BJT 1160Ở thành phố Aruṇavatī, có vị Sát-đế-lỵ tên là Aruṇa. Con đã là người vợ của vị vua ấy. Có một lần con đã khiến (người) đưa con đi (du ngoạn).
BJT 1161Khi ấy, con đã đi đến nơi thanh vắng và ngồi xuống, con đã suy nghĩ như vầy: “Dầu đã đạt được vị thế xứng đáng, nhưng không điều lành nào đã được ta thực hiện!
BJT 1162Có lẽ ta sẽ đi đến địa ngục là nơi vô cùng nóng bức, khổ sở, có dáng vẻ rùng rợn, vô cùng khiếp đảm; điều này đối với ta là không có sự hoài nghi (nữa).”
BJT 1163Sau khi suy nghĩ như thế và sau khi đã làm cho tâm được mừng rỡ, con đã đi đến gặp đức vua và đã nói lời nói này:
BJT 1164“Tâu bệ hạ, chúng thiếp là phụ nữ luôn luôn đi theo sau người nam. Tâu vị Sát-đế-lỵ, xin hãy ban cho thiếp một vị sa-môn. Thiếp sẽ chăm lo về vật thực.”
BJT 1165Khi ấy, đức vua đã ban cho con (một) vị sa-môn có (các) giác quan đã được tu tập. Sau khi nhận lấy bình bát của vị ấy, con đã đặt đầy (bình bát) với vật thực thượng hạng.
BJT 1166Sau khi đã đặt đầy (bình bát) với vật thực thượng hạng, con đã đậy lại bằng tấm vải lớn trị giá một ngàn và đã dâng lên với tâm ý hớn hở.
BJT 1167Do nghiệp ấy đã được thực hiện tốt đẹp và do các nguyện lực của tác ý, sau khi từ bỏ thân nhân loại con đã đi đến cõi trời Đạo Lợi.
BJT 1168Con đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của một ngàn vị trời Đế Thích. Con đã được thiết lập vào ngôi hoàng hậu của một ngàn đấng Chuyển Luân Vương.
BJT 1169Vương quyền của địa phận là bao la, vô lượng về phương diện tính đếm. Từ đó, quả báu của nghiệp ấy còn có nhiều hình thức đa dạng khác nữa.
BJT 1170Màu da của con chính là màu của hoa sen, con là người nữ đẹp vô cùng, có dáng nhìn xinh xắn, được thành tựu toàn vẹn về cơ thể, được sanh vào nơi quyền quý, có sự lộng lẫy.
BJT 1171Khi đạt đến kiếp sống cuối cùng, con đã được sanh ra trong gia tộc Sakya, đứng đầu một ngàn nữ nhân của người con trai của (đức vua) Suddhodana.
BJT 1172Nhàm chán cuộc sống tại gia, con đã xuất gia vào đời sống không gia đình. Chưa đến đêm thứ bảy, con đã đạt được bốn Sự Thật.
BJT 1173Con không thể nào ước lượng được số lượng y phục, vật thực, thuốc men, và chỗ nằm ngồi; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1174Bạch đấng Hiền Trí, xin Ngài nhớ lại việc làm tốt đẹp trước đây của con. Bạch đấng Đại Hùng, nhiều thứ đã được con buông bỏ là nhằm mục đích về Ngài.
BJT 1175Kể từ khi con đã dâng cúng vật thí trước đây ba mươi mốt kiếp, con không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1176Con nhận biết hai cảnh giới là bản thể chư Thiên và nhân loại, con không biết đến cảnh giới nào khác; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1177Con được sanh vào gia tộc thượng lưu, có đại sảnh đường, có tài sản lớn lao, con không biết đến gia tộc nào khác; điều này là quả báu của món vật thực.
BJT 1178Sau khi luân hồi cõi này cõi khác, được thúc đẩy bởi nhân tố trong sạch con không nhìn thấy điều không vừa ý; (điều này) là quả báu đã được thực hiện với tâm hoan hỷ.
BJT 1179Bạch đấng Đại Hiền Trí, con đã có năng lực về các loại thần thông và thiên nhĩ giới, con đã có năng lực về trí biết tâm của người khác.
BJT 1180Con biết được đời sống trước đây, thiên nhãn được thanh tịnh, tất cả các lậu hoặc đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
BJT 1181Bạch đấng Đại Hùng, trí của con về ý nghĩa, về pháp, về ngôn từ, và tương tợ như thế về phép biện giải là được thành tựu trong sự hiện diện của Ngài.
BJT 1182Các phiền não của con đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi cái (đã được cởi trói), con sống không còn lậu hoặc.
BJT 1183Quả vậy, con đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy của đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 1184Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được con đắc chứng; con đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Tỳ khưu ni Uppaladāyikā trước mặt đức Thế Tôn đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão ni Uppaladāyikā là phần thứ ba.
“Nagare aruṇavatiyā,
aruṇo nāma khattiyo;
Tassa rañño ahuṁ bhariyā,
ekajjhaṁ cārayāmahaṁ.
Rahogatā nisīditvā,
evaṁ cintesahaṁ tadā;
‘Kusalaṁ me kataṁ natthi,
ādāya gamiyaṁ mama.
Mahābhitāpaṁ kaṭukaṁ,
ghorarūpaṁ sudāruṇaṁ;
Nirayaṁ nūna gacchāmi,
ettha me natthi saṁsayo’.
Evāhaṁ cintayitvāna,
pahaṁsetvāna mānasaṁ;
Rājānaṁ upagantvāna,
idaṁ vacanamabraviṁ.
‘Itthī nāma mayaṁ deva,
purisānittarā ahu;
Ekaṁ me samaṇaṁ dehi,
bhojayissāmi khattiya’.
Adāsi me tadā rājā,
samaṇaṁ bhāvitindriyaṁ;
Tassa pattaṁ gahetvāna,
paramannena pūrayiṁ.
Pūretvā paramaṁ annaṁ,
saha sugandhalepanaṁ;
Mahācelena chāditvā,
adāsiṁ tuṭṭhamānasā.
Tena kammena sukatena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Jahitvā mānusaṁ dehaṁ,
tāvatiṁsamagacchahaṁ.
Sahassadevarājūnaṁ,
mahesittamakārayiṁ;
Sahassacakkavattīnaṁ,
mahesittamakārayiṁ.
Padesarajjaṁ vipulaṁ,
gaṇanāto asaṅkhiyaṁ;
Nānāvidhaṁ bahuṁ aññaṁ,
tassa kammaphalaṁ tato.
Uppalasseva me vaṇṇo,
abhirūpā sudassanā;
Itthisabbaṅgasampannā,
abhijātā jutindharā.
Pacchime bhave sampatte,
ajāyiṁ sākiye kule;
Nārīsahassapāmokkhā,
suddhodanasutassahaṁ.
Nibbinditvā agārehaṁ,
pabbajiṁ anagāriyaṁ;
Sattamīrattisampattā,
catusaccamapāpuṇiṁ.
Cīvaraṁ piṇḍapātañca,
paccayaṁ sayanāsanaṁ;
Parimetuṁ na sakkomi,
piṇḍapātassidaṁ phalaṁ.
Yaṁ mayhaṁ pūritaṁ kammaṁ,
Kusalaṁ sarase muni;
Tuyhatthāya mahāvīra,
Paricattaṁ bahuṁ mayā.
Ekattiṁse ito kappe,
yaṁ dānamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
piṇḍapātassidaṁ phalaṁ.
Dve gatiyo pajānāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Aññaṁ gatiṁ na jānāmi,
piṇḍapātassidaṁ phalaṁ.
Ucce kule pajānāmi,
mahāsāle mahaddhane;
Aññe kule na jānāmi,
piṇḍapātassidaṁ phalaṁ.
Bhavābhave saṁsaritvā,
sukkamūlena coditā;
Amanāpaṁ na passāmi,
somanassakataṁ phalaṁ.
Iddhīsu ca vasī homi,
dibbāya sotadhātuyā;
Cetopariyañāṇassa,
vasī homi mahāmune.
Pubbenivāsaṁ jānāmi,
dibbacakkhu visodhitaṁ;
Sabbāsavā parikkhīṇā,
natthi dāni punabbhavo.
Atthadhammaniruttīsu,
paṭibhāne tatheva ca;
Ñāṇaṁ mama mahāvīra,
uppannaṁ tava santike.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavā.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ uppaladāyikā bhikkhunī bhagavato sammukhā imā gāthāyo abhāsitthāti.
Uppaladāyikātheriyāpadānaṁ tatiyaṁ.
Walt 1160 In Aruṇavatī City,
lived the kṣatriyan Aruṇa.
I was then the wife of that king;
in that place I was practicing. Verse 1
Walt 1161 Gone off alone and sitting down,
I then reflected on it like this:
“there’s no good karma done by me
to take along on my journey. Verse 2
Walt 1162 Am I not then going to hell,
burning red hot, very cruel,
with a gruesome form, and bitter?
For me there’s no doubt about that.” Verse 3
Walt 1163 Having thought it through in that way.
bringing pleasure to my own mind,
after going up to the king,
I spoke these words entreating him: Verse 4
Walt 1164 “O king, we who are called “women”
always follow behind our men.
Give me a single Buddhist monk;
I shall feed him, O kṣatriyan.” Verse 5
Walt 1165 At that time the king gave to me
a monk with senses well-controlled.
After picking up his alms bowl,
I filled it with exquisite food. Verse 6
Walt 1166 Filling it with exquisite food,
having removed a fine garment
which was valued at a thousand,
I gave it with a happy mind. Verse 7
Walt 1167 Due to that karma done very well,
with intention and firm resolve,
discarding my human body,
I went to Tāvatiṁsa then. Verse 8
Walt 1168 I was fixed in the chief queen’s place
of one thousand kings of the gods.
I was fixed in the chief queen’s place
of one thousand wheel-turning kings. Verse 9
Walt 1169 There was also much local rule,
innumerable by counting,
and there was much other, varied
fruit of that karma thereafter. Verse 10
Walt 1170 I’m always blue lotus-colored,
very beautiful, good-looking,
a woman endowed in all parts,
of noble birth and radiant. Verse 11
Walt 1171 When my last rebirth was attained
I was born in the Śākyan clan,
leader of one thousand women
attached to Suddhodana’s son. Verse 12
Walt 1172 Becoming wearied in the home,
I went forth into homelessness.
Before the seventh night occurred
I attained the Four Noble Truths. Verse 13
Walt 1173 I cannot count the gifts received,
monastic robes and alms to eat,
requisites as well as lodgings:
that’s the fruit of giving alms food. Verse 14
Walt 1174 O Sage, recall the good karma,
which formerly was done by me;
much of mine has been sacrificed
for the sake of you, Great Hero. Verse 15
Walt 1175 In the thirty-one aeons since
I gave that alms-giving back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of giving alms food. Verse 16
Walt 1176 I transmigrate in just two states:
as a goddess or a woman.
I do not know other rebirths;
that’s the fruit of giving alms food. Verse 17
Walt 1177 When human I‘m born in high clans,
which have big halls, very wealthy;
I do not witness lesser clans:
that’s the fruit of giving alms food. Verse 18
Walt 1178 Transmigrating life after life,
incited by my wholesome roots,
I do not see what does not please:
fruit of deeds done with happy mind. Verse 19
Walt 1179 I’ve mastered the superpowers
like the “divine ear” element.
I’m also a master, Great Sage,
of the knowledge in others’ hearts. Verse 20
Walt 1180 I remember my former lives;
my “divine eye” is purified.
All the defilements are destroyed;
I will not be reborn again. Verse 21
Walt 1181 In meaning and in the Teaching,
etymology and preaching,
this knowledge of mine was produced
in your presence, O Great Hero. Verse 22
Walt 1182 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 23
Walt 1183 Being in Best Buddha's presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 24
Walt 1184 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 25
Thus indeed the bhikkhunī Uppaladāyikā spoke these verses face to face with the Blessed One.
The legend of the bhikkhunī Uppaladāyikā is finished