BJT 1444Ở không xa núi Hi-mã-lạp đã có hồ nước thiên nhiên rộng lớn được bao phủ bởi trăm loại lá cây và là chỗ cư ngụ của nhiều loại chim khác nhau.
BJT 1445Tôi đã tắm và đã uống nước tại nơi ấy, và tôi cư ngụ ở không xa. Tôi đã nhìn thấy bậc đứng đầu các vị Sa-môn đang di chuyển bằng đường không trung.
BJT 1446Biết được ý định của tôi, bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, ngay khi ấy đã từ cung trời ngự xuống đứng ở trên mặt đất.
BJT 1447Bằng cái sừng, tôi đã đem cỏ lại và đã dâng cúng chỗ ngồi. Đức Thế Tôn, đấng Lãnh Đạo cao cả của ba cõi, đã ngồi xuống ở tại chỗ ấy.
BJT 1448Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Tôi đã khom mình xuống di chuyển sang một bên trong lúc đang chiêm ngưỡng bậc Đại Hiền Trí.
BJT 1449Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh lên cõi Hóa Lạc Thiên, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc trải lót (chỗ ngồi).
BJT 1450Trước đây vào kiếp thứ nhì, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ mệnh danh Miga, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1451Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tiṇasantharadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Himavantassāvidūre,
mahājātassaro ahu;
Satapattehi sañchanno,
nānāsakuṇamālayo.
Tamhi nhatvā ca pitvā ca,
avidūre vasāmahaṁ;
Addasaṁ samaṇānaggaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Mama saṅkappamaññāya,
satthā loke anuttaro;
Abbhato oruhitvāna,
bhūmiyaṁṭhāsi tāvade.
Visāṇena tiṇaṁ gayha,
nisīdanamadāsahaṁ;
Nisīdi bhagavā tattha,
tisso lokagganāyako.
Sakaṁ cittaṁ pasādetvā,
avandi lokanāyakaṁ;
Paṭikuṭiko apasakkiṁ,
nijjhāyanto mahāmuniṁ.
Tena cittappasādena,
nimmānaṁ upapajjahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
santharassa idaṁ phalaṁ.
Ito dutiyake kappe,
miga sammatakhattiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tiṇasantharadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tiṇasantharadāyakattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.
Walt 1444 In the Himalayan region
there was a great lake full of life.
It was covered with lotuses
and was the lair of varied birds. Verse 1
Walt 1445 I was living in that region,
bathing and drinking in that lake.
I saw the Top Among the Monks
traveling across the sky then. Verse 2
Walt 1446 Discerning what I was thinking,
the Teacher, Peerless in the World,
having descended from the sky,
stood on the ground there at that time. Verse 3
Walt 1447 Taking some grass cut with a horn
I gave him a mat to sit on.
The Blessed One did sit down there,
Tissa the Guide of the Whole World. Verse 4
Walt 1448 Bringing pleasure to my own heart,
I then worshipped the World-Leader.
Crouched over I went off from there
thinking about the Sage so Great. Verse 5
Walt 1449 Due to that pleasure in my heart,
I was reborn in Nimmāna.
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of a mat-gift. Verse 6
Walt 1450 I was King Migasammata
in the second aeon ago,
a wheel-turner with great power,
possessor of the seven gems. Verse 7
Walt 1451 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Tiṇasanthāraka Thera spoke these verses.
The legend of Tiṇasanthāradāyaka Thera is finished.
BJT 1444Ở không xa núi Hi-mã-lạp đã có hồ nước thiên nhiên rộng lớn được bao phủ bởi trăm loại lá cây và là chỗ cư ngụ của nhiều loại chim khác nhau.
BJT 1445Tôi đã tắm và đã uống nước tại nơi ấy, và tôi cư ngụ ở không xa. Tôi đã nhìn thấy bậc đứng đầu các vị Sa-môn đang di chuyển bằng đường không trung.
BJT 1446Biết được ý định của tôi, bậc Đạo Sư, đấng Vô Thượng ở thế gian, ngay khi ấy đã từ cung trời ngự xuống đứng ở trên mặt đất.
BJT 1447Bằng cái sừng, tôi đã đem cỏ lại và đã dâng cúng chỗ ngồi. Đức Thế Tôn, đấng Lãnh Đạo cao cả của ba cõi, đã ngồi xuống ở tại chỗ ấy.
BJT 1448Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ đấng Lãnh Đạo Thế Gian. Tôi đã khom mình xuống di chuyển sang một bên trong lúc đang chiêm ngưỡng bậc Đại Hiền Trí.
BJT 1449Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã sanh lên cõi Hóa Lạc Thiên, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc trải lót (chỗ ngồi).
BJT 1450Trước đây vào kiếp thứ nhì, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ mệnh danh Miga, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1451Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tiṇasantharadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Himavantassāvidūre,
mahājātassaro ahu;
Satapattehi sañchanno,
nānāsakuṇamālayo.
Tamhi nhatvā ca pitvā ca,
avidūre vasāmahaṁ;
Addasaṁ samaṇānaggaṁ,
gacchantaṁ anilañjase.
Mama saṅkappamaññāya,
satthā loke anuttaro;
Abbhato oruhitvāna,
bhūmiyaṁṭhāsi tāvade.
Visāṇena tiṇaṁ gayha,
nisīdanamadāsahaṁ;
Nisīdi bhagavā tattha,
tisso lokagganāyako.
Sakaṁ cittaṁ pasādetvā,
avandi lokanāyakaṁ;
Paṭikuṭiko apasakkiṁ,
nijjhāyanto mahāmuniṁ.
Tena cittappasādena,
nimmānaṁ upapajjahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
santharassa idaṁ phalaṁ.
Ito dutiyake kappe,
miga sammatakhattiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tiṇasantharadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tiṇasantharadāyakattherassāpadānaṁ chaṭṭhaṁ.