BJT 1401Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc không còn mầm mống tái sanh, ngồi ở vùng đồi núi đã lan tỏa với tâm từ ái ở thế gian vô hạn lượng.
BJT 1402Khi ấy, tôi đã là con khỉ ở ngọn núi Hi-mã-lạp tối thượng. Sau khi nhìn thấy đấng Anoma vô lượng, tôi đã làm cho tâm tịnh tín ở đức Phật.
BJT 1403Lúc bấy giờ, ở không xa núi Hi-mã-lạp có những cây xoài đã được kết trái. Tôi đã hái trái chín từ nơi ấy và đã dâng cúng trái xoài cùng với mật ong.
BJT 14041405. Đức Phật, bậc Đại Hiền Trí Anomadassī đã chú nguyện điều ấy cho tôi rằng: “Do cả hai việc là sự dâng cúng mật ong và sự dâng cúng trái xoài này, (người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong năm mươi bảy kiếp, và trong những kiếp còn lại sẽ luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người).
BJT 1406(Người ấy) sẽ làm cho nghiệp ác được loại trừ nhờ vào trí giác ngộ đã được hoàn toàn chín muồi, sẽ không đi đến đọa xứ, và sẽ thiêu đốt các phiền não.”
BJT 1407Tôi đã được huấn luyện với sự huấn luyện tối thượng bởi bậc Đại Ẩn Sĩ. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1408(Trước đây) bảy ngàn bảy trăm kiếp, mười bốn vị vua ấy có tên Ambaṭṭhaja đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1409Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ambadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ambadāyaka là phần thứ tám.
“Anomadassī bhagavā,
nisinno pabbatantare;
Mettāya aphari loke,
appamāṇe nirūpadhi.
Kapi ahaṁ tadā āsiṁ,
himavante naguttame;
Disvā anomadassiṁ taṁ,
buddhe cittaṁ pasādayiṁ.
Avidūre himavantassa,
ambāsuṁ phalino tadā;
Tato pakkaṁ gahetvāna,
ambaṁ samadhukaṁ adaṁ.
Taṁ me buddho viyākāsi,
anomadassī mahāmuni;
Iminā madhudānena,
ambadānena cūbhayaṁ.
Sattapaññāsakappamhi,
devaloke ramissati;
Avasesesu kappesu,
vokiṇṇaṁ saṁsarissati.
Khepetvā pāpakaṁ kammaṁ,
paripakkāya buddhiyā;
Vinipātamagantvāna,
kilese jhāpayissati.
Damena uttamenāhaṁ,
damitomhi mahesinā;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ.
Sattasattatikappasate,
ambaṭṭhajasanāmakā;
Catuddasa te rājāno,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ambadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ambadāyakattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.
Walt 1401 Anomadassi, Blessed One,
while sitting on a mountain did
spread this endless world with loving-
kindness, the One Without Desires. Verse 1
Walt 1402 I was a monkey at that time
in the supreme Himalayas.
Having seen Anoma, Boundless,
my heart was pleased in the Buddha. Verse 2
Walt 1403 In the Himalayan region
mango trees were bearing fruit then.
Therefore, taking a mango fruit
I gave it, with a honey-comb. Verse 3
Walt 1404 Anomadassi, the Great Sage,
Buddha prophesied this to me:
“because of both this honey-gift
and too this gift of mango fruit, Verse 4
Walt 1405 you’ll delight in the world of gods
for fifty-seven aeons hence.
You will transmigrate in a mix
for all the remaining aeons. Verse 5
Walt 1406 Having cast off evil karma
and with mature intelligence,
departing from this place of grief
you will destroy your defilements.” Verse 6
Walt 1407 I’ve been tamed by the Sage So Great
by means of the superb taming.
I’ve attained the unshaking state
beyond all conquest and defeat. Verse 7
Walt 1408 Seventy-seven aeons hence
there were fourteen different kings then
who were all named Ambaṭṭhaja
wheel-turning monarchs with great strength. Verse 8
Walt 1409 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Ambadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Ambadāyaka Thera is finished.
BJT 1401Đức Thế Tôn Anomadassī, bậc không còn mầm mống tái sanh, ngồi ở vùng đồi núi đã lan tỏa với tâm từ ái ở thế gian vô hạn lượng.
BJT 1402Khi ấy, tôi đã là con khỉ ở ngọn núi Hi-mã-lạp tối thượng. Sau khi nhìn thấy đấng Anoma vô lượng, tôi đã làm cho tâm tịnh tín ở đức Phật.
BJT 1403Lúc bấy giờ, ở không xa núi Hi-mã-lạp có những cây xoài đã được kết trái. Tôi đã hái trái chín từ nơi ấy và đã dâng cúng trái xoài cùng với mật ong.
BJT 14041405. Đức Phật, bậc Đại Hiền Trí Anomadassī đã chú nguyện điều ấy cho tôi rằng: “Do cả hai việc là sự dâng cúng mật ong và sự dâng cúng trái xoài này, (người ấy) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong năm mươi bảy kiếp, và trong những kiếp còn lại sẽ luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người).
BJT 1406(Người ấy) sẽ làm cho nghiệp ác được loại trừ nhờ vào trí giác ngộ đã được hoàn toàn chín muồi, sẽ không đi đến đọa xứ, và sẽ thiêu đốt các phiền não.”
BJT 1407Tôi đã được huấn luyện với sự huấn luyện tối thượng bởi bậc Đại Ẩn Sĩ. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1408(Trước đây) bảy ngàn bảy trăm kiếp, mười bốn vị vua ấy có tên Ambaṭṭhaja đã là các đấng Chuyển Luân Vương có oai lực lớn lao.
BJT 1409Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ambadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ambadāyaka là phần thứ tám.
“Anomadassī bhagavā,
nisinno pabbatantare;
Mettāya aphari loke,
appamāṇe nirūpadhi.
Kapi ahaṁ tadā āsiṁ,
himavante naguttame;
Disvā anomadassiṁ taṁ,
buddhe cittaṁ pasādayiṁ.
Avidūre himavantassa,
ambāsuṁ phalino tadā;
Tato pakkaṁ gahetvāna,
ambaṁ samadhukaṁ adaṁ.
Taṁ me buddho viyākāsi,
anomadassī mahāmuni;
Iminā madhudānena,
ambadānena cūbhayaṁ.
Sattapaññāsakappamhi,
devaloke ramissati;
Avasesesu kappesu,
vokiṇṇaṁ saṁsarissati.
Khepetvā pāpakaṁ kammaṁ,
paripakkāya buddhiyā;
Vinipātamagantvāna,
kilese jhāpayissati.
Damena uttamenāhaṁ,
damitomhi mahesinā;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ.
Sattasattatikappasate,
ambaṭṭhajasanāmakā;
Catuddasa te rājāno,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ambadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ambadāyakattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.