
Munino gandhakuṭiyā,
opuñjesiṁ tadā mahiṁ;
Catujjātena gandhena,
māse aṭṭha dinesvahaṁ.
Paṇidhāya sugandhattaṁ,
sarīravissagandhino;
Tadā jino viyākāsi,
sugandhatanulābhitaṁ.
‘Yo yaṁ gandhakuṭibhūmiṁ,
gandhenopuñjate sakiṁ;
Tena kammavipākena,
upapanno tahiṁ tahiṁ.
Sugandhadeho sabbattha,
bhavissati ayaṁ naro;
Guṇagandhayutto hutvā,
nibbāyissatināsavo’.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Pacchime ca bhave dāni,
jāto vippakule ahaṁ;
Gabbhaṁ me vasato mātā,
dehenāsi sugandhitā.
Yadā ca mātukucchimhā,
nikkhamāmi tadā purī;
Sāvatthisabbagandhehi,
vāsitā viya vāyatha.
Pupphavassañca surabhi,
dibbagandhaṁ manoramaṁ;
Dhūpāni ca mahagghāni,
upavāyiṁsu tāvade.
Devā ca sabbagandhehi,
dhūpapupphehi taṁ gharaṁ;
Vāsayiṁsu sugandhena,
yasmiṁ jāto ahaṁ ghare.
Yadā ca taruṇo bhaddo,
paṭhame yobbane ṭhito;
Tadā selaṁ saparisaṁ,
vinetvā narasārathi.
Tehi sabbehi parivuto,
sāvatthipuramāgato;
Tadā buddhānubhāvaṁ taṁ,
disvā pabbajito ahaṁ.
Sīlaṁ samādhipaññañca,
vimuttiñca anuttaraṁ;
Bhāvetvā caturo dhamme,
pāpuṇiṁ āsavakkhayaṁ.
Yadā pabbajito cāhaṁ,
yadā ca arahā ahuṁ;
Nibbāyissaṁ yadā cāhaṁ,
gandhavasso tadā ahu.
Sarīragandho ca sadātiseti me,
Mahārahaṁ candanacampakuppalaṁ;
Tatheva gandhe itare ca sabbaso,
Pasayha vāyāmi tato tahiṁ tahiṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā cūḷasugandho thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Cūḷasugandhattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Bhaddiyavaggo pañcapaññāsamo.
Tassuddānaṁ
Bhaddiyo revato thero,
mahālābhī ca sīvali;
Vaṅgīso nandako ceva,
kāḷudāyī tathābhayo.
Lomaso vanavaccho ca,
sugandho ceva dasamo;
Tīṇi gāthāsatā tattha,
soḷasā ca taduttari.
Atha vagguddānaṁ
Kaṇikāravhayo vaggo,
phalado tiṇadāyako;
Kaccāno bhaddiyo vaggo,
gāthāyo gaṇitā cimā.
Navagāthāsatānīha,
caturāsītiyeva ca;
Sapaññāsaṁ pañcasataṁ,
apadānā pakāsitā.
Saha udānagāthāhi,
chasahassāni hontimā;
Dvesatāni ca gāthānaṁ,
aṭṭhārasa taduttari.
Walt 6294 In this present lucky aeon
Brahmā’s Kinsman, Greatly Famed One,
known by the name of Kassapa,
Best Debater, Buddha, arose. Verse 1
Walt 6295 Possessing Eighty Lesser Marks,
Bearing the Thirty-Two Great Marks,
Having a Fathom-Wide Aura,
Gone into a Net of Light-Rays, Verse 2
Walt 6296 as Comforting as is the moon,
Maker of Light just like the sun,
Quenching just as does a raincloud,
a Mine of Gems like the ocean, Verse 3
Walt 6297 Through morals like earth; through wisdom
like the sky; through meditation
like Himalaya; like the wind
he does not stick to anything. Verse 4
Walt 6298 At that very time I was born
in Benares, in a big clan,
rich in grain and abundant wealth,
with heaps of various gemstones. Verse 5
Walt 6299 Approaching the Leader, who was
seated with a large retinue,
I heard him preaching the Dhamma,
undying, delighting the mind. Verse 6
Walt 6300 Bearing the Thirty-Two Marks like
the moon with the constellations,
Possessing Eighty Lesser Marks,
like a regal sal tree in bloom, Verse 7
Walt 6301 Encircled by a Net of Rays,
like a shining mountain of gold,
Having a Fathom-Wide Aura,
like the sun shining on a lake, Verse 8
Walt 6302 Excellent Golden-Faced Victor,
like a mountain made of gemstones,
with a Heart Full of Compassion,
like the ocean through his virtue. Verse 9
Walt 6303 The Ultimate Man, like Mt. Meru,
his Praises are Famous World-wide;
Widespread with Fame, the Great Hero,
the Sage, who is the Same as Space, Verse 10
Walt 6304 Heart Unattached in every place,
the Leader is thus like the wind;
Support for all living beings,
the Seventh Sage is like the earth. Verse 11
Walt 6305 Kassapa, Unsoiled by the World
like a pink lotus by water,
shines forth like a mountain of fire
Burning the Bad-Speech Undergrowth. Verse 12
Walt 6306 Everywhere, like an antidote,
he Destroys the Defilement-Poison,
Adorned with the Scent of Virtue,
like Gandhamādana Mountain. Verse 13
Walt 6307 The Hero’s a Mine of Virtues
like the ocean is of gemstones;
Thoroughbred Man like a Sindh horse,
he Carries Off Defilement’s Filth. Verse 14
Walt 6308 Like a champion great soldier,
he Crushes the Army of Death;
he is like a wheel-turning king,
Lord of Wisdom’s Seven Gems. Verse 15
Walt 6309 Just like a man of medicine,
he Doctors the Illness called Faults;
just like the very best surgeon,
he Drains the Abscess called False Views. Verse 16
Walt 6310 At that time, the Torch of the World,
Honored by Gods along with Men,
the Sun among Men, the Victor,
preached Dhamma to his retinue. Verse 17
Walt 6311 “Giving alms one becomes wealthy,
through morals one gains well-being,
through meditation, nirvana:”
thus indeed he gave instruction. Verse 18
Walt 6312 Everyone in the retinue
hears that, his very sweet preaching,
pure in beginning, middle, end,
very tasty, like ambrosia. Verse 19
Walt 6313 Having heard his honeyed Teaching,
pleased in Victor’s dispensation,
going to Buddha for refuge,
I praised him as long as I lived. Verse 20
Walt 6314-6315 At that time, for eight days each month,
I covered over the ground of
the perfumed hut where lived the Sage
with the four types of fragrant things,
out of my wish for that good smell
for my own odor-free body.
Then the Victor prophesied that
I’d attain that fragrant body: Verse 21-22
Walt 6316-6317 “He who covered over the ground
of my own perfumed hut with scents,
as the result of that karma,
while being reborn here and there,
this man will be one who has a
good-smelling body everywhere.
Having the fragrance of virtue,
he’ll reach nirvana, undefiled.” Verse 23-24
Walt 6318 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 25
Walt 6319 And now in my final rebirth,
I’m born in a clan of brahmins.
When I was dwelling in the womb,
my mother’s body was fragrant. Verse 26
Walt 6320 And when I was departing from
my mother’s womb, then the city,
Śrāvasti, was diffused with good
scents, as though it had been perfumed. Verse 27
Walt 6321 And a perfumed rain of flowers,
divinely-scented, delightful,
and very costly incense too,
was wafted about all that time. Verse 28
Walt 6322 And the gods rained down on that house,
the house in which I had been born,
a perfumed rain with all good-scented
types of incense and flowers too. Verse 29
Walt 6323 And while I, a lucky young man,
remained in the prime of my youth,
then the Charioteer of Men
guided Sela with retinue. Verse 30
Walt 6324 I too, along with all of them,
came to the city, Śrāvasti.
Seeing the Buddha’s majestic
power, I went forth at that time. Verse 31
Walt 6325 Morals, meditation, wisdom
and the freedom that’s unsurpassed;
cultivating those four things,
I attained my arahantship. Verse 32
Walt 6326 And when I was a renouncer,
and when I was an arahant,
and when I attained nirvana,
there was then a good-smelling rain. Verse 33
Walt 6327 The fragrance of my body is always blowing
costly sandalwood, champaka and blue lotus.
In just that way, gone here and there I’m perfuming,
suppressing all different scents in every respect. Verse 34
Walt 6328 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 35
Walt 6329 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 36
Walt 6330 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 37
Thus indeed Venerable Cūlasugandha Thera spoke these verses.
The legend of Cūlasugandha Thera is finished.
The Summary:
Bhaddiya, Elder Revata,
and Sīvalī, the great getter,
Vaṅgīsa, also Nandaka,
Kāḷudāyi, thus Ābhaya,
Lomasa and Vanavaccha,
and Sugandha done as the tenth.
There are three hundred verses here,
and also sixteen more than that.
Then there is the Summary of Chapters:
The chapter called Kaṇikāra,
Phalada, Tiṇadāyaka,
Kaccāna, Bhaddiya chapter;
the verses that are counted here
are nine hundred in this grouping
and exactly eighty-four more.
Five times one hundred plus fifty
apadānas are explained here.
Along with summary verses
these are six thousand verses here
and two hundred verses as well
plus eighteen verses more than that.
To that extent the Buddhāpadāna, Paccekabuddhāpadāna and Therāpadāna are finished. Let it be the basis for nirvana!
The Bhaddiya Chapter, the Fifty-Fifth