BJT 1470Đấng Chiến Thắng tên Padumuttara là bậc thông suốt về tất cả các pháp. Là bậc đã (tự mình) rèn luyện được tháp tùng bởi các vị đã được rèn luyện, đấng Chiến Thắng đã rời khỏi thành phố.
BJT 1471Lúc bấy giờ, ở thành phố Haṁsavatī tôi đã là người làm tràng hoa. Tại nơi ấy bông hoa nào là tuyệt hảo, tôi đã cầm lấy ba bông hoa (ấy).
BJT 1472Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc Vô Nhiễm, ở lối đi ngược lại tại khu phố chợ. Sau khi nhìn thấy bậc Toàn Giác, vào lúc ấy tôi đây đã suy nghĩ như vầy:
BJT 1473“Ta được gì với những bông hoa này khi ta đem chúng dâng đến đức vua? Ta có thể đạt được ngôi làng, hoặc cánh đồng làng, hoặc ngàn đồng tiền?
BJT 1474Đấng Bảo Hộ Thế Gian là vị Điều Phục những ai chưa được điều phục, là bậc Trí Tuệ, là nguồn đem lại sự an lạc cho tất cả chúng sanh, sau khi cúng dường Ngài ta sẽ đạt được tài sản Bất Tử.”
BJT 1475Sau khi suy nghĩ như thế, tôi đã làm cho tâm của mình được tịnh tín. Khi ấy, tôi đã cầm ba đóa (hoa sen) màu đỏ và đã ném lên không trung.
BJT 1476Ngay khi vừa được tôi ném lên không trung, các bông hoa ấy đã xòe ra. Chúng duy trì tại nơi ấy ở trên đầu, có cuống hoa ở phía trên, miệng hoa ở phía dưới.
BJT 1477Sau khi nhìn thấy, bất cứ những ai thuộc loài người thì đã thốt lên tiếng hoan hô, chư Thiên ở trên không trung thì đã thể hiện hành động tán thán:
BJT 1478“Điều kỳ diệu đã xuất hiện ở thế gian nhờ vào tác động của đức Phật tối thượng. Tất cả chúng ta sẽ lắng nghe Giáo Pháp nhờ vào tác động của những bông hoa.”
BJT 1479Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đứng ở ngay tại đường lộ, đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1480“Người thanh niên nào đã cúng dường đức Phật bằng ba đóa sen hồng, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1481(Người này) sẽ sướng vui ở thế giới chư Thiên trong một trăm ngàn kiếp, và sẽ là vị Chúa của chư Thiên cai quản Thiên quốc ba mươi kiếp.
BJT 1482Ngay lập tức sẽ hiện ra cung điện tên Mahāvitthārika, có chiều dài ba trăm do-tuần, chiều rộng một trăm năm mươi do-tuần.
BJT 1483Và có bốn trăm ngàn tháp nhọn sẽ được hóa hiện ra, có các nhà mái nhọn cao quý, được đầy đủ các giường nằm rộng lớn.
BJT 1484Hàng trăm ngàn koṭi nàng tiên thiện xảo về điệu vũ và lời ca, lại còn được thuần thục về trình tấu nhạc cụ nữa, sẽ quây quần xung quanh.
BJT 1485(Người này) sẽ sống ở tại cung điện cao quý như thế ấy trong sự chộn rộn của đám nữ nhân, thường xuyên có cơn mưa bông hoa thuộc về cõi trời có màu đỏ.
BJT 1486Đồng thời sẽ có những bông hoa màu đỏ có kích thước bằng bánh xe treo lơ lửng ở chốt gắn tường bằng ngà voi ở bên ngoài cánh cửa, ở cổng chào.
BJT 1487Tại nơi ấy, bên trong cung điện cao quý được lót toàn bằng cánh hoa, (và các cánh hoa) sau khi được trải ra và phủ lên thì sẽ nhập chung với nhau ngay lập tức.
BJT 1488Các bông hoa màu đỏ tinh khiết ấy bao bọc xung quanh nơi cư ngụ một trăm do-tuần và tỏa ngát hương thơm cõi trời.
BJT 1489Và (người này) sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần. Lãnh thổ vương quốc là bao la, không thể đo lường bằng phương diện tính đếm.
BJT 1490Sau khi thọ hưởng hai sự thành tựu, không có tai họa, không có sự nguy khốn, khi kiếp sống cuối cùng được đạt đến (người này) sẽ chạm đến Niết Bàn.”
BJT 1491Quả nhiên đức Phật đã được tôi nhìn thấy rõ ràng, thương vụ đã được kinh doanh khéo léo; sau khi cúng dường ba đóa hoa sen hồng, tôi đã thọ hưởng ba sự thành tựu.
BJT 1492Hôm nay, tôi là người đã đạt được Giáo Pháp, đã được giải thoát một cách trọn vẹn. Có bông sen đỏ khéo nở rộ sẽ được duy trì ở trên đầu của tôi.
BJT 1493Trong lúc bậc Đạo Sư Padumuttara đang thuyết giảng về việc làm của tôi, đã có sự chứng ngộ Giáo Pháp của hàng ngàn chúng sanh và sinh mạng.
BJT 1494(Kể từ khi) tôi đã cúng dường đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ba đóa sen hồng.
BJT 1495Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch, tất cả các lậu hoặc đã được đoạn tận, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1496Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Tipadumiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Phần Tóm Lược:
Vị trưởng lão có tràng hoa, vị có sự suy tưởng về dấu chân, vị có sự suy tưởng (về đức Phật), vị dâng cúng củ sen, vị suy tưởng về một phần (vật thực), vị dâng cúng cỏ, (vị dâng cúng) kim khâu, vị có các bông hoa pāṭali, vị đứng chắp tay, vị có ba đóa sen hồng; (tổng cộng) có bảy mươi lăm câu kệ.
Phẩm Nāgasamāla là phẩm thứ tám.
“Padumuttaro nāma jino,
sabbadhammāna pāragū;
Danto dantaparivuto,
nagarā nikkhamī tadā.
Nagare haṁsavatiyaṁ,
ahosiṁ māliko tadā;
Yaṁ tattha uttamaṁ tīṇi,
padmapupphāni aggahiṁ.
‘Addasaṁ virajaṁ buddhaṁ,
paṭimaggantarāpaṇe;
Saha disvāna sambuddhaṁ,
evaṁ cintesahaṁ tadā.
Kiṁ me imehi pupphehi,
rañño upanitehi me;
Gāmaṁ vā gāmakhettaṁ vā,
sahassaṁ vā labheyyahaṁ.
Adantadamanaṁ vīraṁ,
sabbasattasukhāvahaṁ;
Lokanāthaṁ pūjayitvā,
lacchāmi amataṁ dhanaṁ’.
Evāhaṁ cintayitvāna,
sakaṁ cittaṁ pasādayiṁ;
Tīṇi lohitake gayha,
ākāse ukkhipiṁ tadā.
Mayā ukkhittamattamhi,
ākāse patthariṁsu te;
Dhāriṁsu matthake tattha,
uddhaṁvaṇṭā adhomukhā.
Ye keci manujā disvā,
ukkuṭṭhiṁ sampavattayuṁ;
Devatā antalikkhamhi,
sādhukāraṁ pavattayuṁ.
Accheraṁ loke uppannaṁ,
buddhaseṭṭhassa vāhasā;
Sabbe dhammaṁ suṇissāma,
pupphānaṁ vāhasā mayaṁ.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Vīthiyañhi ṭhito santo,
imā gāthā abhāsatha.
‘Yo so buddhaṁ apūjesi,
rattapadmehi māṇavo;
Tamahaṁ kittayissāmi,
suṇātha mama bhāsato.
Tiṁsakappasahassāni,
devaloke ramissati;
Tiṁsakappāni devindo,
devarajjaṁ karissati.
Mahāvitthārikaṁ nāma,
byamhaṁ hessati tāvade;
Tiyojanasatubbiddhaṁ,
diyaḍḍhasatavitthataṁ.
Cattārisatasahassāni,
niyyūhā ca sumāpitā;
Kūṭāgāravarūpetā,
mahāsayanamaṇḍitā.
Koṭisatasahassiyo,
parivāressanti accharā;
Kusalā naccagītassa,
vāditepi padakkhiṇā.
Etādise byamhavare,
nārīgaṇasamākule;
Vassissati pupphavasso,
dibbo lohitako sadā.
Bhittikhīle nāgadante,
dvārabāhāya toraṇe;
Cakkamattā lohitakā,
olambissanti tāvade.
Pattena pattasañchanne,
antobyamhavare imaṁ;
Attharitvā pārupitvā,
tuvaṭṭissanti tāvade.
Bhavanaṁ parivāretvā,
samantā satayojane;
Tepi padmā lohitakā,
dibbagandhaṁ pavāyare.
Pañcasattatikkhattuñca,
cakkavattī bhavissati;
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ.
Sampattiyo duve bhutvā,
anīti anupaddavo;
Sampatte pariyosāne,
nibbānaṁ pāpuṇissati’.
Sudiṭṭho vata me buddho,
vāṇijjaṁ supayojitaṁ;
Padmāni tīṇi pūjetvā,
anubhosiṁ tisampadā.
Ajja me dhammappattassa,
vippamuttassa sabbaso;
Supupphitaṁ lohitakaṁ,
dhārayissati matthake.
Mama kammaṁ kathentassa,
padumuttarasatthuno;
Satapāṇasahassānaṁ,
dhammābhisamayo ahu.
Satasahassito kappe,
yaṁ buddhamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
tipadumānidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
bhavā sabbe samūhatā;
Sabbāsavā parikkhīṇā,
natthi dāni punabbhavo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā tipadumiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Tipadumiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Nāgasamālavaggo aṭṭhamo.
Tassuddānaṁ
Nāgasamālo padasaññī,
saññakāluvadāyako;
Ekasaññī tiṇasanthāro,
sūcipāṭalipupphiyo;
Ṭhitañjalī tipadumī,
gāthāyo pañcasattati.
Walt 1470 The Victor Padumuttara,
the One Who Surpassed Everything,
the Tame One, with Tamed Retinue,
Victor, departed the city. Verse 1
Walt 1471 I was a garland-maker then
in the city, Haṁsavatī.
I picked up three flower-blossoms
which were the foremost flowers there. Verse 2
Walt 1472 I saw Buddha, Stainless One,
on the road inside the bazaar,
and having seen the Sambuddha
I thought in this way at that time: Verse 3
Walt 1473 “What use are these flowers to me
even if gifted to a king?
I might receive a village or
maybe a thousand village fields. Verse 4
Walt 1474 Doing pūjā to the World’s Lord
the Untamed-Tamer, the Wise One,
Who Conveys Bliss to All Beings,
I will receive boundless riches.” Verse 5
Walt 1475 After reflecting in this way
I brought pleasure to my own heart.
Picking up three red-colored ones
I threw those flowers in the air. Verse 6
Walt 1476 At the height to which I’d thrown them
they were well-spread-out in the sky
and held up over Buddha’s head,
stalks pointing up, with blossoms down. Verse 7
Walt 1477 Whatever people saw them there
then kept them thrown up in the air
and the lesser gods, in the sky,
let loose their cries of “Excellent!” Verse 8
Walt 1478 “A marvel’s produced in the world
because of him, the Best Buddha;
we all will hear the Teaching now
on account of these red flowers.” Verse 9
Walt 1479 Padumuttara, World-Knower,
Sacrificial Recipient,
the Teacher, standing on the road,
spoke these verses about me then: Verse 10
Walt 1480 “I shall relate details of him
who with red-colored lotuses
did this Buddha-pūjā just now;
all of you listen to my words: Verse 11
Walt 1481 He’ll delight in the world of gods.
for thirty thousand aeons hence.
For thirty aeons king of gods
he will exercise divine rule. Verse 12
Walt 1482 He will always have a mansion
that’s called Mahāvitthārikam,
three hundred leagues raised up in height;
one hundred and fifty leagues wide. Verse 13
Walt 1483 And it will have well-fashioned doors
fully forty lakhs in number.
It will have many gabled cells
containing large and perfect beds. Verse 14
Walt 1484 One trillion celestial nymphs
skilled in dancing and singing too
and well-trained in musical arts
will always encircle him there. Verse 15
Walt 1485 In a mansion such as this one
full of companies of women
there will be a rain of flowers
always, divine red-colored ones. Verse 16
Walt 1486 Red flowers of the size of wheels
are hanging there all of the time
on wall pegs and on clothes hooks too,
on door-bolts as well as arches. Verse 17
Walt 1487 On the inside of the mansion
spreading out then wrapping up in
floral blankets made of petals
they will snuggle here all the time. Verse 18
Walt 1488 Those pure flowers, red in color,
will perfume with their divine scents
a hundred leagues on every side
of that heavenly residence. Verse 19
Walt 1489 Five hundred times he’s going to be
a king who turns the wheel of law,
and he will have much local rule
innumerable by counting. Verse 20
Walt 1490 Having enjoyed the two-fold bliss,
unharmed by illegality,
at the conclusion of that bliss
nirvana will be seen by him” Verse 21
Walt 1491 Seeing Buddha was good for me;
my business was put to good use.
Doing pūjā with three flowers
I then enjoyed a three-fold bliss. Verse 22
Walt 1492 Today I’ve attained the Teaching
and I am now totally free;
blooming red flowers are carried
over the top of my own head. Verse 23
Walt 1493 When Teacher Padumuttara
was speaking of my karma then,
Dhamma-penetration occurred
for seven thousand living beings. Verse 24
Walt 1494 In the hundred thousand aeons
since I did that Buddha-pūjā,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of three lotuses. Verse 25
Walt 1495 I have burnt up my defilements;
all existence is destroyed.
All defilements are exhausted;
now there will be no more rebirth. Verse 26
Walt 1496 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 27
Thus indeed Venerable Tīṇipadumiya Thera spoke these verses.
The legend of Tīṇipadumiya Thera is finished.
The Summary:
Samāla and Padasaññī
Susañña, Āluvadāyaka,
Ekasaññī, Tiṇidada,
Sūcī, Pāṭalipupphiya,
Ṭhitañjalī, Tipadumī:
five and seventy verses.
The Nāgasamāla Chapter, the Eighth.