Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajātasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.
SC 2PTS cs 2~2 Rồi Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn Vassakāra (Vũ-xá), đại thần nước Magadha
SC 3—Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.
- Ðại vương, xin vâng!
SC 4PTS cs 3~3 Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Rājagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, bạch Thế Tôn
SC 5—Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vọng”.
SC 6PTS cs 4~4 Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đứng quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 7—Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?
SC 8- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.
SC 9- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?
SC 10- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết.
SC 11- Này Ānanda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ānanda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?
SC 12- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa.
SC 13- Này Ānanda khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này không?
SC 14- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này.
SC 15- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?
SC 16- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.
SC 17- Này Ānanda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?
SC 18- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.
SC 19- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?
SC 20- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.
SC 21- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 22PTS cs 5~5 Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha
SC 23—Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesālī tại tự miếu Sārandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 24Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn
SC 25—Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
SC 26- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.
SC 27Bà-la-môn Vassakāra, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
SC 28PTS cs 6~6 Khi Bà-la-môn Vassakāra đi chưa bao lâu, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 29—Này Ānanda, hãy đi và tập họp tại giảng đường tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Rājagaha (Vương Xá).
SC 30- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 31Tôn giả Ānanda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn
SC 32—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
SC 33Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các vị Tỷ-kheo
SC 34—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
SC 35- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 36Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 37—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 38Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 39Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 40Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 41Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 42Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 43Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 44Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 45PTS cs 7~7 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 46- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 47Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:
SC 48Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 49Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 50Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 51Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 52Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 53Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 54Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 55Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 56PTS cs 8~8 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 57- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 58Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 59—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 60Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 61PTS cs 9~9 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 62- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 63Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói
SC 64—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 65Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 66PTS cs 10~10 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 67- Xin vâng bạch Thế Tôn!
SC 68Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 69—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 70Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 71PTS cs 11~11 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
SC 72- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 73Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 74—Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 75Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn giữ khẩu nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 76Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ ý nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 77Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu, mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 78Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 79Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 80Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 81PTS cs 12~12 Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu”.
SC 82PTS cs 13~13 Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ānanda
SC 83—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.
SC 84- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 85Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.
SC 86PTS cs 14~14 Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
SC 87- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 88PTS cs 15~15 Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ānanda
SC 89—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.
SC 90- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 91Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở Pavārikambavana (Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).
SC 92PTS cs 16~16 Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 93—Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.
SC 94- Này Sāriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: “Con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”. Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 95- Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 96- Này Sāriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm của Ngươi. “Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 97- Này Sāriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Như vậy, này Sāriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”?
SC 98PTS cs 17~17 - Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây có một người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo có thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
SC 99PTS cs 18~18 Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng Pavārikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
SC 100- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 101PTS cs 19~19 Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ānanda
SC 102—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pātaligāma.
SC 103- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 104Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pātaligāma.
SC 105PTS cs 20~20 Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pātaligāma được nghe Thế Tôn đã đến làng Pātaligāma. Các cư sĩ ở Pātaligāma đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các cư sĩ ở Pātaligāma bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 106PTS cs 21~21 Các cư sĩ ở Pātaligāma được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước, chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các cư sĩ ở Pātaligāma bạch Thế Tôn
SC 107—Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được rải cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.
SC 108PTS cs 22~22 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt phía Tây, đối diện Thế Tôn.
SC 109PTS cs 23~23 Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pātaligāma
SC 110—Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?
SC 111Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 112Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 113Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 114Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 115Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 116Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 117PTS cs 24~24 Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?
SC 118Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 119Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 120Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 121Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 122Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 123PTS cs 25~25 Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở Pātaligāma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy
SC 124—Này các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.
SC 125- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 126Các người cư sĩ của Pātaligāma vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pātaligāma đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.
SC 127PTS cs 26~26 Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pātaligāma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.
SC 128PTS cs 27~27 Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pātaligāma, Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ānanda
SC 129—Này Ānanda, ai đang xây dựng thành trì ở Pātaligāma?
SC 130- Sunidha và Vassakāra, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pātaligāma để ngăn chận dân Vajjì.
SC 131PTS cs 28~28 Này Ānanda, thật giống như đã hỏi ý kiến các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha và Vassakāra đang xây thành trì ở Pātaligāma để ngăn chận dân Vajjì. Này Ānanda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân Ta thấy hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pātaligāma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này Ānanda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi là Pātaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ānanda, Pātaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.
SC 132PTS cs 29~29 Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần nước Magadha, đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra bạch Thế Tôn: “Mong Thế Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 133PTS cs 30~30 Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cử người đến tin Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 134Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra tự tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát, Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.
SC 135PTS cs 31~31 Sau khi Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:
SC 136Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ.
Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.
SC 137Và san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy.
Ðược tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.
Ðược trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.
SC 138Chúng sẽ mến thương người ấy như người mẹ thương mến con.
Và những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy may mắn.
SC 139Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
SC 140PTS cs 32~32 Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đi sau lưng Thế Tôn và nói
:
SC 141 “Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được đặt tên là cửa Gotama”.
SC 142PTS cs 33~33 Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.
SC 143PTS cs 34~34 Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:
SC 144“Những ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm phu đang cột bè.
Những người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát”
Tụng phẩm II
SC 145PTS cs 1~35 Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kotigāma”
SC 146: “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigāma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigāma.
SC 147PTS cs 2~36 Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo
SC 148—Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
SC 149Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 150Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 151Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 152Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
SC 153Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
SC 154PTS cs 3~37 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm
SC 155—Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.
SC 156PTS cs 4~38 Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigāma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 157—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 158PTS cs 5~39 Thế Tôn, sau khi ở Kotigāma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 159—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nādika.
SC 160- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 161Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nādika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).
SC 162PTS cs 6~40 Rồi Tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 163—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sālada mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Tỷ-kheo ni Nandà mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung tại Nādika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung tại Nādika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Nikāya … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kaṭissabha … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuṭṭḥa … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Santuṭṭha … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Bhadda … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?
SC 164PTS cs 7~41 Này Ānanda, Tỷ-kheo Sātha diệt tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ānanda, Tỷ-kheo ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ānanda, nữ cư sĩ Sujāta diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này Ānanda, cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, cư sĩ Kalinga … Này Ānanda, cư sĩ Nikāya … Này Ānanda, cư sĩ Kaṭissabha … Này Ānanda, cư sĩ Tuṭṭḥa … Này Ānanda, cư sĩ Santuṭṭha … Này Ānanda, cư sĩ Bhadda … Này Ānanda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nāgita, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ mệnh chung tại Nādika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ānanda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nādika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác.
SC 165PTS cs 8~42 Này Ānanda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ānanda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ānanda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.
SC 166PTS cs 9~43 Này Ānanda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”. Này Ānanda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: “Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu”. Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến thiền định”.
SC 167Này Ānanda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.
SC 168PTS cs 10~44 Khi Thế Tôn ở Nādika, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 169—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 170PTS cs 11~45 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nādika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 171—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Vesālī.
SC 172- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 173Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn trú tại vườn Ambapāli.
SC 174PTS cs 12~46 Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo
SC 175—Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
SC 176Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời, đối với các cảm thọ … đối với tâm … đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.
SC 177PTS cs 13~47 Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác khi mang áo sanghati (tăng-già-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
SC 178PTS cs 14~48 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli được nghe: “Thế Tôn đã đến Vesālī và ở tại vườn xoài của ta”. Dâm nữ Ambapāli liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng với các cỗ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesālī và đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapāli đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 179Dâm nữ Ambapāli sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn
SC 180—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
SC 181Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapāli được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.
SC 182PTS cs 15~49 Các người Licchavi ở Vesālī được nghe: “Thế Tôn đến Vesālī hiện ở vườn Ambapāli”, liền cho thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesālī với những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Có những vị Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang sức màu trắng.
SC 183PTS cs 16~50 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm nữ Ambapāli
SC 184—Này Ambapāli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe?
SC 185- Này quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.
SC 186- Này Ambapāli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một trăm ngàn.
SC 187- Dầu quý Công tử có cho tôi cả thành Vesālī cùng với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.
SC 188Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói
SC 189—Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phỗng tay trên. Và các vị Licchavi này cùng đi đến vườn Ambapāli.
SC 190PTS cs 17~51 Thế Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống như chúng Tam thập tam thiên”.
SC 191PTS cs 18~52 Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 192Các vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch Thế Tôn
SC 193—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
SC 194- Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapāli rồi.
SC 195Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: “Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phỗng tay trên … ”
SC 196Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức Phật và từ biệt.
SC 197PTS cs 19~53 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli, đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”. Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapāli, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapāli tự tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, dùng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
SC 198Khi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ Ambapāli lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapāli bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ”.
SC 199Thế Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapāli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy ra về.
SC 200PTS cs 20~54 Trong thời gian Thế Tôn ở Vesālī, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 201—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 202PTS cs 21~55 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesālī cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 203—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.
SC 204- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 205Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú tại làng này.
SC 206PTS cs 22~56 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 207—Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh Vesālī tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở đây, tại làng Baluvà.
SC 208- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 209Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesālī tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.
SC 210PTS cs 23~57 Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.
SC 211PTS cs 24~58 Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 212—Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
SC 213PTS cs 25~59 Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ānanda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ānanda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ānanda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ānanda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
SC 214PTS cs 26~60 Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ānanda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
SC 215Này Ānanda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ … đối với tâm … đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ānanda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
SC 216Này Ānanda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Tụng phẩm III
SC 217PTS cs 1~61 Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trên đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ānanda
SC 218—Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến điện thờ Cāpāla, để nghỉ trưa.
SC 219- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 220Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
SC 221PTS cs 2~62 Thế Tôn đi đến điện thờ Cāpāla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ānanda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên
SC 222—Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay điện thờ Cāpāla.
SC 223PTS cs 3~63 Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
SC 224PTS cs 4~64 Nhưng Tôn giả Ānanda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.
SC 225PTS cs 5~65 Lần thứ hai Thế Tôn … lần thứ ba Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 226—Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay điện thờ Capala!” Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
SC 227Nhưng tôn giả Ānanda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.
SC 228PTS cs 6~66 Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 229—Này Ānanda hãy đi và làm những gì Ngươi nghĩ là phải thời.
SC 230- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 231Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.
SC 232PTS cs 7~67 Tôn giả Ānanda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn.
SC 233- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.
SC 234PTS cs 8~68 Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn, đã trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!
SC 235Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật … khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, và có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 236Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp một cách thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 237Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 238PTS cs 9~69 Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma: “Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 239PTS cs 10~70 Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:
SC 240Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như tháo áo giáp đang mang mặc.
SC 241PTS cs 11~71 Lúc bấy giờ, tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?”.
SC 242PTS cs 12~72 Rồi tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 243—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?
SC 244PTS cs 13~73 - Này Ānanda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ānanda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này Ānanda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.
SC 245PTS cs 14~74 Lại nữa này Ānanda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.
SC 246PTS cs 15~75 Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita (Ðâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.
SC 247PTS cs 16~76 Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến đại địa chấn động.
SC 248PTS cs 17~77 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến đại địa chấn động.
SC 249PTS cs 18~78 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn động.
SC 250PTS cs 19~79 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
SC 251PTS cs 20~80 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động. Này Ānanda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa chấn động.
SC 252PTS cs 21~81 Này Ānanda, có tám chúng. Thế nào là tám? Chúng Sát-đế-Lỵ, chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Bốn Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên.
SC 253PTS cs 22~82 Này Ānanda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát -đế-lỵ hơn một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của chúng Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như vậy; giọng nói chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Ngươi chăng?”.
SC 254PTS cs 23~83 Này Ānanda. Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Bà-la-môn hơn một trăm lần … chúng Cư sĩ … chúng Sa-môn … chúng Bốn Thiên vương … chúng Tam thập tam thiên … chúng Ma … chúng Phạm thiên hơn trăm lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào, dung sắc của Ta cũng vậy; giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất đó là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Này Ānanda, như vậy là tám chúng.
SC 255PTS cs 24~84 Này Ānanda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?
SC 256PTS cs 25~85 Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.
SC 257PTS cs 26~86 Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.
SC 258PTS cs 27~87 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.
SC 259PTS cs 28~88 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.
SC 260PTS cs 29~89 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.
SC 261PTS cs 30~90 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông Kaṇikāra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, tướng sắc vàng hình sắc vàng—như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.
SC 262PTS cs 31~91 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.
SC 263PTS cs 32~92 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Này Ānanda như vậy là tám thắng xứ.
SC 264PTS cs 33~93 Này Ānanda, tám giải thoát. Thế nào là tám?
SC 265Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.
SC 266Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.
SC 267Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải thoát thứ ba.
SC 268Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ; đó là sự giải thoát thứ tư.
SC 269Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.
SC 270Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu.
SC 271Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.
SC 272Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.
SC 273Này Ānanda, như vậy là tám giải thoát.
SC 274PTS cs 34~94 Này Ānanda, một thời Ta ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Ajapālanigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ānanda, lúc bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền đứng một bên. Này Ānanda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
SC 275PTS cs 35~95 Này Ānanda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma
:
SC 276 “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 277Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 278Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 279Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 280Này Ác ma, Ta không diệt độ khi nào phạm hạnh mà Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.
SC 281PTS cs 36~96 Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Ác ma đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ānanda, Ác ma đứng một bên nói với Ta như sau:
SC 282“Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 283Bạch Thế Tôn đây là lời Thế Thôn đã nói: “Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta …; khi nào những cư sĩ của Ta …; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
SC 284PTS cs 37~97 Khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:
SC 285“Này Ác ma, hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 286Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa).
SC 287PTS cs 38~98 Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 288—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.
SC 289- Thôi đi, này Ānanda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ānanda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.
SC 290PTS cs 39~99 Lần thứ hai, tôn giả Ānanda … Lần thứ ba, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 291—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
SC 292- Này Ānanda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?
SC 293- Bạch Thế Tôn, con có tin!
SC 294- Vậy, này Ānanda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.
SC 295PTS cs 40~100 - Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: “Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc … Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.
SC 296- Này Ānanda, Ngươi có tin tưởng không?
SC 297- Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!
SC 298- Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 299PTS cs 41~101 Này Ānanda, một thời Ta ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu (Gijjha Kūṭa). Tại đấy Ta nói với ngươi: “Này Ānanda, khả ái thay thành Vương Xá! Khả ái thay núi Linh Thứu! Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.
SC 300PTS cs 42~102 Này Ānanda, một thời Ta ở thành Vương Xá, tại Nigrodhārāma … Ta cũng ở thành Vương Xá tại Corapapāta … Ta cũng ở thành Vương Xá, hang Sattapaṇṇi trên núi Vebhāra … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại hang đá Kāla, trên núi Isigili … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại khu rừng Sīta trong hang đá Sappasoṇḍikā … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại Tapodārāma … Ta cũng ở thành Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại rừng Jìvakambavana … Ta cũng ở thành Vương Xá tại Maddakucchi ở Lộc Uyển.
SC 301PTS cs 43~103 Này Ānanda, tại đấy Ta nói: “Này Ānanda, khả ái thay thành Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả ái thay Nigrodhārāma, khả ái thay Corapapāta, khả ái thay hang Sattapaṇṇi trên núi Vebhāra, khả ái thay hang đá Kāla trên núi Isigili, khả ái thay hang đá Sappasoṇḍikā trong rừng Sìta, khả ái thay suối nước nóng Tapodārāma, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả ái thay rừng Jìvakambavana, khả ái thay vườn Nai ở tại Maddakucchi”!
SC 302PTS cs 44~104 “Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.
SC 303PTS cs 45~105 Này Ānanda, một thời Ta ở Vesālī tại điện thờ Udena. Tại đấy, này Ānanda, Ta cũng nói. “Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena. Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Như Lai: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 304PTS cs 46~106 Này Ānanda, một thời Ta ở thành Vesālī tại điện thờ Gotamaka … ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Sattambaka … Ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Bahuputta … Ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Sārandada …
SC 305PTS cs 47~107 Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Ta nói với ngươi: “Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattamba, khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay đền Cāpāla. Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 306PTS cs 48~108 Này Ānanda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ānanda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy. Này Ānanda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: “Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy.
SC 307Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến giảng đường Kùtagàra tại rừng Ðại Lâm.
SC 308- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 309Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 310PTS cs 49~109 Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ānanda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 311—Này Ānanda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo sống ở gần Vesālī tụ họp tại giảng đường này.
SC 312- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 313Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesālī tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 314—Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
SC 315PTS cs 50~110 Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo
SC 316—Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
SC 317PTS cs 51~111 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 318—Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
SC 319Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
SC 320Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Tụng phẩm IV
SC 321PTS cs 1~112 Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesālī với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ānanda
SC 322—Này Ānanda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesālī. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Bhaṇḍagāma.
SC 323- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 324Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhaṇḍagāma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Bhaṇḍagāma.
SC 325PTS cs 2~113 Rồi Thế Tôn nói với Tỷ-kheo
SC 326—Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.
SC 327PTS cs 3~114 Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
SC 328Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng đã chứng ngộ.
Ðấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỷ-kheo.
Ðạo Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.
SC 329PTS cs 4~115 Trong thời gian Thế Tôn ở tại Bhaṇḍagāma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 330—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 331PTS cs 5~116 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhaṇḍagāma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền nói với tôn giả Ānanda
SC 332—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam … Ambagāma … Jambugāma…, hãy đi đến Bhoganagara.
SC 333PTS cs 6~117 - Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 334Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.
SC 335PTS cs 7~118 Tại đây, Thế Tôn ở Bhoganagara tại đền Ānanda, Ngài nói với các Tỷ-kheo
SC 336—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 337- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 338Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau
SC 339PTS cs 8~119—Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Này Hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 340PTS cs 9~120 Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 341PTS cs 10~121 Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 342PTS cs 11~122 Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 343Này các Tỷ-kheo, bốn Ðại giáo pháp này, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 344PTS cs 12~123 Trong khi Thế Tôn ở tại Bhoganagara, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 345—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 346PTS cs 13~124 Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 347—Này Ānanda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.
SC 348- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 349Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt.
SC 350PTS cs 14~125 Thợ sắt Cunda nghe: “Nay Thế Tôn đã đến Pàvà và hiện đang ở trong vườn xoài của ta”. Rồi thợ sắt Cunda đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 351PTS cs 15~126 Và thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 352PTS cs 16~127 Thợ sắt Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt.
SC 353PTS cs 17~128 Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và nhiều thứ Sùkara-maddava (một loại mộc nhĩ), và báo tin cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 354PTS cs 18~129 Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda
SC 355—Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỷ-kheo.
SC 356- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 357Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.
SC 358PTS cs 19~130 Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda
SC 359—Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
SC 360- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 361Thợ sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 362PTS cs 20~131 Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
SC 363Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 364—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kusināra.
SC 365- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 366Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 367Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
“Ta đi đến thành Kusināra”.
SC 368PTS cs 21~132 Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ānanda
SC 369—Này Ānanda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ānanda.
SC 370- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 371Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.
SC 372PTS cs 22~133 Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ānanda
SC 373—Này Ānanda, hãy đem nước cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 374Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 375—Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
SC 376PTS cs 23~134 Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 377—Này Ānanda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 378Lần thứ hai tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 379—Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
SC 380PTS cs 24~135 Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 381—Này Ānanda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 382- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 383Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ānanda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.
SC 384PTS cs 25~136 Tôn giả Ānanda tự nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục”. Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài
SC 385—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
Và Thế Tôn uống nước.
SC 386PTS cs 26~137 Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alāra Kālāma đang đi trên con đường từ Kusināra đến Pàvà.
SC 387Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế Tôn
SC 388—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!
SC 389PTS cs 27~138 Bạch Thế Tôn, thuở xưa, ngài Alāra Kālāma đang đi trên đường. Rồi ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây, không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua gần ngài Alāra Kālāma. Bạch Thế Tôn, có một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy, đễn chỗ ngài Alāra Kālāma và nói với ngài: “Tôn giả có thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua không?”: “Này Hiền giả, ta không thấy”. “Tôn giả có nghe tiếng không?”: “Này Hiền giả, ta không nghe tiếng”. “Có phải Tôn giả đang ngủ không?”: “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. “Vậy có phải Tôn giả đang thức tỉnh?”: “Này Hiền giả, ta đang thức tỉnh”. “Tôn giả đang thức tỉnh nhưng không thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe thấy tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả cũng bị lấm bụi”. “Này Hiền giả, phải, áo ta bị lấm bụi”.
SC 390Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh, còn thức nhưng không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng”. Sau khi tỏ sự thâm tín đối với ngài Alāra Kālāma, vị ấy từ biệt.
SC 391PTS cs 28~139 - Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh, còn thức mà không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng?
SC 392PTS cs 29~140 - Bạch Thế Tôn, nói gì đến năm trăm cỗ xe này, cho đến hoặc sáu trăm, hoặc bảy trăm, hoặc tám trăm, hoặc chín trăm, hoặc một ngàn, cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng không thể so sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy cũng không nghe tiếng.
SC 393PTS cs 30~141 - Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà đập lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ Atumà đi ra đến tại chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết …
SC 394PTS cs 31~142 Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa, Này Pukkusa, có một người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chờ Ta, đảnh lễ và đứng một bên. Và Ta nói với người ấy đang đứng một bên:
SC 39532: “Này Hiền giả, vì sao có số đông người tụ họp như vậy?” —Bạch Thế Tôn vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy mà có số đông người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?”: “Này Hiền giả, lúc ấy Ta ở tại đây”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả sao?”: “Này Hiền giả, Ta không thấy gì”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?”: “Này Hiền giả, Ta không nghe tiếng gì?”: “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ, phải không?”: “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?”: “Này Hiền giả, phải”. “Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết, nhưng Ngài không thấy, cũng không nghe gì”.—Này Hiền giả, phải như vậy”.
SC 396PTS cs 33~143 Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức tỉnh, dầu có mưa tầm tã ào ào, điện quang chói lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết mà không thấy gì, không nghe gì hết”. Sau khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt.
SC 397PTS cs 34~144 Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Mallà bạch Thế Tôn
SC 398—Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với ngài Alāra, Kālāma, nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 399PTS cs 35~145 Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: “Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc”. “Tôn giả, xin vâng”. Người ấy vâng lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.
SC 400Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói
SC 401—Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.
SC 402- Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ānanda một áo.
SC 403- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 404Pukkusa, dòng họ Mallà vâng lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ānanda.
SC 405PTS cs 36~146 Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
SC 406PTS cs 37~147 Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả Ānanda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 407—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi.
SC 408- Thật vậy, này Ānanda. Này Ānanda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai? Này Ānanda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa. Này Ānanda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói.
SC 409PTS cs 38~148 Này Ānanda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sāla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sāla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.
SC 410- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 411Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn:
SC 412Cặp áo kim sắc này.
Pukkusa mang đến.
Ðắp áo kim sắc này,
Da Ðạo Sư sáng chói.
SC 413PTS cs 39~149 Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka
SC 414—Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
SC 415- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 416Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.
SC 417PTS cs 40~150 Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.
SC 418PTS cs 41~151
SC 419Ðức Phật tự đi đến
Con sông Kakutthà.
Con sông chảy trong sáng.
Mát lạnh và thanh tịnh.
Vị Ðạo Sư mỏi mệt
Ði dần xuống mé sông.
Như Lai đấng Vô Thượng
Ngự trị ở trên đời
Tắm xong, uống nước xong,
Lội qua bên kia sông.
Bậc Ðạo Sư đi trước,
Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,
Vừa đi vừa diễn giảng.
Chánh pháp thật vi diệu.
Rồi bậc Ðại Sĩ đến,
Tại khu vực rừng xoài.
Cho gọi vị Tỷ-kheo,
Tên họ Cundaka:
“Hãy gấp tư áo lại,
Trải áo cho ta nằm.
Nghe dạy, Cundaka
Lập tức vâng lời dạy,
Gấp tư và trải áo,
Một cách thật mau lẹ.
Bậc Ðạo Sư nằm xuống
Thân mình thật mệt mỏi.
Tại đây Cundaka,
Ngồi ngay phía trước mặt.
SC 420PTS cs 42~152 Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 421—Này Ānanda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: “Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt”. Này Ānanda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: “Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: “Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai? Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền”.
SC 422Này Ānanda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.
SC 423PTS cs 43~153 Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm khái như sau:
SC 424Công đức người bố thí,
Luôn luôn được tăng trưởng,
Trừ được tâm hận thù.
Không chất chứa, chế ngự,
Kẻ chí thiện từ bỏ.
Mọi ác hạnh bất thiện,
Diệt trừ tham, sân, si.
Tâm giải thoát thanh tịnh.
Tụng phẩm V
SC 425PTS cs 1~154 Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 426—Này Ānanda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hiraṇṇavatī, đến ở Kusinàrà—Upavattana—rừng Sālā của dòng họ Màllà.
SC 427- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 428Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 429Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hiraṇṇavatī, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sālā của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ānanda
SC 430—Này Ānanda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sālā song thọ: này Ānanda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
SC 431- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 432Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sālā song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.
SC 433PTS cs 2~155 Lúc bấy giờ, cây sālā song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandārava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
SC 434PTS cs 3~156 Rồi Như Lai nói với tôn giả Ānanda
SC 435—Này Ānanda, các cây sālā song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandārava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
SC 436Nhưng, này Ānanda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ānanda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ānanda, các Người phải học tập như vậy.
SC 437PTS cs 4~157 Lúc bấy giờ, tôn giả Upavāna đứng trước mặt Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.”
SC 438Tôn giả Ānanda, liền tự suy nghĩ: “Ðại đức Upavāna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”. Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta”?
SC 439PTS cs 5~158 Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 440—Ðại đức Upavāna này là thị giả, sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.” Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”?
SC 441—Này Ānanda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ānanda, cho đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sālā thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy những Thiên thần có uy lực tụ họp. Này Ānanda, các vị Thiên Thần đang than phiền: “Chúng ta từ rất xa đến chiêm ngưỡng Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh cuối cùng, Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỷ-kheo có oai lực này lại đứng ngang trước Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Như Lai trong giờ phút cuối cùng”. Này Ānanda, các chư Thiên than phiền như vậy.
SC 442PTS cs 6~159 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?
SC 443- Này Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 444Này Ānanda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại:
SC 445“Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 446Có chư Thiên đã diệt trừ ái dục, những vị này bình thản, tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao sự kiện có thể khác được?”
SC 447PTS cs 7~160 —Bạch Thế Tôn, thuở trước các Tỷ-kheo sau khi thọ an cư, từ các địa phương đến chiêm ngưỡng Như Lai, chúng con được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nhập diệt, chúng con sẽ không được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện.
SC 448PTS cs 8~161 - Này Ānanda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?
SC 449“Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”. Này Ānanda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 450“Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 451“Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 452“Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 453Này Ānanda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ānanda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy tư: “Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”, “Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”.
SC 454Này Ānanda, những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.
SC 455PTS cs 9~162 —Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
SC 456—Này Ānanda, chớ có thấy chúng.
SC 457—Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
SC 458—Này Ānanda, chớ có nói chuyện với chúng.
SC 459—Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
SC 460—Này Ānanda, phải an trú chánh niệm.
SC 461PTS cs 10~163 —Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự thân xá-lợi Như Lai như thế nào?
SC 462—Này Ānanda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề cung kính thân xá-lợi của Như Lai. Này Ānanda, các Người hãy nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần mẫn, chuyên hướng về tự độ. Này Ānanda, có những học giả Sát-đế-lỵ, những học giả Bà-la-môn, những học giả gia chủ thâm tín Như Lai, những vị này sẽ lo cho sự cung kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.
SC 463PTS cs 11~164 —Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai như thế nào?
SC 464—Này Ānanda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương như thế nào, hãy xử sự thân xá-lợi Như Lai như vậy.
SC 465—Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân chuyển luân Thánh vương như thế nào?
SC 466—Này Ānanda, thân của Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt vào trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân của vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này và tại ngã tư đường, tháp của vị Chuyển luân Thánh vương được xây dựng lên. Này Ānanda, đó là pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương.
SC 467Này Ānanda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp, hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
SC 468PTS cs 12~165 Này Ānanda, bốn hạng người sau này đáng được xây tháp. Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xứng đáng xây tháp. Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Ðệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
SC 469Này Ānanda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri. ” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ sanh lên thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp.
SC 470Này Ānanda, vì lý do gì, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn Ðộc Giác Phật”. ” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp.
SC 471Này Ānanda, vì lý do gì, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp đệ tử Thanh Văn của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp.
SC 472Này Ānanda, vì lý do gì, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của vị Pháp vương trị vì đúng pháp.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
SC 473Này Ānanda, đó là bốn hạng người xứng đáng xây tháp.
SC 474PTS cs 13~166 Rồi tôn giả Ānanda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”
SC 475Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 476—Này các Tỷ-kheo, Ānanda ở tại đâu?
SC 477—Bạch Thế Tôn, tôn giả Ānanda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”
SC 478Thế Tôn liền nói với một Tỷ-kheo
SC 479—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với Ānanda: “Này Hiền giả Ānanda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”
SC 480—Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 481Vị Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tôn giả Ānanda, sau khi đến, liền nói với tôn giả: “Này Hiền giả Ānanda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”: “Thưa vâng, Hiền giả. ” Tôn giả Ānanda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
SC 482PTS cs 14~167 Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda đang ngồi một bên
SC 483—Thôi vừa rồi, Ānanda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than. Này Ānanda, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này Ānanda làm sao được có sự kiện này: “Các pháp sanh, trú, hữu vi, biến hoại đừng có bị tiêu diệt?” Không thể có sự kiện như vậy được. Này Ānanda, đã lâu ngày, ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng. Này Ānanda, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.
SC 484PTS cs 15~168 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 485—Này các Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những bậc Thế Tôn này đều có những thị giả tối thắng như Ānanda của Ta. Này Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thời vị lai, những bậc Thế Tôn này cũng sẽ có những vị thị giả tối thắng như Ānanda của Ta vậy.
SC 486Này các Tỷ-kheo, Ānanda là người có trí và hiểu rõ: “Nay đúng thời để các Tỷ-kheo yết kiến Thế Tôn, nay đúng thời để các Tỷ-kheo ni, nay đúng thời để các nam cư sĩ, nay đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để các vua chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn!”
SC 487PTS cs 16~169 Này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ cựu, hy hữu. Thế nào là bốn?
SC 488Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Tỷ-kheo đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ānanda làm thinh thời, này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo ấy sẽ thất vọng.
SC 489Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo ni…, chúng nam cư sĩ … chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ, vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp và nếu Ānanda làm thinh thời này các Tỷ-kheo, chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.
SC 490Này các Tỷ-kheo, vị Chuyển luân Thánh vương có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu.
SC 491Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ … chúng Bà-la-môn … chúng gia chủ … chúng Sa-môn đến yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương, chúng sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương và nếu vị Chuyển luân Thánh vương nói chuyện, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài nói chuyện, và nếu vị Chuyển luân Thánh vương làm thinh thời chúng Sa-môn ấy sẽ thất vọng.
SC 492Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu. Nếu có chúng Tỷ-kheo … chúng Tỷ-kheo ni … chúng nam cư sĩ … chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ānanda làm thinh, thời này các Tỷ-kheo chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.
SC 493Này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu như vậy.
SC 494PTS cs 17~170 Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 495—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Rājagaha (Vương Xá), Sāvatthi (Xá-vệ), Sāketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiều-thương-di), Bārānasī (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, có đại chúng Sát-đế-lỵ, có đại chúng Bà-la-môn, có đại chúng gia chủ rất tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.
SC 496—Này Ānanda, chớ có nói như vậy, này Ānanda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc.
SC 497PTS cs 18~171 Này Ānanda, thuở xưa có vị vua tên là Mahāsudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển luân vương, trị vì như pháp, là vị pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ānanda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Mahāsudassana, tên là Kusāvātī (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến bảy do tuần.
SC 498Này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, dân chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Này Ānanda, cũng như kinh đô Āḷakamandā của chư thiên rất phồn thịnh, phú cường dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú, cũng vậy này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, nhân chúng sung mãn.
SC 499Này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này, ngày đêm vang dậy chín loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi”.
SC 500PTS cs 19~172 Này Ānanda, hãy đi vào Kusinàrà và nói với dân Mallà Kusinàrà: “Này các Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng, Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 501- Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.
SC 502- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 503Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, đắp y, đem theo y bát và cùng một vị khác làm bạn đồng hành đi vào Kusinàrà.
SC 504PTS cs 20~173 Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công sự. Tôn giả Ānanda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà. Sau khi đến, tôn giả liền nói vói dân Mallà ở Kusinàrà
SC 505—Này Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng Như Lai sẽ diệt độ, Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.
SC 506PTS cs 21~174 Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ānanda nói như vậy, liền đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não. Kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 507Và dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não, đi đến Upavattana, khu rừng Sālā của dòng họ Mallà và đến chỗ tôn giả Ānanda.
SC 508PTS cs 22~175 Tôn giả Ānanda tự nghĩ: “Nếu ta để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn từng người một, thời đêm sẽ tàn trước khi Thế Tôn được tất cả dân Mallà đảnh lễ. Vậy ta hãy để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ theo từng gia tộc”.
SC 509- Bạch Thế Tôn, gia tộc Mallà này với vợ con, đồ chúng, bạn bè đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 510Và tôn giả Ānanda, theo phương tiện này trong canh một, khiến dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn.
SC 511PTS cs 23~176 Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Subhadda ở tại Kusinàrà. Du sĩ ngoại đạo Subhadda được nghe: “Tối nay canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”.
SC 512Và du sĩ ngoại đạo Subhadda suy nghĩ: “Ta nghe các du sĩ ngoại đạo niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu. Và đêm nay, vào canh cuối cùng Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm ta. Ta tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp và giải được nghi vấn cho ta”.
SC 513PTS cs 24~177 Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana, khu rừng Sāla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ānanda và thưa với tôn giả
SC 514—Hiền giả Ānanda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ānanda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 515Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 516—Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
SC 517Lần thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda … Lần thứ ba, du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ānanda
SC 518—Hiền giả Ānanda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ānanda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 519Lần thứ ba, tôn giả Ānanda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 520—Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
SC 521PTS cs 25~178 Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả Ānanda với du sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ānanda
SC 522—Thôi Ānanda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ānanda, hãy để cho Subhadda được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi Ta là hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta. Và những gì Ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý nghĩa một cách mau lẹ.
SC 523Tôn giả Ānanda liền nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 524—Này Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã cho phép Hiền giả.
SC 525PTS cs 26~179 Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ Thế Tôn, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn
SC 526—Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các ngài Pārana Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalì, Pakudha Kaccāyana, Sanjaya Bellaṭṭhiputta, Nigaṇṭha Nātaputta, tất cả những vị này có phải là giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ?
SC 527- Thôi Subhadda, hãy để vấn đề này yên một bên: “Tất cả những vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ”. Này Subhadda, Ta sẽ thuyết pháp cho Ngươi. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 528- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 529Du sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 530PTS cs 27~180—Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.
SC 531Này Subhadda, năm hai mươi chín,
Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.
Trải năm mươi năm với thêm một năm
Từ khi xuất gia, này Subhadda,
Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.
SC 532Ngoài lãnh vực này, không có Sa-môn đệ nhất cũng không có Sa-môn đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng không có Sa-môn đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì đời này không vắng những vị A-la-hán.
SC 533PTS cs 28~181 Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn
SC 534—Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con xin thọ đại giới.
SC 535- Này Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia muốn thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.
SC 536PTS cs 29~182 - Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các vị Tỷ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
SC 537Và Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 538—Này Ānanda, hãy xuất gia cho Subhadda.
SC 539- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 540Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 541PTS cs 30~183 Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ānanda
SC 542—Thật là lợi ích, thưa Tôn giả Ānanda, thật là thiện lợi, thưa Tôn giả Ānanda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ tử trước mặt bậc Ðạo Sư!
SC 543Và du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia, được thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa.
SC 544Và đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại đức là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn tế độ.
Tụng phẩm VI
SC 545PTS cs 1~184 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 546—Này Ānanda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)”. Này Ānanda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ānanda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.
SC 547PTS cs 2~185 Này Ānanda, nay các vị Tỷ-kheo xưng hô với nhau là Hiền giả. Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ānanda, vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay Ðại đức.
SC 548PTS cs 3~186 Này Ānanda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.
SC 549PTS cs 4~187 Này Ānanda, sau khi Ta diệt độ, hãy hành tội Phạm đàn (Brahmadaṇḍa) đối với Tỷ-kheo Channa.
SC 550- Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm đàn?
SC 551- Này Ānanda, Tỷ-kheo Channa muốn nói gì thì nói. Chúng Tỷ-kheo sẽ không nói, sẽ không giảng dạy, sẽ không giáo giới Tỷ-kheo Channa.
SC 552PTS cs 5~188 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 553—Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo các Người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.
SC 554Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy im lặng. Một lần thứ hai, Thế Tôn … Một lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 555—Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo có nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.
SC 556Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
SC 557Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 558—Này các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng tu, hãy hỏi nhau.
SC 559Khi được nói vậy, những vị Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
SC 560PTS cs 6~189 Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 561—Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp.
SC 562- Này Ānanda, ngươi có tín nhiệm nên nói vậy. Nhưng ở đây, này Ānanda, Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp. Này Ānanda, trong năm trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác.
SC 563PTS cs 7~190 Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 564—Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”.
SC 565Ðó là lời cuối cùng Như Lai.
SC 566PTS cs 8~191 Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
SC 567Khi ấy tôn giả Ānanda nói với tôn giả Anuruddha
SC 568—Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.
SC 569- Này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.
SC 570PTS cs 9~192 Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
SC 571PTS cs 10~193 Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang động.
SC 572Khi Thế Tôn diệt độ, Phạm thiên Sahampati, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 573Chúng sanh ở trên đời,
Từ bỏ thân ngũ uẩn
Bậc đạo sư cũng vậy,
Ðấng Tuyệt luân trên đời.
Bậc Ðại hùng Giác ngộ
Như Lai đã diệt độ.
SC 574Khi Thế Tôn diệt độ, Thiên chủ Sakka, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 575Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt
Ðã sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp chúng là an lạc.
SC 576Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Anuruddha, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 577Không phải thở ra vào
Chính tâm trú chánh định
Không tham ái tịch tịnh
Tu sĩ hướng diệt độ
Chính tâm tịnh bất động
Nhẫn chịu mọi cảm thọ
Như đèn sáng bị tắt
Tâm giải thoát hoàn toàn.
SC 578Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Ānanda, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 579Thật kinh khủng bàng hoàng,
Thật râu tóc dựng ngược,
Khi Bậc Toàn thiện năng,
Bậc Giác ngộ nhập diệt.
SC 580Khi Thế Tôn diệt độ, những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệt nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”
SC 581PTS cs 11~194 Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo
SC 582—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: “Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy”. Này các Hiền giả, chính chư Thiên đang trách đó.
SC 583- Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?
SC 584- Hiền giả Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 585Hiền giả Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những chư Thiên diệt trừ ái dục, những vị này chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao có thể khác được?”
SC 586PTS cs 12~195 Tôn giả Anuruddha và tôn giả Ānanda luận bàn về Chánh pháp suốt cả đêm còn lại. Rồi tôn giả Anuruddha nói với tôn giả Ānanda
SC 587—Hiền giả Ānanda, hãy vào thành Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.
- Tôn giả, xin vâng!
SC 588Tôn giả Ānanda vâng lời tôn giả Anuruddha, buổi sáng đắp y, đem theo y bát cùng một thị giả, vào thành Kusinàrà.
SC 589Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công vụ. Tôn giả Ānanda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đến liền nói với dân Mallà ở Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.
SC 590Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ānanda nói như vậy liền đau đớn sầu muộn, tâm tư khổ não, kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 591PTS cs 13~196 Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những người làm: “Các người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí ở Kusinàrà”.
SC 592Rồi dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả nhạc khí và năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sālā của dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn, rồi chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Maṇḍala.
SC 593Rồi dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Hôm nay, nếu thiêu thân xá lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ làm lễ thiêu thân xá lợi của Thế Tôn”. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà, cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Maṇḍala, ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư cũng như vậy, ngày thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy.
SC 594PTS cs 14~197 Ðến ngày thứ bảy, dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa hát, nhạc, tràng hoa, hương, nay chúng ta hãy chở thân xác xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.
SC 595Lúc bấy giờ tám vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai nhưng khiêng không nổi được. Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch Tôn giả Anuruddha
SC 596—Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì tám vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai, nhưng không khiêng nổi được?
SC 597- Này Vàsetthà, vì ý định của các Ngươi khác, ý định của chư Thiên khác.
SC 598PTS cs 15~198 - Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên là gì?
SC 599- Này các Vàsetthà, ý định của các Ngươi như sau:
SC 600“Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương. Nay chúng ta hãy chở thân xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.
SC 601Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của Chư thiên, nay chúng ta hãy khiêng thân xá lợi Thế Tôn về hướng Bắc phía Bắc của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, hãy khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, hãy khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuṭa-bandhana và chúng ta sẽ thiêu thân Thế Tôn tại chỗ ấy”.
SC 602- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên thế nào, ý định của chúng con cũng vậy.
SC 603PTS cs 16~199 Lúc ấy, khắp cả Kusinàrà cho đến đống bụi, đống rác, được rải la liệt lên đến đầu gối toàn hoa Mandārava. Rồi chư Thiên và các dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của chư Thiên và loài Người, liền khiêng thân xá lợi Thế Tôn về phía Bắc của Thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, liền khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, liền khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuṭa-bandhana và đặt thân xá lợi của Thế Tôn tại chỗ ấy.
SC 604PTS cs 17~200 Rồi dân Mallà bạch tôn giả Ānanda
SC 605—Bạch Tôn giả Ānanda, chúng con nay phải xử sự như thế nào đối với thân xá lợi Như Lai?
SC 606- Này các Vàsetthà, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương như thế nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như vậy.
SC 607- Bạch Tôn giả Ānanda, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương phải như thế nào?
SC 608- Này các Vàsetthà, thân Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này, và tại ngã tư đường, tháp vị Chuyển luân Thánh vương này được xây dựng lên. Này các Vàsetthà, đó là pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương.
SC 609Này các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân của Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem đến tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
SC 610PTS cs 18~201 Và các người Mallà ở Kusinàrà sai những người làm công
SC 611—Hãy đem lại tất cả vải gai bện của Mallà.
SC 612Rồi những người Mallà ở Kusinàrà vấn tròn thân Thế Tôn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi đặt thân Như Lai vào trong một hòm dầu bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác, dựng lên một giàn hỏa gồm mọi loại hương và đặt thân Thế Tôn trên giàn hỏa.
SC 613PTS cs 19~202 Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa đang đi giữa đường từ Pàvà đến Kusinàrà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa bước xuống đường và đến ngồi tại một gốc cây.
SC 614Lúc bấy giờ có một tà mạng ngoại đạo lấy một hoa Mandārava ở Kusinàrà và đang đi trên một con đường đến Pàvà.
SC 615Tôn giả Mahà Kassapa thấy tà mạng ngoại đạo đi từ đàng xa đến. Thấy vậy, tôn giả liền hỏi tà mạng ngoại đạo ấy
SC 616—Này Hiền giả, Hiền giả có biết bậc Ðạo sư chúng tôi không?
SC 617- Này Hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã diệt độ cách hôm nay một tuần. Từ chỗ ấy, tôi được hoa Mandārava này.
SC 618Lúc ấy những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”
SC 619PTS cs 20~203 Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi đang ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi nói với những Tỷ-kheo ấy
SC 620—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa-môn ấy, chúng ta đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: “Làm như thế này không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp với các Ngươi”. Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm.
SC 621Tôn giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỷ-kheo
SC 622—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy.
SC 623PTS cs 21~204 Lúc bấy giờ bốn vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn nhưng châm lửa không cháy.
SC 624Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch tôn giả Anuruddha
SC 625—Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, bốn vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn, nhưng châm lửa không cháy?
SC 626- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên khác.
SC 627- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên như thế nào?
SC 628- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Tôn giả Mahà Kassapa nay đang đi giữa đường giữa Pàvà và Kusinàrà cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Giàn hỏa Thế Tôn chỉ được đốt cháy khi tôn giả Mahà Kassapa cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 629- Bạch Tôn giả, ý định chư Thiên như thế nào, hãy làm y như vậy.
SC 630PTS cs 22~205 Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đến tại đền Makuṭa Bandhana của những vị Mallà tại giàn hỏa Thế Tôn, khi đến xong liền choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần, cởi mở chân ra và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 631Năm trăm vị Tỷ-kheo ấy choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu qua phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 632Và khi tôn giả Mahà Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo đảnh lễ xong, thời giàn hỏa Thế Tôn tự bắt lửa cháy.
SC 633PTS cs 23~206 Khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa các khớp xương, thảy đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại.
SC 634Như sanh tô hay dầu bị cháy, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, cũng vậy khi thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại. Và năm trăm tầng lớp vải gai bện, cả hai lớp trong nhất và lớp ngoài nhất đều bị cháy thiêu.
SC 635Khi thân Thế Tôn bị thiêu cháy xong, một dòng nước từ hư không chảy xuống tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và một dòng nước từ kho nước (hay từ cây sālā) phun lên tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và các người Mallà ở Kusinàrà dùng nước với mọi loại hương tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn.
SC 636Rồi các người Mallà xứ Kusinàrà đặt xá lợi Thế Tôn trong giảng đường, dùng cây thương làm hàng rào, dùng cây cung làm bức thành xung quanh và trong bảy ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường với các điệu múa, hát, nhạc, vòng hoa, hương.
SC 637PTS cs 24~207 Vua nước Magadha tên là Ajātasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà. Vua liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.
SC 638Những người Licchavì ở Vesālī nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 639Các người Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 640Những người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.
SC 641Những người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn.”
SC 642Bà-la-môn Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người Bà-la-môn. Tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 643Các người Mallà ở Pàvà nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gửi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 644PTS cs 25~208 Khi được nói vậy, các người Mallà ở Kusinàrà liền tuyên bố giữa đại chúng
SC 645—Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần xá lợi nào của Thế Tôn.
SC 646Khi nghe vậy, Bà-la-môn Doṇa nói với chúng:
SC 647Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói!
Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn.
Thật không tốt nếu có tranh giành.
Khi chia xá lợi bậc Thượng nhân.
Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan hỷ chia xá lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,
Ðại chúng mười phương tin Pháp nhãn …
SC 648- Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia xá lợi ra tám phần đồng đều.
SC 649- Xin vâng, các Tôn giả.
SC 650Bà-la-môn Doṇa vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng
SC 651—Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đong chia xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.
SC 652Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Doṇa cái bình.
SC 653PTS cs 26~209 Và người Moriyà ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”. “Nay không còn phần xá-lợi Thế Tôn nào. Xá-lợi Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại”. Rồi các vị nầy lấy than tro còn lại.
SC 654PTS cs 27~210 Và vua nước Magadha tên là Ajātasattu, con bà Videhi xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng dường.
SC 655Những người Licchavi ở Vesālī cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vesālī và tổ chức lễ cúng dường.
SC 656Những người Sakya ở Kapilavatthu cũng xây dựng trên xá-lợi Thế Tôn tại Kapilavatthu và tổ chức lễ cúng dường.
SC 657Những người Buli ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên xá lợi Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.
SC 658Những người Koli ở Rāmagāma cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Rāmagāma và tổ chức lễ cúng dường.
SC 659Bà-la-môn Vethadìpaka cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vethadìpa và tổ chức lễ cúng dường.
SC 660Những người Mallà ở Pàvà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Pàvà và tổ chức lễ cúng dường.
SC 661Những người Màllà ở Kusinàrà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Kusinàrà và tổ chức lễ cúng dường.
SC 662Bà-la-môn Doṇa cũng xây dựng tháp trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tổ chức lễ cúng dường.
SC 663Những người Moriyà ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.
SC 664Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tháp thứ mười trên tro (xá-lợi).
SC 665Ðó là truyền thống thời xưa như vậy.
SC 666PTS cs 28~211
SC 667Ðấng Pháp Nhãn Vô Thượng
Xá-lợi phân tám phần.
Bảy phần được cúng dường.
Tại Jambudìpa.
Một phần Long vương cúng.
Tại Ràmagàma.
Một răng Phật được cúng,
Tại cõi Tam Thiên giới,
Một tại Gandhāra,
Một tại Kalinga.
Một răng, vua Long vương.
Tự mình riêng cúng dường.
Quả đất được chói sáng,
Với hào quang xá-lợi,
Với lễ vật cúng dường.
Hạng thượng phẩm, thượng đẳng.
Xá-lợi đấng Pháp Nhãn.
Như vậy được cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường.
Bởi Thiên, Long, Nhơn chủ,
Bởi bậc Tối thượng nhơn.
Các người hãy chắp tay,
Cung kính lễ cúng dường.
Khó thay sự chiêm ngưỡng.
Tôn nhan bậc Như Lai.
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một lần.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena rājā māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo hoti.
So evamāha:
“ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī”ti.
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto vassakāraṁ brāhmaṇaṁ magadhamahāmattaṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, brāhmaṇa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha:
‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti.
Evañca vadehi:
‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo.
So evamāha:
“ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī”’ti.
Yathā te bhagavā byākaroti, taṁ sādhukaṁ uggahetvā mama āroceyyāsi.
Na hi tathāgatā vitathaṁ bhaṇantī”ti.
1. Vassakārabrāhmaṇa
“Evaṁ, bho”ti kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa paṭissutvā bhaddāni bhaddāni yānāni yojetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi rājagahamhā niyyāsi, yena gijjhakūṭo pabbato tena pāyāsi.
Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikova yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca:
“rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati.
Rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo.
So evamāha:
‘ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī’”ti.
2. Rājaaparihāniyadhamma
Tena kho pana samayena āyasmā ānando bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā bhavissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī apaññattaṁ na paññapenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī apaññattaṁ na paññapenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī apaññattaṁ na paññapessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo, tā na okkassa pasayha vāsentī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo tā na okkassa pasayha vāsentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo, tā na okkassa pasayha vāsessanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpessanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā, kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyun’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyun’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā bhavissati, kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyunti. Vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Atha kho bhagavā vassakāraṁ brāhmaṇaṁ magadhamahāmattaṁ āmantesi:
“ekamidāhaṁ, brāhmaṇa, samayaṁ vesāliyaṁ viharāmi sārandade cetiye.
Tatrāhaṁ vajjīnaṁ ime satta aparihāniye dhamme desesiṁ.
Yāvakīvañca, brāhmaṇa, ime satta aparihāniyā dhammā vajjīsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu vajjī sandississanti, vuddhiyeva, brāhmaṇa, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Evaṁ vutte, vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca:
“ekamekenapi, bho gotama, aparihāniyena dhammena samannāgatānaṁ vajjīnaṁ vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ko pana vādo sattahi aparihāniyehi dhammehi.
Akaraṇīyāva, bho gotama, vajjī raññā māgadhena ajātasattunā vedehiputtena yadidaṁ yuddhassa, aññatra upalāpanāya aññatra mithubhedā.
Handa ca dāni mayaṁ, bho gotama, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, brāhmaṇa, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
3. Bhikkhuaparihāniyadhamma
Atha kho bhagavā acirapakkante vassakāre brāhmaṇe magadhamahāmatte āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaccha tvaṁ, ānanda, yāvatikā bhikkhū rājagahaṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū rājagahaṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho, yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“satta vo, bhikkhave, aparihāniye dhamme desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā saṅghakaraṇīyāni karissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū apaññattaṁ na paññapessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vattissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā, te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū uppannāya taṇhāya ponobbhavikāya na vasaṁ gacchissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū āraññakesu senāsanesu sāpekkhā bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū paccattaññeva satiṁ upaṭṭhapessanti: ‘kinti anāgatā ca pesalā sabrahmacārī āgaccheyyuṁ, āgatā ca pesalā sabrahmacārī phāsu vihareyyun’ti. Vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na kammārāmā bhavissanti na kammaratā na kammārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na bhassārāmā bhavissanti na bhassaratā na bhassārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na niddārāmā bhavissanti na niddāratā na niddārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na saṅgaṇikārāmā bhavissanti na saṅgaṇikaratā na saṅgaṇikārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na pāpicchā bhavissanti na pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na pāpamittā bhavissanti na pāpasahāyā na pāpasampavaṅkā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na oramattakena visesādhigamena antarāvosānaṁ āpajjissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi …pe….
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū saddhā bhavissanti …pe…
hirimanā bhavissanti …
ottappī bhavissanti …
bahussutā bhavissanti …
āraddhavīriyā bhavissanti …
upaṭṭhitassatī bhavissanti …
paññavanto bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …pe…
dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
pītisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
samādhisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāvessanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū aniccasaññaṁ bhāvessanti …pe…
anattasaññaṁ bhāvessanti …
asubhasaññaṁ bhāvessanti …
ādīnavasaññaṁ bhāvessanti …
pahānasaññaṁ bhāvessanti …
virāgasaññaṁ bhāvessanti …
nirodhasaññaṁ bhāvessanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Cha vo, bhikkhave, aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhāpessanti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhāpessanti …pe…
mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhāpessanti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū, ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī bhavissanti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññūpasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagatā viharissanti sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā, niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagatā viharissanti sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime cha aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca chasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
(…)
Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharanto gijjhakūṭe pabbate etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena ambalaṭṭhikā tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ viharati rājāgārake.
Tatrāpi sudaṁ bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ viharanto rājāgārake etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ iti samādhi iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
Atha kho bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena nāḷandā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nāḷandā tadavasari,
tatra sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
4. Sāriputtasīhanāda
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati;
na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan”ti.
“Uḷārā kho te ayaṁ, sāriputta, āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito:
‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati;
na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’ti.
Kiṁ te, sāriputta, ye te ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā:
‘evaṁsīlā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kiṁ pana te, sāriputta, ye te bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā:
‘evaṁsīlā te bhagavanto bhavissanti itipi, evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto bhavissanti itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kiṁ pana te, sāriputta, ahaṁ etarahi arahaṁ sammāsambuddho cetasā ceto paricca vidito:
‘evaṁsīlo bhagavā itipi, evaṁdhammo evaṁpañño evaṁvihārī evaṁvimutto bhagavā itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha ca hi te, sāriputta, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ natthi.
Atha kiñcarahi te ayaṁ, sāriputta, uḷārā āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito:
‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’”ti?
“Na kho me, bhante, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ atthi,
api ca me dhammanvayo vidito.
Seyyathāpi, bhante, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ ekadvāraṁ,
tatrassa dovāriko paṇḍito viyatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā.
So tassa nagarassa samantā anupariyāyapathaṁ anukkamamāno na passeyya pākārasandhiṁ vā pākāravivaraṁ vā, antamaso biḷāranikkhamanamattampi.
Tassa evamassa:
‘ye kho keci oḷārikā pāṇā imaṁ nagaraṁ pavisanti vā nikkhamanti vā, sabbe te imināva dvārena pavisanti vā nikkhamanti vā’ti.
Evameva kho me, bhante, dhammanvayo vidito:
‘ye te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā sattabojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhiṁsu.
Yepi te, bhante, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhissanti.
Bhagavāpi, bhante, etarahi arahaṁ sammāsambuddho pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacitto satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharanto pāvārikambavane etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
5. Dussīlaādīnava
Atha kho bhagavā nāḷandāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pāṭaligāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāṭaligāmo tadavasari.
Assosuṁ kho pāṭaligāmikā upāsakā: “bhagavā kira pāṭaligāmaṁ anuppatto”ti.
Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“adhivāsetu no, bhante, bhagavā āvasathāgāran”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ āvasathāgāraṁ santharitvā āsanāni paññapetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā telapadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“sabbasantharisanthataṁ, bhante, āvasathāgāraṁ, āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telapadīpo āropito;
yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi.
Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantameva purakkhatvā.
Pāṭaligāmikāpi kho upāsakā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantameva purakkhatvā.
(…)
Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake āmantesi:
“pañcime, gahapatayo, ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā.
Katame pañca?
Idha, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno pamādādhikaraṇaṁ mahatiṁ bhogajāniṁ nigacchati.
Ayaṁ paṭhamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlassa sīlavipannassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati.
Ayaṁ dutiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ—avisārado upasaṅkamati maṅkubhūto.
Ayaṁ tatiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno sammūḷho kālaṁ karoti.
Ayaṁ catuttho ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Ayaṁ pañcamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Ime kho, gahapatayo, pañca ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā.
6. Sīlavantaānisaṁsa
Pañcime, gahapatayo, ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāya.
Katame pañca?
Idha, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṁ mahantaṁ bhogakkhandhaṁ adhigacchati.
Ayaṁ paṭhamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati.
Ayaṁ dutiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto.
Ayaṁ tatiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṁ karoti.
Ayaṁ catuttho ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Ayaṁ pañcamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Ime kho, gahapatayo, pañca ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāyā”ti.
Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi:
“abhikkantā kho, gahapatayo, ratti, yassadāni tumhe kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu pāṭaligāmikesu upāsakesu suññāgāraṁ pāvisi.
7. Pāṭaliputtanagaramāpana
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya.
Tena samayena sambahulā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhanti.
Yasmiṁ padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo.
Atha kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“Ke nu kho, ānanda, pāṭaligāme nagaraṁ māpentī”ti?
“Sunidhavassakārā, bhante, magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāyā”ti.
“Seyyathāpi, ānanda, devehi tāvatiṁsehi saddhiṁ mantetvā;
evameva kho, ānanda, sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya.
Idhāhaṁ, ānanda, addasaṁ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sambahulā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo.
Yasmiṁ, ānanda, padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yāvatā, ānanda, ariyaṁ āyatanaṁ yāvatā vaṇippatho idaṁ agganagaraṁ bhavissati pāṭaliputtaṁ puṭabhedanaṁ.
Pāṭaliputtassa kho, ānanda, tayo antarāyā bhavissanti—
aggito vā udakato vā mithubhedā vā”ti.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu,
sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu, ekamantaṁ ṭhitā kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“adhivāsetu no bhavaṁ gotamo ajjatanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā yena sako āvasatho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sake āvasathe paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesuṁ:
“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena sunidhavassakārānaṁ magadhamahāmattānaṁ āvasatho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesuṁ sampavāresuṁ.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinne kho sunidhavassakāre magadhamahāmatte bhagavā imāhi gāthāhi anumodi:
“Yasmiṁ padese kappeti,
vāsaṁ paṇḍitajātiyo;
Sīlavantettha bhojetvā,
saññate brahmacārayo.
Yā tattha devatā āsuṁ,
tāsaṁ dakkhiṇamādise;
Tā pūjitā pūjayanti,
mānitā mānayanti naṁ.
Tato naṁ anukampanti,
mātā puttaṁva orasaṁ;
Devatānukampito poso,
sadā bhadrāni passatī”ti.
Atha kho bhagavā sunidhavassakāre magadhamahāmatte imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti:
“yenajja samaṇo gotamo dvārena nikkhamissati, taṁ gotamadvāraṁ nāma bhavissati.
Yena titthena gaṅgaṁ nadiṁ tarissati, taṁ gotamatitthaṁ nāma bhavissatī”ti.
Atha kho bhagavā yena dvārena nikkhami, taṁ gotamadvāraṁ nāma ahosi.
Atha kho bhagavā yena gaṅgā nadī tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena gaṅgā nadī pūrā hoti samatittikā kākapeyyā.
Appekacce manussā nāvaṁ pariyesanti, appekacce uḷumpaṁ pariyesanti, appekacce kullaṁ bandhanti apārā, pāraṁ gantukāmā.
Atha kho bhagavā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—gaṅgāya nadiyā orimatīre antarahito pārimatīre paccuṭṭhāsi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Addasā kho bhagavā te manusse appekacce nāvaṁ pariyesante appekacce uḷumpaṁ pariyesante appekacce kullaṁ bandhante apārā pāraṁ gantukāme.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Ye taranti aṇṇavaṁ saraṁ,
Setuṁ katvāna visajja pallalāni;
Kullañhi jano bandhati,
Tiṇṇā medhāvino janā”ti.
Paṭhamabhāṇavāro.
8. Ariyasaccakathā
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena koṭigāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena koṭigāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā koṭigāme viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Catunnaṁ, bhikkhave, ariyasaccānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Dukkhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Dukkhasamudayassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Dukkhanirodhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Tayidaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Catunnaṁ ariyasaccānaṁ,
yathābhūtaṁ adassanā;
Saṁsitaṁ dīghamaddhānaṁ,
tāsu tāsveva jātisu.
Tāni etāni diṭṭhāni,
bhavanetti samūhatā;
Ucchinnaṁ mūlaṁ dukkhassa,
natthi dāni punabbhavo”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā koṭigāme viharanto etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
9. Anāvattidhammasambodhiparāyaṇa
Atha kho bhagavā koṭigāme yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena nātikā tenupaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nātikā tadavasari.
Tatrapi sudaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sāḷho nāma, bhante, bhikkhu nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo?
Nandā nāma, bhante, bhikkhunī nātike kālaṅkatā, tassā kā gati, ko abhisamparāyo?
Sudatto nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo?
Sujātā nāma, bhante, upāsikā nātike kālaṅkatā, tassā kā gati, ko abhisamparāyo?
Kukkuṭo nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo?
Kāḷimbo nāma, bhante, upāsako …pe…
nikaṭo nāma, bhante, upāsako …
kaṭissaho nāma, bhante, upāsako …
tuṭṭho nāma, bhante, upāsako …
santuṭṭho nāma, bhante, upāsako …
bhaddo nāma, bhante, upāsako …
subhaddo nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Sāḷho, ānanda, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
Nandā, ānanda, bhikkhunī pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyinī anāvattidhammā tasmā lokā.
Sudatto, ānanda, upāsako tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissati.
Sujātā, ānanda, upāsikā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
Kukkuṭo, ānanda, upāsako pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Kāḷimbo, ānanda, upāsako …pe…
nikaṭo, ānanda, upāsako …
kaṭissaho, ānanda, upāsako …
tuṭṭho, ānanda, upāsako …
santuṭṭho, ānanda, upāsako …
bhaddo, ānanda, upāsako …
subhaddo, ānanda, upāsako pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Paropaññāsaṁ, ānanda, nātike upāsakā kālaṅkatā, pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā.
Sādhikā navuti, ānanda, nātike upāsakā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Sātirekāni, ānanda, pañcasatāni nātike upāsakā kālaṅkatā, tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
10. Dhammādāsadhammapariyāya
Anacchariyaṁ kho panetaṁ, ānanda, yaṁ manussabhūto kālaṁ kareyya.
Tasmiṁyeva kālaṅkate tathāgataṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ pucchissatha, vihesā hesā, ānanda, tathāgatassa.
Tasmātihānanda, dhammādāsaṁ nāma dhammapariyāyaṁ desessāmi, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Katamo ca so, ānanda, dhammādāso dhammapariyāyo, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti?
Idhānanda, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Dhamme aveccappasādena samannāgato hoti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
Saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
Ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññūpasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi.
Ayaṁ kho so, ānanda, dhammādāso dhammapariyāyo, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā nātike viharanto giñjakāvasathe etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“Iti sīlaṁ iti samādhi iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
(…)
Atha kho bhagavā nātike yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena vesālī tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena vesālī tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati ambapālivane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno,
ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu vedanānupassī …pe…
citte cittānupassī …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti.
Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno,
ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
11. Ambapālīgaṇikā
Assosi kho ambapālī gaṇikā: “bhagavā kira vesāliṁ anuppatto vesāliyaṁ viharati mayhaṁ ambavane”ti.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhaddāni bhaddāni yānāni yojāpetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi vesāliyā niyyāsi. Yena sako ārāmo tena pāyāsi.
Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ambapāliṁ gaṇikaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavoca:
“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Assosuṁ kho vesālikā licchavī: “bhagavā kira vesāliṁ anuppatto vesāliyaṁ viharati ambapālivane”ti.
Atha kho te licchavī bhaddāni bhaddāni yānāni yojāpetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi vesāliyā niyyiṁsu.
Tatra ekacce licchavī nīlā honti nīlavaṇṇā nīlavatthā nīlālaṅkārā, ekacce licchavī pītā honti pītavaṇṇā pītavatthā pītālaṅkārā, ekacce licchavī lohitā honti lohitavaṇṇā lohitavatthā lohitālaṅkārā, ekacce licchavī odātā honti odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā.
Atha kho ambapālī gaṇikā daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ akkhena akkhaṁ cakkena cakkaṁ yugena yugaṁ paṭivaṭṭesi.
Atha kho te licchavī ambapāliṁ gaṇikaṁ etadavocuṁ:
“kiṁ, je ambapāli, daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ akkhena akkhaṁ cakkena cakkaṁ yugena yugaṁ paṭivaṭṭesī”ti?
“Tathā hi pana me, ayyaputtā, bhagavā nimantito svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Dehi, je ambapāli, etaṁ bhattaṁ satasahassenā”ti.
“Sacepi me, ayyaputtā, vesāliṁ sāhāraṁ dassatha, evamahaṁ taṁ bhattaṁ na dassāmī”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ:
“jitamha vata bho ambakāya, jitamha vata bho ambakāyā”ti.
Atha kho te licchavī yena ambapālivanaṁ tena pāyiṁsu.
Addasā kho bhagavā te licchavī dūratova āgacchante.
Disvāna bhikkhū āmantesi:
“yesaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ devā tāvatiṁsā adiṭṭhapubbā, oloketha, bhikkhave, licchaviparisaṁ;
apaloketha, bhikkhave, licchaviparisaṁ;
upasaṁharatha, bhikkhave, licchaviparisaṁ—
tāvatiṁsasadisan”ti.
Atha kho te licchavī yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinne kho te licchavī bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho te licchavī bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“adhivāsetu no, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Atha kho bhagavā te licchavī etadavoca:
“adhivutthaṁ kho me, licchavī, svātanāya ambapāliyā gaṇikāya bhattan”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ:
“jitamha vata bho ambakāya, jitamha vata bho ambakāyā”ti.
Atha kho te licchavī bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho ambapālī gaṇikā tassā rattiyā accayena sake ārāme paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi:
“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena ambapāliyā gaṇikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho ambapālī gaṇikā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnā kho ambapālī gaṇikā bhagavantaṁ etadavoca:
“imāhaṁ, bhante, ārāmaṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dammī”ti.
Paṭiggahesi bhagavā ārāmaṁ.
Atha kho bhagavā ambapāliṁ gaṇikaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Tatrapi sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharanto ambapālivane etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
12. Veḷuvagāmavassūpagamana
Atha kho bhagavā ambapālivane yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena veḷuvagāmako tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena veḷuvagāmako tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā veḷuvagāmake viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“etha tumhe, bhikkhave, samantā vesāliṁ yathāmittaṁ yathāsandiṭṭhaṁ yathāsambhattaṁ vassaṁ upetha.
Ahaṁ pana idheva veḷuvagāmake vassaṁ upagacchāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā samantā vesāliṁ yathāmittaṁ yathāsandiṭṭhaṁ yathāsambhattaṁ vassaṁ upagacchiṁsu.
Bhagavā pana tattheva veḷuvagāmake vassaṁ upagacchi.
Atha kho bhagavato vassūpagatassa kharo ābādho uppajji, bāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā.
Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“na kho metaṁ patirūpaṁ, yvāhaṁ anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ parinibbāyeyyaṁ.
Yannūnāhaṁ imaṁ ābādhaṁ vīriyena paṭipaṇāmetvā jīvitasaṅkhāraṁ adhiṭṭhāya vihareyyan”ti.
Atha kho bhagavā taṁ ābādhaṁ vīriyena paṭipaṇāmetvā jīvitasaṅkhāraṁ adhiṭṭhāya vihāsi.
Atha kho bhagavato so ābādho paṭippassambhi.
Atha kho bhagavā gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā vihārā nikkhamma vihārapacchāyāyaṁ paññatte āsane nisīdi.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“diṭṭho me, bhante, bhagavato phāsu; diṭṭhaṁ me, bhante, bhagavato khamanīyaṁ, api ca me, bhante, madhurakajāto viya kāyo, disāpi me na pakkhāyanti, dhammāpi maṁ na paṭibhanti bhagavato gelaññena.
Api ca me, bhante, ahosi kācideva assāsamattā:
‘na tāva bhagavā parinibbāyissati, na yāva bhagavā bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāharatī’”ti.
“Kiṁ panānanda, bhikkhusaṅgho mayi paccāsīsati?
Desito, ānanda, mayā dhammo anantaraṁ abāhiraṁ karitvā.
Natthānanda, tathāgatassa dhammesu ācariyamuṭṭhi.
Yassa nūna, ānanda, evamassa:
‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti vā ‘mamuddesiko bhikkhusaṅgho’ti vā, so nūna, ānanda, bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāhareyya.
Tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti:
‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti vā ‘mamuddesiko bhikkhusaṅgho’ti vā.
Sakiṁ, ānanda, tathāgato bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāharissati.
Ahaṁ kho panānanda, etarahi jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayo anuppatto.
Āsītiko me vayo vattati.
Seyyathāpi, ānanda, jajjarasakaṭaṁ veṭhamissakena yāpeti;
evameva kho, ānanda, veṭhamissakena maññe tathāgatassa kāyo yāpeti.
Yasmiṁ, ānanda, samaye tathāgato sabbanimittānaṁ amanasikārā ekaccānaṁ vedanānaṁ nirodhā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati, phāsutaro, ānanda, tasmiṁ samaye tathāgatassa kāyo hoti.
Tasmātihānanda, attadīpā viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā.
Kathañcānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo?
Idhānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati atāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.
Ye hi keci, ānanda, etarahi vā mama vā accayena attadīpā viharissanti attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā, tamatagge me te, ānanda, bhikkhū bhavissanti ye keci sikkhākāmā”ti.
Dutiyabhāṇavāro.
13. Nimittobhāsakathā
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaṇhāhi, ānanda, nisīdanaṁ,
yena cāpālaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkamissāma divā vihārāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā nisīdanaṁ ādāya bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
Atha kho bhagavā yena cāpālaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Āyasmāpi kho ānando bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ;
na bhagavantaṁ yāci:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto.
Dutiyampi kho bhagavā …pe…
tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ;
na bhagavantaṁ yāci:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaccha tvaṁ, ānanda,
yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
14. Mārayācanakathā
Atha kho māro pāpimā acirapakkante āyasmante ānande yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho māro pāpimā bhagavantaṁ etadavoca:
“parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhikkhū bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhikkhuniyo bhagavato sāvikā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, upāsakā bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, upāsikā bhagavato sāvikā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhagavato brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“appossukko tvaṁ, pāpima, hohi, na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī”ti.
15. Āyusaṅkhāraossajjana
Atha kho bhagavā cāpāle cetiye sato sampajāno āyusaṅkhāraṁ ossaji.
Ossaṭṭhe ca bhagavatā āyusaṅkhāre mahābhūmicālo ahosi bhiṁsanako salomahaṁso, devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Tulamatulañca sambhavaṁ,
Bhavasaṅkhāramavassaji muni;
Ajjhattarato samāhito,
Abhindi kavacamivattasambhavan”ti.
16. Mahābhūmicālahetu
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, mahā vatāyaṁ bhūmicālo;
sumahā vatāyaṁ bhūmicālo bhiṁsanako salomahaṁso; devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Ko nu kho hetu ko paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā”ti?
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi,
ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Mahā vatāyaṁ, bhante, bhūmicālo;
sumahā vatāyaṁ, bhante, bhūmicālo bhiṁsanako salomahaṁso; devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā”ti?
“Aṭṭha kho ime, ānanda, hetū, aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Katame aṭṭha?
Ayaṁ, ānanda, mahāpathavī udake patiṭṭhitā, udakaṁ vāte patiṭṭhitaṁ, vāto ākāsaṭṭho. Hoti kho so, ānanda, samayo, yaṁ mahāvātā vāyanti. Mahāvātā vāyantā udakaṁ kampenti. Udakaṁ kampitaṁ pathaviṁ kampeti.
Ayaṁ paṭhamo hetu paṭhamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, samaṇo vā hoti brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto, devo vā mahiddhiko mahānubhāvo, tassa parittā pathavīsaññā bhāvitā hoti, appamāṇā āposaññā. So imaṁ pathaviṁ kampeti saṅkampeti sampakampeti sampavedheti.
Ayaṁ dutiyo hetu dutiyo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā bodhisatto tusitakāyā cavitvā sato sampajāno mātukucchiṁ okkamati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ tatiyo hetu tatiyo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā bodhisatto sato sampajāno mātukucchismā nikkhamati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ catuttho hetu catuttho paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ pañcamo hetu pañcamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ chaṭṭho hetu chaṭṭho paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato sato sampajāno āyusaṅkhāraṁ ossajjati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ sattamo hetu sattamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ aṭṭhamo hetu aṭṭhamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Ime kho, ānanda, aṭṭha hetū, aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
17. Aṭṭhaparisā
Aṭṭha kho imā, ānanda, parisā.
Katamā aṭṭha?
Khattiyaparisā, brāhmaṇaparisā, gahapatiparisā, samaṇaparisā, cātumahārājikaparisā, tāvatiṁsaparisā, māraparisā, brahmaparisā.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, ānanda, anekasataṁ khattiyaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti, tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti. Yādisako tesaṁ saro hoti, tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti?
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti?
Abhijānāmi kho panāhaṁ, ānanda, anekasataṁ brāhmaṇaparisaṁ …pe…
gahapatiparisaṁ …
samaṇaparisaṁ …
cātumahārājikaparisaṁ …
tāvatiṁsaparisaṁ …
māraparisaṁ …
brahmaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti, tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti.
Yādisako tesaṁ saro hoti, tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti?
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti?
Imā kho, ānanda, aṭṭha parisā.
18. Aṭṭhaabhibhāyatana
Aṭṭha kho imāni, ānanda, abhibhāyatanāni.
Katamāni aṭṭha?
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Imāni kho, ānanda, aṭṭha abhibhāyatanāni.
19. Aṭṭhavimokkha
Aṭṭha kho ime, ānanda, vimokkhā.
Katame aṭṭha?
Rūpī rūpāni passati,
ayaṁ paṭhamo vimokkho.
Ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati,
ayaṁ dutiyo vimokkho.
Subhanteva adhimutto hoti,
ayaṁ tatiyo vimokkho.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ catuttho vimokkho.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ pañcamo vimokkho.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ sattamo vimokkho.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
Ime kho, ānanda, aṭṭha vimokkhā.
(…)
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ uruvelāyaṁ viharāmi najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho.
Atha kho, ānanda, māro pāpimā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, ānanda, māro pāpimā maṁ etadavoca:
‘parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, ānanda, māraṁ pāpimantaṁ etadavocaṁ:
‘Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan’ti.
Idāneva kho, ānanda, ajja cāpāle cetiye māro pāpimā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, ānanda, māro pāpimā maṁ etadavoca:
‘parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
“na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti …pe…
yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti …pe…
yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti …pe…
yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti …pe…
yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitan”ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhagavato brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, ānanda, māraṁ pāpimantaṁ etadavocaṁ:
‘appossukko tvaṁ, pāpima, hohi, na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti.
Idāneva kho, ānanda, ajja cāpāle cetiye tathāgatena satena sampajānena āyusaṅkhāro ossaṭṭho”ti.
20. Ānandayācanakathā
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
“Alaṁ dāni, ānanda.
Mā tathāgataṁ yāci, akālo dāni, ānanda, tathāgataṁ yācanāyā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando …pe…
tatiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
“Saddahasi tvaṁ, ānanda, tathāgatassa bodhin”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Atha kiñcarahi tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāvatatiyakaṁ abhinippīḷesī”ti?
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. So ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’”ti.
“Saddahasi tvaṁ, ānandā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ, yaṁ tvaṁ tathāgatena evaṁ oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ rājagahe viharāmi gijjhakūṭe pabbate.
Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ:
‘ramaṇīyaṁ, ānanda, rājagahaṁ, ramaṇīyo, ānanda, gijjhakūṭo pabbato.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ tattheva rājagahe viharāmi gotamanigrodhe …pe…
tattheva rājagahe viharāmi corapapāte …
tattheva rājagahe viharāmi vebhārapasse sattapaṇṇiguhāyaṁ …
tattheva rājagahe viharāmi isigilipasse kāḷasilāyaṁ …
tattheva rājagahe viharāmi sītavane sappasoṇḍikapabbhāre …
tattheva rājagahe viharāmi tapodārāme …
tattheva rājagahe viharāmi veḷuvane kalandakanivāpe …
tattheva rājagahe viharāmi jīvakambavane …
tattheva rājagahe viharāmi maddakucchismiṁ migadāye.
Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ:
‘ramaṇīyaṁ, ānanda, rājagahaṁ, ramaṇīyo gijjhakūṭo pabbato, ramaṇīyo gotamanigrodho, ramaṇīyo corapapāto, ramaṇīyā vebhārapasse sattapaṇṇiguhā, ramaṇīyā isigilipasse kāḷasilā, ramaṇīyo sītavane sappasoṇḍikapabbhāro, ramaṇīyo tapodārāmo, ramaṇīyo veḷuvane kalandakanivāpo, ramaṇīyaṁ jīvakambavanaṁ, ramaṇīyo maddakucchismiṁ migadāyo.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā …pe…
ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ idheva vesāliyaṁ viharāmi udene cetiye.
Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ:
‘ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya, tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ idheva vesāliyaṁ viharāmi gotamake cetiye …pe…
idheva vesāliyaṁ viharāmi sattambe cetiye …
idheva vesāliyaṁ viharāmi bahuputte cetiye …
idheva vesāliyaṁ viharāmi sārandade cetiye …
idāneva kho tāhaṁ, ānanda, ajja cāpāle cetiye āmantesiṁ:
‘ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Nanu etaṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo.
Taṁ kutettha, ānanda, labbhā, yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati’.
Yaṁ kho panetaṁ, ānanda, tathāgatena cattaṁ vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhaṁ ossaṭṭho āyusaṅkhāro, ekaṁsena vācā bhāsitā:
‘na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti.
Tañca tathāgato jīvitahetu puna paccāvamissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Āyāmānanda, yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaccha tvaṁ, ānanda, yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho, yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
(…)
Atha kho bhagavā yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“tasmātiha, bhikkhave, ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katame ca te, bhikkhave, dhammā mayā abhiññā desitā, ye vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā mayā abhiññā desitā, ye vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo,
vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādetha.
Naciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Paripakko vayo mayhaṁ,
parittaṁ mama jīvitaṁ;
Pahāya vo gamissāmi,
kataṁ me saraṇamattano.
Appamattā satīmanto,
susīlā hotha bhikkhavo;
Susamāhitasaṅkappā,
sacittamanurakkhatha.
Yo imasmiṁ dhammavinaye,
appamatto vihassati;
Pahāya jātisaṁsāraṁ,
dukkhassantaṁ karissatī”ti.
Tatiyo bhāṇavāro.
21. Nāgāpalokita
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nāgāpalokitaṁ vesāliṁ apaloketvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“idaṁ pacchimakaṁ, ānanda, tathāgatassa vesāliyā dassanaṁ bhavissati.
Āyāmānanda, yena bhaṇḍagāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena bhaṇḍagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā bhaṇḍagāme viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“catunnaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Ariyassa, bhikkhave, sīlassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Ariyassa, bhikkhave, samādhissa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Ariyāya, bhikkhave, paññāya ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Ariyāya, bhikkhave, vimuttiyā ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Tayidaṁ, bhikkhave, ariyaṁ sīlaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ariyo samādhi anubuddho paṭividdho, ariyā paññā anubuddhā paṭividdhā, ariyā vimutti anubuddhā paṭividdhā, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Sīlaṁ samādhi paññā ca,
vimutti ca anuttarā;
Anubuddhā ime dhammā,
gotamena yasassinā.
Iti buddho abhiññāya,
dhammamakkhāsi bhikkhunaṁ;
Dukkhassantakaro satthā,
cakkhumā parinibbuto”ti.
Tatrāpi sudaṁ bhagavā bhaṇḍagāme viharanto etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
22. Catumahāpadesakathā
Atha kho bhagavā bhaṇḍagāme yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena hatthigāmo,
yena ambagāmo,
yena jambugāmo,
yena bhoganagaraṁ tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena bhoganagaraṁ tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā bhoganagare viharati ānande cetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“cattārome, bhikkhave, mahāpadese desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ,
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
imassa ca bhikkhuno duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
imassa ca bhikkhuno suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘amukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho.
Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ,
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca saṅghassa duggahitan’ti.
Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca saṅghassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘amukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā.
Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ …
pe…
na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
tesañca therānaṁ duggahitan’ti.
Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ce sutte osāriyamānāni …pe…
vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
tesañca therānaṁ suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘amukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo.
Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca therassa duggahitan’ti.
Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ca sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca therassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Ime kho, bhikkhave, cattāro mahāpadese dhāreyyāthā”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā bhoganagare viharanto ānande cetiye etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
23. Kammāraputtacundavatthu
Atha kho bhagavā bhoganagare yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pāvā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāvā tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane.
Assosi kho cundo kammāraputto: “bhagavā kira pāvaṁ anuppatto, pāvāyaṁ viharati mayhaṁ ambavane”ti.
Atha kho cundo kammāraputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho cundo kammāraputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca:
“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho cundo kammāraputto bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho cundo kammāraputto tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā pahūtañca sūkaramaddavaṁ bhagavato kālaṁ ārocāpesi:
“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena cundassa kammāraputtassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi:
“yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ, tena maṁ parivisa.
Yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ, tena bhikkhusaṅghaṁ parivisā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ, tena bhagavantaṁ parivisi.
Yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ, tena bhikkhusaṅghaṁ parivisi.
Atha kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi:
“yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ, taṁ sobbhe nikhaṇāhi.
Nāhaṁ taṁ, cunda, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yassa taṁ paribhuttaṁ sammā pariṇāmaṁ gaccheyya aññatra tathāgatassā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ, taṁ sobbhe nikhaṇitvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
(…)
Atha kho bhagavato cundassa kammāraputtassa bhattaṁ bhuttāvissa kharo ābādho uppajji, lohitapakkhandikā pabāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā.
Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena kusinārā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Cundassa bhattaṁ bhuñjitvā,
kammārassāti me sutaṁ;
Ābādhaṁ samphusī dhīro,
pabāḷhaṁ māraṇantikaṁ.
Bhuttassa ca sūkaramaddavena,
Byādhippabāḷho udapādi satthuno;
Virecamāno bhagavā avoca,
“Gacchāmahaṁ kusināraṁ nagaran”ti.
24. Pānīyāharaṇa
Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapehi, kilantosmi, ānanda, nisīdissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapesi.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idāni, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni, taṁ cakkacchinnaṁ udakaṁ parittaṁ luḷitaṁ āvilaṁ sandati.
Ayaṁ, bhante, kakudhā nadī avidūre acchodakā sātodakā sītodakā setodakā suppatitthā ramaṇīyā.
Ettha bhagavā pānīyañca pivissati, gattāni ca sītī karissatī”ti.
Dutiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idāni, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni, taṁ cakkacchinnaṁ udakaṁ parittaṁ luḷitaṁ āvilaṁ sandati.
Ayaṁ, bhante, kakudhā nadī avidūre acchodakā sātodakā sītodakā setodakā suppatitthā ramaṇīyā.
Ettha bhagavā pānīyañca pivissati, gattāni ca sītīkarissatī”ti.
Tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā pattaṁ gahetvā yena sā nadikā tenupasaṅkami.
Atha kho sā nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā, āyasmante ānande upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandittha.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā.
Ayañhi sā nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandatī”ti.
Pattena pānīyaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā.
Idāni sā bhante nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandittha.
Pivatu bhagavā pānīyaṁ pivatu sugato pānīyan”ti.
Atha kho bhagavā pānīyaṁ apāyi.
25. Pukkusamallaputtavatthu
Tena kho pana samayena pukkuso mallaputto āḷārassa kālāmassa sāvako kusinārāya pāvaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Addasā kho pukkuso mallaputto bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ.
Disvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pukkuso mallaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, santena vata, bhante, pabbajitā vihārena viharanti.
Bhūtapubbaṁ, bhante, āḷāro kālāmo addhānamaggappaṭipanno maggā okkamma avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni āḷāraṁ kālāmaṁ nissāya nissāya atikkamiṁsu.
Atha kho, bhante, aññataro puriso tassa sakaṭasatthassa piṭṭhito piṭṭhito āgacchanto yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavoca:
‘api, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni addasā’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, addasan’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saddaṁ assosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, saddaṁ assosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, sutto ahosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, sutto ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saññī ahosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
‘So tvaṁ, bhante, saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva addasa, na pana saddaṁ assosi;
apisu te, bhante, saṅghāṭi rajena okiṇṇā’ti?
‘Evamāvuso’ti.
Atha kho, bhante, tassa purisassa etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, santena vata bho pabbajitā vihārena viharanti.
Yatra hi nāma saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva dakkhati, na pana saddaṁ sossatī’ti.
Āḷāre kālāme uḷāraṁ pasādaṁ pavedetvā pakkāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, pukkusa,
katamaṁ nu kho dukkarataraṁ vā durabhisambhavataraṁ vā—
yo vā saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyya;
yo vā saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyyā”ti?
“Kiñhi, bhante, karissanti pañca vā sakaṭasatāni cha vā sakaṭasatāni satta vā sakaṭasatāni aṭṭha vā sakaṭasatāni nava vā sakaṭasatāni, sakaṭasahassaṁ vā sakaṭasatasahassaṁ vā.
Atha kho etadeva dukkaratarañceva durabhisambhavatarañca yo saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyyā”ti.
“Ekamidāhaṁ, pukkusa, samayaṁ ātumāyaṁ viharāmi bhusāgāre.
Tena kho pana samayena deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā avidūre bhusāgārassa dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā.
Atha kho, pukkusa, ātumāya mahājanakāyo nikkhamitvā yena te dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā tenupasaṅkami.
Tena kho panāhaṁ, pukkusa, samayena bhusāgārā nikkhamitvā bhusāgāradvāre abbhokāse caṅkamāmi.
Atha kho, pukkusa, aññataro puriso tamhā mahājanakāyā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho ahaṁ, pukkusa, taṁ purisaṁ etadavocaṁ:
‘kiṁ nu kho eso, āvuso, mahājanakāyo sannipatito’ti?
‘Idāni, bhante, deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā.
Ettheso mahājanakāyo sannipatito.
Tvaṁ pana, bhante, kva ahosī’ti?
‘Idheva kho ahaṁ, āvuso, ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, addasā’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, addasan’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saddaṁ assosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, saddaṁ assosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, sutto ahosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, sutto ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saññī ahosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
‘So tvaṁ, bhante, saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva addasa, na pana saddaṁ assosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
Atha kho, pukkusa, tassa purisassa etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, santena vata bho pabbajitā vihārena viharanti.
Yatra hi nāma saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva dakkhati, na pana saddaṁ sossatī’ti.
Mayi uḷāraṁ pasādaṁ pavedetvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmī”ti.
Evaṁ vutte, pukkuso mallaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“esāhaṁ, bhante, yo me āḷāre kālāme pasādo taṁ mahāvāte vā ophuṇāmi sīghasotāya vā nadiyā pavāhemi.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Atha kho pukkuso mallaputto aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, bhaṇe, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ āharā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso pukkusassa mallaputtassa paṭissutvā taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ āhari.
Atha kho pukkuso mallaputto taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato upanāmesi:
“idaṁ, bhante, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ, taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Tena hi, pukkusa, ekena maṁ acchādehi, ekena ānandan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho pukkuso mallaputto bhagavato paṭissutvā ekena bhagavantaṁ acchādeti, ekena āyasmantaṁ ānandaṁ.
Atha kho bhagavā pukkusaṁ mallaputtaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho pukkuso mallaputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando acirapakkante pukkuse mallaputte taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato kāyaṁ upanāmesi.
Taṁ bhagavato kāyaṁ upanāmitaṁ hataccikaṁ viya khāyati.
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, yāva parisuddho, bhante, tathāgatassa chavivaṇṇo pariyodāto.
Idaṁ, bhante, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato kāyaṁ upanāmitaṁ hataccikaṁ viya khāyatī”ti.
“Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda, dvīsu kālesu ativiya tathāgatassa kāyo parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto.
Katamesu dvīsu?
Yañca, ānanda, rattiṁ tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca rattiṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati.
Imesu kho, ānanda, dvīsu kālesu ativiya tathāgatassa kāyo parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto.
Ajja kho panānanda, rattiyā pacchime yāme kusinārāyaṁ upavattane mallānaṁ sālavane antarena yamakasālānaṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Āyāmānanda, yena kakudhā nadī tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ,
pukkuso abhihārayi;
Tena acchādito satthā,
hemavaṇṇo asobhathāti.
(…)
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena kakudhā nadī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kakudhaṁ nadiṁ ajjhogāhetvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena ambavanaṁ tenupasaṅkami.
Upasaṅkamitvā āyasmantaṁ cundakaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, cundaka, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapehi, kilantosmi, cundaka, nipajjissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā cundako bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapesi.
Atha kho bhagavā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasikaritvā.
Āyasmā pana cundako tattheva bhagavato purato nisīdi.
Gantvāna buddho nadikaṁ kakudhaṁ,
Acchodakaṁ sātudakaṁ vippasannaṁ;
Ogāhi satthā akilantarūpo,
Tathāgato appaṭimo ca loke.
Nhatvā ca pivitvā cudatāri satthā,
Purakkhato bhikkhugaṇassa majjhe;
Vattā pavattā bhagavā idha dhamme,
Upāgami ambavanaṁ mahesi.
Āmantayi cundakaṁ nāma bhikkhuṁ,
Catugguṇaṁ santhara me nipajjaṁ;
So codito bhāvitattena cundo,
Catugguṇaṁ santhari khippameva;
Nipajji satthā akilantarūpo,
Cundopi tattha pamukhe nisīdīti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“siyā kho panānanda, cundassa kammāraputtassa koci vippaṭisāraṁ uppādeyya:
‘tassa te, āvuso cunda, alābhā tassa te dulladdhaṁ, yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto’ti.
Cundassa, ānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinetabbo:
‘tassa te, āvuso cunda, lābhā tassa te suladdhaṁ,
yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto.
Sammukhā metaṁ, āvuso cunda, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
dveme piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca.
Katame dve?
Yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati.
Ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca.
Āyusaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, vaṇṇasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, sukhasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, yasasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, saggasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, ādhipateyyasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitan’ti.
Cundassa, ānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinetabbo”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Dadato puññaṁ pavaḍḍhati,
Saṁyamato veraṁ na cīyati;
Kusalo ca jahāti pāpakaṁ,
Rāgadosamohakkhayā sanibbuto”ti.
Catuttho bhāṇavāro.
26. Yamakasālā
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena hiraññavatiyā nadiyā pārimaṁ tīraṁ, yena kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena hiraññavatiyā nadiyā pārimaṁ tīraṁ, yena kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, antarena yamakasālānaṁ uttarasīsakaṁ mañcakaṁ paññapehi, kilantosmi, ānanda, nipajjissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā antarena yamakasālānaṁ uttarasīsakaṁ mañcakaṁ paññapesi.
Atha kho bhagavā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno.
Tena kho pana samayena yamakasālā sabbaphāliphullā honti akālapupphehi.
Te tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi mandāravapupphāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi candanacuṇṇāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi tūriyāni antalikkhe vajjanti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi saṅgītāni antalikkhe vattanti tathāgatassa pūjāya.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“sabbaphāliphullā kho, ānanda, yamakasālā akālapupphehi.
Te tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi mandāravapupphāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi candanacuṇṇāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi tūriyāni antalikkhe vajjanti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi saṅgītāni antalikkhe vattanti tathāgatassa pūjāya.
Na kho, ānanda, ettāvatā tathāgato sakkato vā hoti garukato vā mānito vā pūjito vā apacito vā.
Yo kho, ānanda, bhikkhu vā bhikkhunī vā upāsako vā upāsikā vā dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tathāgataṁ sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti apaciyati, paramāya pūjāya.
Tasmātihānanda, dhammānudhammappaṭipannā viharissāma sāmīcippaṭipannā anudhammacārinoti.
Evañhi vo, ānanda, sikkhitabban”ti.
27. Upavāṇatthera
Tena kho pana samayena āyasmā upavāṇo bhagavato purato ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāresi:
“apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī”ti.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā upavāṇo dīgharattaṁ bhagavato upaṭṭhāko santikāvacaro samīpacārī.
Atha ca pana bhagavā pacchime kāle āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’ti.
Ko nu kho hetu, ko paccayo, yaṁ bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’”ti?
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, āyasmā upavāṇo dīgharattaṁ bhagavato upaṭṭhāko santikāvacaro samīpacārī.
Atha ca pana bhagavā pacchime kāle āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’ti.
Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yaṁ bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’”ti?
“Yebhuyyena, ānanda, dasasu lokadhātūsu devatā sannipatitā tathāgataṁ dassanāya.
Yāvatā, ānanda, kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ samantato dvādasa yojanāni, natthi so padeso vālaggakoṭinittudanamattopi mahesakkhāhi devatāhi apphuṭo.
Devatā, ānanda, ujjhāyanti:
‘dūrā ca vatamha āgatā tathāgataṁ dassanāya.
Kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ayañca mahesakkho bhikkhu bhagavato purato ṭhito ovārento, na mayaṁ labhāma pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
“Kathaṁbhūtā pana, bhante, bhagavā devatā manasikarotī”ti?
“Santānanda, devatā ākāse pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī’ti.
Santānanda, devatā pathaviyaṁ pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī’ti.
Yā pana tā devatā vītarāgā, tā satā sampajānā adhivāsenti:
‘aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā’”ti.
28. Catusaṁvejanīyaṭhāna
“Pubbe, bhante, disāsu vassaṁvuṭṭhā bhikkhū āgacchanti tathāgataṁ dassanāya.
Te mayaṁ labhāma manobhāvanīye bhikkhū dassanāya, labhāma payirupāsanāya.
Bhagavato pana mayaṁ, bhante, accayena na labhissāma manobhāvanīye bhikkhū dassanāya, na labhissāma payirupāsanāyā”ti.
“Cattārimāni, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyāni saṁvejanīyāni ṭhānāni.
Katamāni cattāri?
‘Idha tathāgato jāto’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
‘Idha tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
‘Idha tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitan’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
‘Idha tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
Imāni kho, ānanda, cattāri saddhassa kulaputtassa dassanīyāni saṁvejanīyāni ṭhānāni.
Āgamissanti kho, ānanda, saddhā bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo:
‘idha tathāgato jāto’tipi, ‘idha tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’tipi, ‘idha tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitan’tipi, ‘idha tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto’tipi.
Ye hi keci, ānanda, cetiyacārikaṁ āhiṇḍantā pasannacittā kālaṁ karissanti, sabbe te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissantī”ti.
29. Ānandapucchākathā
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, mātugāme paṭipajjāmā”ti?
“Adassanaṁ, ānandā”ti.
“Dassane, bhagavā, sati kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Anālāpo, ānandā”ti.
“Ālapantena pana, bhante, kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Sati, ānanda, upaṭṭhāpetabbā”ti.
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, tathāgatassa sarīre paṭipajjāmā”ti?
“Abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāya.
Iṅgha tumhe, ānanda, sāratthe ghaṭatha anuyuñjatha, sāratthe appamattā ātāpino pahitattā viharatha.
Santānanda, khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi tathāgate abhippasannā, te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti?
“Yathā kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjantī”ti?
“Rañño, ānanda, cakkavattissa sarīraṁ ahatena vatthena veṭhenti, ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhenti, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhenti.
Etenupāyena pañcahi yugasatehi rañño cakkavattissa sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā rañño cakkavattissa sarīraṁ jhāpenti.
Cātumahāpathe rañño cakkavattissa thūpaṁ karonti.
Evaṁ kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti.
Yathā kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabbaṁ.
Cātumahāpathe tathāgatassa thūpo kātabbo.
Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
30. Thūpārahapuggala
Cattārome, ānanda, thūpārahā.
Katame cattāro?
Tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho, paccekasambuddho thūpāraho, tathāgatassa sāvako thūpāraho, rājā cakkavattī thūpārahoti.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca paccekasambuddho thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa bhagavato paccekasambuddhassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca paccekasambuddho thūpāraho.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgatassa sāvako thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa sāvakassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgatassa sāvako thūpāraho.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca rājā cakkavattī thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa dhammikassa dhammarañño thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca rājā cakkavattī thūpāraho.
Ime kho, ānanda, cattāro thūpārahā”ti.
31. Ānandaacchariyadhamma
Atha kho āyasmā ānando vihāraṁ pavisitvā kapisīsaṁ ālambitvā rodamāno aṭṭhāsi:
“ahañca vatamhi sekho sakaraṇīyo, satthu ca me parinibbānaṁ bhavissati, yo mama anukampako”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“kahaṁ nu kho, bhikkhave, ānando”ti?
“Eso, bhante, āyasmā ānando vihāraṁ pavisitvā kapisīsaṁ ālambitvā rodamāno ṭhito:
‘ahañca vatamhi sekho sakaraṇīyo, satthu ca me parinibbānaṁ bhavissati, yo mama anukampako’”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena ānandaṁ āmantehi:
‘satthā taṁ, āvuso ānanda, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso ānanda, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā ānando tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“alaṁ, ānanda, mā soci mā paridevi, nanu etaṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’;
taṁ kutettha, ānanda, labbhā. Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, ‘taṁ vata tathāgatassāpi sarīraṁ mā palujjī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Dīgharattaṁ kho te, ānanda, tathāgato paccupaṭṭhito mettena kāyakammena hitena sukhena advayena appamāṇena, mettena vacīkammena hitena sukhena advayena appamāṇena, mettena manokammena hitena sukhena advayena appamāṇena.
Katapuññosi tvaṁ, ānanda, padhānamanuyuñja, khippaṁ hohisi anāsavo”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“yepi te, bhikkhave, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva upaṭṭhākā ahesuṁ, seyyathāpi mayhaṁ ānando.
Yepi te, bhikkhave, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva upaṭṭhākā bhavissanti, seyyathāpi mayhaṁ ānando.
Paṇḍito, bhikkhave, ānando;
medhāvī, bhikkhave, ānando.
Jānāti ‘ayaṁ kālo tathāgataṁ dassanāya upasaṅkamituṁ bhikkhūnaṁ, ayaṁ kālo bhikkhunīnaṁ, ayaṁ kālo upāsakānaṁ, ayaṁ kālo upāsikānaṁ, ayaṁ kālo rañño rājamahāmattānaṁ titthiyānaṁ titthiyasāvakānan’ti.
Cattārome, bhikkhave, acchariyā abbhutā dhammā ānande.
Katame cattāro?
Sace, bhikkhave, bhikkhuparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, bhikkhuparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave, bhikkhunīparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, bhikkhunīparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave, upāsakaparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, upāsakaparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave, upāsikāparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, upāsikāparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro acchariyā abbhutā dhammā ānande.
Cattārome, bhikkhave, acchariyā abbhutā dhammā raññe cakkavattimhi.
Katame cattāro?
Sace, bhikkhave, khattiyaparisā rājānaṁ cakkavattiṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce rājā cakkavattī bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, khattiyaparisā hoti. Atha kho rājā cakkavattī tuṇhī hoti.
Sace bhikkhave, brāhmaṇaparisā …pe…
gahapatiparisā …pe…
samaṇaparisā rājānaṁ cakkavattiṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce rājā cakkavattī bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, samaṇaparisā hoti. Atha kho rājā cakkavattī tuṇhī hoti.
Evameva kho, bhikkhave, cattārome acchariyā abbhutā dhammā ānande.
Sace, bhikkhave, bhikkhuparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, bhikkhuparisā hoti.
Atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave bhikkhunīparisā …pe…
upāsakaparisā …pe…
upāsikāparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, upāsikāparisā hoti.
Atha kho ānando tuṇhī hoti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro acchariyā abbhutā dhammā ānande”ti.
32. Mahāsudassanasuttadesanā
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“mā, bhante, bhagavā imasmiṁ khuddakanagarake ujjaṅgalanagarake sākhānagarake parinibbāyi.
Santi, bhante, aññāni mahānagarāni, seyyathidaṁ—
campā rājagahaṁ sāvatthī sāketaṁ kosambī bārāṇasī;
ettha bhagavā parinibbāyatu.
Ettha bahū khattiyamahāsālā, brāhmaṇamahāsālā gahapatimahāsālā tathāgate abhippasannā.
Te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti
“mā hevaṁ, ānanda, avaca, mā hevaṁ, ānanda, avaca:
‘khuddakanagarakaṁ ujjaṅgalanagarakaṁ sākhānagarakan’ti.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano nāma ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa ayaṁ kusinārā kusāvatī nāma rājadhānī ahosi.
puratthimena ca pacchimena ca dvādasayojanāni āyāmena; uttarena ca dakkhiṇena ca sattayojanāni vitthārena.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Seyyathāpi, ānanda, devānaṁ āḷakamandā nāma rājadhānī iddhā ceva hoti phītā ca bahujanā ca ākiṇṇayakkhā ca subhikkhā ca;
evameva kho, ānanda, kusāvatī rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī dasahi saddehi avivittā ahosi divā ceva rattiñca, seyyathidaṁ—
hatthisaddena assasaddena rathasaddena bherisaddena mudiṅgasaddena vīṇāsaddena gītasaddena saṅkhasaddena sammasaddena pāṇitāḷasaddena ‘asnātha pivatha khādathā’ti dasamena saddena.
Gaccha tvaṁ, ānanda, kusināraṁ pavisitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocehi:
‘ajja kho, vāseṭṭhā, rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Abhikkamatha, vāseṭṭhā, abhikkamatha, vāseṭṭhā.
Mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha—
amhākañca no gāmakkhette tathāgatassa parinibbānaṁ ahosi, na mayaṁ labhimhā pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā nivāsetvā pattacīvaramādāya attadutiyo kusināraṁ pāvisi.
33. Mallānaṁvandanā
Tena kho pana samayena kosinārakā mallā sandhāgāre sannipatitā honti kenacideva karaṇīyena.
Atha kho āyasmā ānando yena kosinārakānaṁ mallānaṁ sandhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocesi:
“ajja kho, vāseṭṭhā, rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Abhikkamatha, vāseṭṭhā, abhikkamatha, vāseṭṭhā.
Mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha:
‘amhākañca no gāmakkhette tathāgatassa parinibbānaṁ ahosi, na mayaṁ labhimhā pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
Idamāyasmato ānandassa vacanaṁ sutvā mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā appekacce kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti vivaṭṭanti:
“atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī”ti.
Atha kho mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“sace kho ahaṁ kosinārake malle ekamekaṁ bhagavantaṁ vandāpessāmi, avandito bhagavā kosinārakehi mallehi bhavissati, athāyaṁ ratti vibhāyissati.
Yannūnāhaṁ kosinārake malle kulaparivattaso kulaparivattaso ṭhapetvā bhagavantaṁ vandāpeyyaṁ:
‘itthannāmo, bhante, mallo saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhagavato pāde sirasā vandatī’”ti.
Atha kho āyasmā ānando kosinārake malle kulaparivattaso kulaparivattaso ṭhapetvā bhagavantaṁ vandāpesi:
“itthannāmo, bhante, mallo saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhagavato pāde sirasā vandatī”ti.
Atha kho āyasmā ānando etena upāyena paṭhameneva yāmena kosinārake malle bhagavantaṁ vandāpesi.
34. Subhaddaparibbājakavatthu
Tena kho pana samayena subhaddo nāma paribbājako kusinārāyaṁ paṭivasati.
Assosi kho subhaddo paribbājako:
“ajja kira rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissatī”ti.
Atha kho subhaddassa paribbājakassa etadahosi:
“sutaṁ kho pana metaṁ paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati.
Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno,
evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame, ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’”ti.
Atha kho subhaddo paribbājako yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ, yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bho ānanda, paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati.
Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno—
evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’ti.
Sādhāhaṁ, bho ānanda, labheyyaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“alaṁ, āvuso subhadda, mā tathāgataṁ viheṭhesi, kilanto bhagavā”ti.
Dutiyampi kho subhaddo paribbājako …pe…
tatiyampi kho subhaddo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bho ānanda, paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati.
Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno—
evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame, ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’ti.
Sādhāhaṁ, bho ānanda, labheyyaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāyā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“alaṁ, āvuso subhadda, mā tathāgataṁ viheṭhesi, kilanto bhagavā”ti.
Assosi kho bhagavā āyasmato ānandassa subhaddena paribbājakena saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“alaṁ, ānanda, mā subhaddaṁ vāresi, labhataṁ, ānanda, subhaddo tathāgataṁ dassanāya.
Yaṁ kiñci maṁ subhaddo pucchissati, sabbaṁ taṁ aññāpekkhova pucchissati, no vihesāpekkho.
Yañcassāhaṁ puṭṭho byākarissāmi, taṁ khippameva ājānissatī”ti.
Atha kho āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“gacchāvuso subhadda, karoti te bhagavā okāsan”ti.
Atha kho subhaddo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho subhaddo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“yeme, bho gotama, samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa,
seyyathidaṁ—pūraṇo kassapo, makkhali gosālo, ajito kesakambalo, pakudho kaccāyano, sañcayo belaṭṭhaputto, nigaṇṭho nāṭaputto,
sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññiṁsu, sabbeva na abbhaññiṁsu, udāhu ekacce abbhaññiṁsu, ekacce na abbhaññiṁsū”ti?
“Alaṁ, subhadda, tiṭṭhatetaṁ:
‘sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññiṁsu, sabbeva na abbhaññiṁsu, udāhu ekacce abbhaññiṁsu, ekacce na abbhaññiṁsū’ti.
Dhammaṁ te, subhadda, desessāmi;
taṁ suṇāhi sādhukaṁ manasikarohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho subhaddo paribbājako bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Yasmiṁ kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo na upalabbhati, samaṇopi tattha na upalabbhati. Dutiyopi tattha samaṇo na upalabbhati. Tatiyopi tattha samaṇo na upalabbhati. Catutthopi tattha samaṇo na upalabbhati.
Yasmiñca kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo upalabbhati, samaṇopi tattha upalabbhati, dutiyopi tattha samaṇo upalabbhati, tatiyopi tattha samaṇo upalabbhati, catutthopi tattha samaṇo upalabbhati.
Imasmiṁ kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo upalabbhati, idheva, subhadda, samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo, suññā parappavādā samaṇebhi aññehi.
Ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṁ, asuñño loko arahantehi assāti.
Ekūnatiṁso vayasā subhadda,
Yaṁ pabbajiṁ kiṅkusalānuesī;
Vassāni paññāsa samādhikāni,
Yato ahaṁ pabbajito subhadda;
Ñāyassa dhammassa padesavattī,
Ito bahiddhā samaṇopi natthi.
Dutiyopi samaṇo natthi.
Tatiyopi samaṇo natthi.
Catutthopi samaṇo natthi.
Suññā parappavādā samaṇebhi aññehi.
Ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṁ, asuñño loko arahantehi assā”ti.
Evaṁ vutte, subhaddo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Yo kho, subhadda, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya.
Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ cattāro māse parivasanti, catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya. Ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi, catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“tenahānanda, subhaddaṁ pabbājehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho subhaddo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“lābhā vo, āvuso ānanda; suladdhaṁ vo, āvuso ānanda,
ye ettha satthu sammukhā antevāsikābhisekena abhisittā”ti.
Alattha kho subhaddo paribbājako bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā subhaddo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti—tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā subhaddo arahataṁ ahosi.
So bhagavato pacchimo sakkhisāvako ahosīti.
Pañcamo bhāṇavāro.
35. Tathāgatapacchimavācā
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“siyā kho panānanda, tumhākaṁ evamassa:
‘atītasatthukaṁ pāvacanaṁ, natthi no satthā’ti.
Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yo vo, ānanda, mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto, so vo mamaccayena satthā.
Yathā kho panānanda, etarahi bhikkhū aññamaññaṁ āvusovādena samudācaranti, na kho mamaccayena evaṁ samudācaritabbaṁ.
Theratarena, ānanda, bhikkhunā navakataro bhikkhu nāmena vā gottena vā āvusovādena vā samudācaritabbo.
Navakatarena bhikkhunā therataro bhikkhu ‘bhante’ti vā ‘āyasmā’ti vā samudācaritabbo.
Ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatu.
Channassa, ānanda, bhikkhuno mamaccayena brahmadaṇḍo dātabbo”ti.
“Katamo pana, bhante, brahmadaṇḍo”ti?
“Channo, ānanda, bhikkhu yaṁ iccheyya, taṁ vadeyya.
So bhikkhūhi neva vattabbo, na ovaditabbo, na anusāsitabbo”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“siyā kho pana, bhikkhave, ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā, pucchatha, bhikkhave, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha:
‘sammukhībhūto no satthā ahosi, na mayaṁ sakkhimhā bhagavantaṁ sammukhā paṭipucchitun’”ti.
Evaṁ vutte, te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Dutiyampi kho bhagavā …pe…
tatiyampi kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“siyā kho pana, bhikkhave, ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā, pucchatha, bhikkhave, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha:
‘sammukhībhūto no satthā ahosi, na mayaṁ sakkhimhā bhagavantaṁ sammukhā paṭipucchitun’”ti.
Tatiyampi kho te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“siyā kho pana, bhikkhave, satthugāravenapi na puccheyyātha. Sahāyakopi, bhikkhave, sahāyakassa ārocetū”ti.
Evaṁ vutte, te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, imasmiṁ bhikkhusaṅghe, ‘natthi ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā’”ti.
“Pasādā kho tvaṁ, ānanda, vadesi, ñāṇameva hettha, ānanda, tathāgatassa. Natthi imasmiṁ bhikkhusaṅghe ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā.
Imesañhi, ānanda, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ yo pacchimako bhikkhu, so sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo,
vayadhammā saṅkhārā appamādena sampādethā”ti.
Ayaṁ tathāgatassa pacchimā vācā.
36. Parinibbutakathā
Atha kho bhagavā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā saññāvedayitanirodhaṁ samāpajji.
Atha kho āyasmā ānando āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca:
“parinibbuto, bhante anuruddha, bhagavā”ti.
“Nāvuso ānanda, bhagavā parinibbuto, saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno”ti.
Atha kho bhagavā saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā samanantarā bhagavā parinibbāyi.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā mahābhūmicālo ahosi bhiṁsanako salomahaṁso. Devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā brahmāsahampati imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Sabbeva nikkhipissanti,
bhūtā loke samussayaṁ;
Yattha etādiso satthā,
loke appaṭipuggalo;
Tathāgato balappatto,
sambuddho parinibbuto”ti.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā sakko devānamindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Aniccā vata saṅkhārā,
uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti,
tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā anuruddho imā gāthāyo abhāsi:
“Nāhu assāsapassāso,
ṭhitacittassa tādino;
Anejo santimārabbha,
yaṁ kālamakarī muni.
Asallīnena cittena,
vedanaṁ ajjhavāsayi;
Pajjotasseva nibbānaṁ,
vimokkho cetaso ahū”ti.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā ānando imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Tadāsi yaṁ bhiṁsanakaṁ,
tadāsi lomahaṁsanaṁ;
Sabbākāravarūpete,
sambuddhe parinibbute”ti.
Parinibbute bhagavati ye te tattha bhikkhū avītarāgā appekacce bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti vivaṭṭanti, “atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti.
Ye pana te bhikkhū vītarāgā, te satā sampajānā adhivāsenti:
“aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā”ti.
Atha kho āyasmā anuruddho bhikkhū āmantesi:
“alaṁ, āvuso, mā socittha mā paridevittha.
Nanu etaṁ, āvuso, bhagavatā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’.
Taṁ kutettha, āvuso, labbhā. ‘Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Devatā, āvuso, ujjhāyantī”ti.
“Kathaṁbhūtā pana, bhante, āyasmā anuruddho devatā manasi karotī”ti?
“Santāvuso ānanda, devatā ākāse pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito’ti.
Santāvuso ānanda, devatā pathaviyā pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito’ti.
Yā pana tā devatā vītarāgā, tā satā sampajānā adhivāsenti:
‘aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā’”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca ānando taṁ rattāvasesaṁ dhammiyā kathāya vītināmesuṁ.
Atha kho āyasmā anuruddho āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gacchāvuso ānanda, kusināraṁ pavisitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocehi:
‘parinibbuto, vāseṭṭhā, bhagavā,
yassadāni kālaṁ maññathā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando āyasmato anuruddhassa paṭissutvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya attadutiyo kusināraṁ pāvisi.
Tena kho pana samayena kosinārakā mallā sandhāgāre sannipatitā honti teneva karaṇīyena.
Atha kho āyasmā ānando yena kosinārakānaṁ mallānaṁ sandhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocesi:
“parinibbuto, vāseṭṭhā, bhagavā,
yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
Idamāyasmato ānandassa vacanaṁ sutvā mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā appekacce kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
“atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti.
37. Buddhasarīrapūjā
Atha kho kosinārakā mallā purise āṇāpesuṁ:
“tena hi, bhaṇe, kusinārāyaṁ gandhamālañca sabbañca tāḷāvacaraṁ sannipātethā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā gandhamālañca sabbañca tāḷāvacaraṁ pañca ca dussayugasatāni ādāya yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ, yena bhagavato sarīraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā celavitānāni karontā maṇḍalamāḷe paṭiyādentā ekadivasaṁ vītināmesuṁ.
Atha kho kosinārakānaṁ mallānaṁ etadahosi:
“ativikālo kho ajja bhagavato sarīraṁ jhāpetuṁ, sve dāni mayaṁ bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā celavitānāni karontā maṇḍalamāḷe paṭiyādentā dutiyampi divasaṁ vītināmesuṁ, tatiyampi divasaṁ vītināmesuṁ, catutthampi divasaṁ vītināmesuṁ, pañcamampi divasaṁ vītināmesuṁ, chaṭṭhampi divasaṁ vītināmesuṁ.
Atha kho sattamaṁ divasaṁ kosinārakānaṁ mallānaṁ etadahosi:
“mayaṁ bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā dakkhiṇena dakkhiṇaṁ nagarassa haritvā bāhirena bāhiraṁ dakkhiṇato nagarassa bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā”ti.
Tena kho pana samayena aṭṭha mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
“mayaṁ bhagavato sarīraṁ uccāressāmā”ti na sakkonti uccāretuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ:
“ko nu kho, bhante anuruddha, hetu ko paccayo, yenime aṭṭha mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ uccāressāmā’ti na sakkonti uccāretun”ti?
“Aññathā kho, vāseṭṭhā, tumhākaṁ adhippāyo, aññathā devatānaṁ adhippāyo”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, devatānaṁ adhippāyo”ti?
“Tumhākaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo:
‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā dakkhiṇena dakkhiṇaṁ nagarassa haritvā bāhirena bāhiraṁ dakkhiṇato nagarassa bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā’ti;
devatānaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo:
‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ dibbehi naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā uttarena uttaraṁ nagarassa haritvā uttarena dvārena nagaraṁ pavesetvā majjhena majjhaṁ nagarassa haritvā puratthimena dvārena nikkhamitvā puratthimato nagarassa makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ ettha bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā’”ti.
“Yathā, bhante, devatānaṁ adhippāyo, tathā hotū”ti.
Tena kho pana samayena kusinārā yāva sandhisamalasaṅkaṭīrā jaṇṇumattena odhinā mandāravapupphehi santhatā hoti.
Atha kho devatā ca kosinārakā ca mallā bhagavato sarīraṁ dibbehi ca mānusakehi ca naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā uttarena uttaraṁ nagarassa haritvā uttarena dvārena nagaraṁ pavesetvā majjhena majjhaṁ nagarassa haritvā puratthimena dvārena nikkhamitvā puratthimato nagarassa makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ ettha ca bhagavato sarīraṁ nikkhipiṁsu.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
“kathaṁ mayaṁ, bhante ānanda, tathāgatassa sarīre paṭipajjāmā”ti?
“Yathā kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti.
“Kathaṁ pana, bhante ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjantī”ti?
“Rañño, vāseṭṭhā, cakkavattissa sarīraṁ ahatena vatthena veṭhenti, ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhenti, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhenti.
Etena upāyena pañcahi yugasatehi rañño cakkavattissa sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā rañño cakkavattissa sarīraṁ jhāpenti.
Cātumahāpathe rañño cakkavattissa thūpaṁ karonti.
Evaṁ kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti.
Yathā kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabbaṁ.
Cātumahāpathe tathāgatassa thūpo kātabbo.
Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā purise āṇāpesuṁ:
“tena hi, bhaṇe, mallānaṁ vihataṁ kappāsaṁ sannipātethā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīraṁ ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhesuṁ, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhesuṁ.
Etena upāyena pañcahi yugasatehi bhagavato sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā bhagavato sarīraṁ citakaṁ āropesuṁ.
38. Mahākassapattheravatthu
Tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo pāvāya kusināraṁ addhānamaggappaṭipanno hoti mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
Atha kho āyasmā mahākassapo maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Tena kho pana samayena aññataro ājīvako kusinārāya mandāravapupphaṁ gahetvā pāvaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Addasā kho āyasmā mahākassapo taṁ ājīvakaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvā taṁ ājīvakaṁ etadavoca:
“apāvuso, amhākaṁ satthāraṁ jānāsī”ti?
“Āmāvuso, jānāmi, ajja sattāhaparinibbuto samaṇo gotamo.
Tato me idaṁ mandāravapupphaṁ gahitan”ti.
Tattha ye te bhikkhū avītarāgā appekacce bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
“atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti.
Ye pana te bhikkhū vītarāgā, te satā sampajānā adhivāsenti:
“aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā”ti.
Tena kho pana samayena subhaddo nāma vuddhapabbajito tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti.
Atha kho subhaddo vuddhapabbajito te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, āvuso, mā socittha, mā paridevittha, sumuttā mayaṁ tena mahāsamaṇena. Upaddutā ca homa:
‘idaṁ vo kappati, idaṁ vo na kappatī’ti.
Idāni pana mayaṁ yaṁ icchissāma, taṁ karissāma, yaṁ na icchissāma, na taṁ karissāmā”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo bhikkhū āmantesi:
“alaṁ, āvuso, mā socittha, mā paridevittha.
Nanu etaṁ, āvuso, bhagavatā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’.
Taṁ kutettha, āvuso, labbhā. ‘Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ tathāgatassāpi sarīraṁ mā palujjī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Tena kho pana samayena cattāro mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
“mayaṁ bhagavato citakaṁ āḷimpessāmā”ti na sakkonti āḷimpetuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ:
“ko nu kho, bhante anuruddha, hetu ko paccayo, yenime cattāro mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
‘mayaṁ bhagavato citakaṁ āḷimpessāmā’ti na sakkonti āḷimpetun”ti?
“Aññathā kho, vāseṭṭhā, devatānaṁ adhippāyo”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, devatānaṁ adhippāyo”ti?
“Devatānaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo:
‘ayaṁ āyasmā mahākassapo pāvāya kusināraṁ addhānamaggappaṭipanno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
Na tāva bhagavato citako pajjalissati, yāvāyasmā mahākassapo bhagavato pāde sirasā na vandissatī’”ti.
“Yathā, bhante, devatānaṁ adhippāyo, tathā hotū”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo yena kusinārā makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ, yena bhagavato citako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ katvā bhagavato pāde sirasā vandi.
Tānipi kho pañcabhikkhusatāni ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ katvā bhagavato pāde sirasā vandiṁsu.
Vandite ca panāyasmatā mahākassapena tehi ca pañcahi bhikkhusatehi sayameva bhagavato citako pajjali.
Jhāyamānassa kho pana bhagavato sarīrassa yaṁ ahosi chavīti vā cammanti vā maṁsanti vā nhārūti vā lasikāti vā, tassa neva chārikā paññāyittha, na masi;
sarīrāneva avasissiṁsu.
Seyyathāpi nāma sappissa vā telassa vā jhāyamānassa neva chārikā paññāyati, na masi;
evameva bhagavato sarīrassa jhāyamānassa yaṁ ahosi chavīti vā cammanti vā maṁsanti vā nhārūti vā lasikāti vā, tassa neva chārikā paññāyittha, na masi;
sarīrāneva avasissiṁsu.
Tesañca pañcannaṁ dussayugasatānaṁ dveva dussāni na ḍayhiṁsu yañca sabbaabbhantarimaṁ yañca bāhiraṁ.
Daḍḍhe ca kho pana bhagavato sarīre antalikkhā udakadhārā pātubhavitvā bhagavato citakaṁ nibbāpesi.
Udakasālatopi abbhunnamitvā bhagavato citakaṁ nibbāpesi.
Kosinārakāpi mallā sabbagandhodakena bhagavato citakaṁ nibbāpesuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīrāni sattāhaṁ sandhāgāre sattipañjaraṁ karitvā dhanupākāraṁ parikkhipāpetvā naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkariṁsu garuṁ kariṁsu mānesuṁ pūjesuṁ.
39. Sarīradhātuvibhajana
Assosi kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesi:
“bhagavāpi khattiyo ahampi khattiyo, ahampi arahāmi bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, ahampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmī”ti.
Assosuṁ kho vesālikā licchavī:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho vesālikā licchavī kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosuṁ kho kapilavatthuvāsī sakyā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho kapilavatthuvāsī sakyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavā amhākaṁ ñātiseṭṭho, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosuṁ kho allakappakā bulayo:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho allakappakā bulayo kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosuṁ kho rāmagāmakā koḷiyā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho rāmagāmakā koḷiyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosi kho veṭṭhadīpako brāhmaṇo:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho veṭṭhadīpako brāhmaṇo kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesi:
“bhagavāpi khattiyo ahampismi brāhmaṇo, ahampi arahāmi bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, ahampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmī”ti.
Assosuṁ kho pāveyyakā mallā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho pāveyyakā mallā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Evaṁ vutte, kosinārakā mallā te saṅghe gaṇe etadavocuṁ:
“bhagavā amhākaṁ gāmakkhette parinibbuto, na mayaṁ dassāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgan”ti.
Evaṁ vutte, doṇo brāhmaṇo te saṅghe gaṇe etadavoca:
“Suṇantu bhonto mama ekavācaṁ,
Amhāka buddho ahu khantivādo;
Na hi sādhu yaṁ uttamapuggalassa,
Sarīrabhāge siyā sampahāro.
Sabbeva bhonto sahitā samaggā,
Sammodamānā karomaṭṭhabhāge;
Vitthārikā hontu disāsu thūpā,
Bahū janā cakkhumato pasannā”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, tvaññeva bhagavato sarīrāni aṭṭhadhā samaṁ savibhattaṁ vibhajāhī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho doṇo brāhmaṇo tesaṁ saṅghānaṁ gaṇānaṁ paṭissutvā bhagavato sarīrāni aṭṭhadhā samaṁ suvibhattaṁ vibhajitvā te saṅghe gaṇe etadavoca:
“imaṁ me bhonto tumbaṁ dadantu ahampi tumbassa thūpañca mahañca karissāmī”ti.
Adaṁsu kho te doṇassa brāhmaṇassa tumbaṁ.
Assosuṁ kho pippalivaniyā moriyā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho pippalivaniyā moriyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
“Natthi bhagavato sarīrānaṁ bhāgo, vibhattāni bhagavato sarīrāni.
Ito aṅgāraṁ harathā”ti.
Te tato aṅgāraṁ hariṁsu.
40. Dhātuthūpapūjā
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto rājagahe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akāsi.
Vesālikāpi licchavī vesāliyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Kapilavatthuvāsīpi sakyā kapilavatthusmiṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Allakappakāpi bulayo allakappe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Rāmagāmakāpi koḷiyā rāmagāme bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Veṭṭhadīpakopi brāhmaṇo veṭṭhadīpe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akāsi.
Pāveyyakāpi mallā pāvāyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Kosinārakāpi mallā kusinārāyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Doṇopi brāhmaṇo tumbassa thūpañca mahañca akāsi.
Pippalivaniyāpi moriyā pippalivane aṅgārānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Iti aṭṭha sarīrathūpā navamo tumbathūpo dasamo aṅgārathūpo.
Evametaṁ bhūtapubbanti.
Aṭṭhadoṇaṁ cakkhumato sarīraṁ,
Sattadoṇaṁ jambudīpe mahenti;
Ekañca doṇaṁ purisavaruttamassa,
Rāmagāme nāgarājā maheti.
Ekāhi dāṭhā tidivehi pūjitā,
Ekā pana gandhārapure mahīyati;
Kāliṅgarañño vijite punekaṁ,
Ekaṁ pana nāgarājā maheti.
Tasseva tejena ayaṁ vasundharā,
Āyāgaseṭṭhehi mahī alaṅkatā;
Evaṁ imaṁ cakkhumato sarīraṁ,
Susakkataṁ sakkatasakkatehi.
Devindanāgindanarindapūjito,
Manussindaseṭṭhehi tatheva pūjito;
Taṁ vandatha pañjalikā labhitvā,
Buddho have kappasatehi dullabhoti.
Cattālīsa samā dantā,
kesā lomā ca sabbaso;
Devā hariṁsu ekekaṁ,
cakkavāḷaparamparāti.
Mahāparinibbānasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
The First Chapter for Recitation
1: King Ajātasattu
Thus I heard:
SC 1At one time the Gracious One was living near Rājagaha on the Vultures’ Peak Mountain.
SC 2Now at that time the Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, had a desire to attack the Vajjians. He said this: “I will annihilate these Vajjians, who are so successful, so powerful, I will destroy the Vajjians, I will bring about the downfall and destruction of the Vajjians”.
SC 3Then the Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, addressed the Magadhan chief minister the brahmin Vassakāra, saying:
SC 4“Go, brahmin, and approach the Gracious One, and after approaching worship the Gracious One’s feet in my name, and ask whether he is free from sickness, free from illness, in good health, and living comfortably, and say: ‘The Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, reverend Sir, worships with his head at the Gracious One’s feet, and asks whether you are free from sickness, free from illness, in good health, and living comfortably.’
SC 5And say this: ‘The Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, reverend Sir, desires to attack the Vajjians. He says this: “I will annihilate these Vajjians, who are so successful, so powerful, I will destroy the Vajjians, I will bring about the downfall and destruction of the Vajjians.” And just what the Gracious One says to you, after learning it well, you must inform me, for the Realised Ones do not speak falsely.”
SC 6“Very well, dear Sir,” and the Magadhan chief minister the brahmin Vassakāra, after replying to the Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, and having many great and august vehicles prepared, and mounting those great and august vehicles, departed with those great and august vehicles from Rājagaha, and after approaching by vehicle to the Vultures’ Peak Mountain as far as the ground for vehicles would allow, and descending from the vehicles, he approached the Gracious One by foot, and after approaching, he exchanged greetings with the Gracious One, and after exchanging courteous talk and greetings, he sat down on one side. While sitting on one side, the Magadhan chief minister the brahmin Vassakāra said this to the Gracious One:
SC 7“The Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, dear Gotama, worships with his head at dear Gotama’s feet, and asks whether you are free from sickness, free from illness, in good health, and living comfortably.
SC 8The Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, dear Gotama, desires to attack the Vajjians. He says this: ‘I will annihilate these Vajjians, who are so successful, so powerful, I will destroy the Vajjians, I will bring about the downfall and destruction of the Vajjians’”.
2: Seven Things which Prevent Decline in the Vajjians
SC 9Now at that time venerable Ānanda was stood behind the Gracious One fanning the Gracious One. Then the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying:
SC 101) “Have you heard, Ānanda: ‘The Vajjians assemble regularly and assemble frequently?’” “I have heard this, reverend Sir: ‘The Vajjians assemble regularly and assemble frequently.’” “For as long, Ānanda, as the Vajjians will assemble regularly and assemble frequently surely growth, Ānanda, is to be expected for the Vajjians not decline.
SC 112) Have you heard, Ānanda: ‘The Vajjians assemble unanimously, rise unanimously, and carry out their Vajjian duties unanimously?’” “I have heard this, reverend Sir, that the Vajjians assemble unanimously, rise unanimously, and carry out their Vajjian duties unanimously.” “For as long, Ānanda, as the Vajjians will assemble unanimously, rise unanimously, and carry out their Vajjian duties unanimously, surely growth, Ānanda, is to be expected for the Vajjians not decline.
SC 123) Have you heard, Ānanda: ‘The Vajjians do not establish new laws that were not established, or cut off old laws that were established, and carry on with such laws as were accepted in the Ancient Vajjian Constitution?’” “I have heard this, reverend Sir: ‘The Vajjians do not establish new laws that were not established, or cut off old laws that were established, and they carry on with such laws as were accepted in the Ancient Vajjian Constitution.’” “For as long, Ānanda, as the Vajjians do not establish new laws that were not established, or cut off old laws that were established, and they carry on with such laws as were accepted in the Ancient Vajjian Constitution surely growth, Ānanda, is to be expected for the Vajjians not decline.
SC 134) Have you heard, Ānanda: ‘The Vajjians honour the elders of the Vajjians, respect, revere, worship and think them worth listening to?’” “I have heard this, reverend Sir: ‘The Vajjians honour the elders of the Vajjians, respect, revere, worship and think them worth listening to.’” “For as long, Ānanda, as the Vajjians will honour the elders of the Vajjians, respect, revere, worship and think them worth listening to, surely growth, Ānanda, is to be expected for the Vajjians not decline.
SC 145) Have you heard, Ānanda: ‘The Vajjians do not coerce and force their women and girls to dwell with them against their will?’” “I have heard this, reverend Sir: ‘The Vajjians do not coerce and force their women and girls to dwell with them against their will.’” “For as long, Ānanda, as the Vajjians will not coerce and force their women and girls to dwell with them against their will, surely growth, Ānanda, is to be expected for the Vajjians not decline.
SC 156) Have you heard, Ānanda: ‘The Vajjians honour the Vajjian shrines amongst the Vajjians, both within and without the city, respect, revere, and worship them, and do not allow the righteous sacrifices that were formerly given, formerly made, to be neglected?’” “I have heard this, reverend Sir: ‘The Vajjians honour the Vajjian shrines amongst the Vajjians, both within and without the city, respect, revere, and worship them, and do not allow the righteous sacrifices that were formerly given, formerly made, to be neglected.” “For as long, Ānanda, as the Vajjians will honour the Vajjian shrines amongst the Vajjians, both within and without the city, respect, revere, and worship them, and do not allow the righteous sacrifices that were formerly given, formerly made, to be neglected surely growth, Ānanda, is to be expected for the Vajjians not decline.
SC 167) Have you heard, Ānanda: ‘The Vajjians have made good arrangements in regard to the lawful protection, safety, and guarding of the Worthy Ones, so that Worthy Ones in the future can enter the realm, and having entered the Worthy Ones can live comfortably in the realm?” “I have heard this, reverend Sir: ‘The Vajjians have made good arrangements in regard to the lawful protection, safety, and guarding of the Worthy Ones, and that the Worthy Ones in the future can enter the realm, and having entered the Worthy Ones can live comfortably in the realm.” “For as long, Ānanda, as the Vajjians will make good arrangements in regard to the lawful protection, safety, and guarding of the Worthy Ones, and that the Worthy Ones in the future can enter the realm, and having entered, the Worthy Ones can live comfortably in the realm, surely growth, Ānanda, is to be expected for the Vajjians not decline.”
SC 17Then the Gracious One addressed the Magadhan chief minister the brahmin Vassakāra, saying: “At one time, brahmin, I was living near Vesālī near to the Sārandada Shrine and there I taught the Vajjians these seven things which prevent decline. For as long, brahmin, as the Vajjians maintain these seven things which prevent decline, and the Vajjians agree with these seven things which prevent decline, surely growth, brahmin, is to be expected for the Vajjians not decline.”
SC 18After this was said, the Magadhan chief minister the brahmin Vassakāra addressed the Gracious One, saying: “If the Vajjians, dear Gotama, were endowed with even one or the other of these seven things which prevent decline, surely growth is to be expected not decline, what to say about having seven things which prevent decline? The Vajjians cannot be overcome, dear Gotama, by the Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, by war, but only through diplomacy, or through the breaking of an alliance. And now, dear Gotama, we shall go, as we have many duties, and there is much which ought to be done.”
SC 19“Now is the time, brahmin, for whatever you are thinking.” Then the Magadhan chief minister the brahmin Vassakāra, after greatly rejoicing and gladly receiving this word of the Gracious One, rose from his seat and departed.
3: Seven Things which Prevent Decline in the Community (1–7)
SC 20Then the Gracious One, not long after the Magadhan chief minister, the brahmin Vassakāra, had gone, addressed venerable Ānanda, saying: “Go, Ānanda, and whatever monks there are living in dependence on Rājagaha, assemble them in the Attendance Hall.”
SC 21“Very well, reverend Sir,” said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One, and assembling whatever monks there were living in dependence on Rājagaha in the Attendance Hall, he approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he stood on one side.
SC 22While standing on one side venerable Ānanda said this to the Gracious One: “The Community of monks have assembled, reverend Sir, now is the time, Gracious One, for whatever you are thinking.”
SC 23Then the Gracious One after rising from his seat approached the Attendance Hall, and after approaching he sat down on the prepared seat. While sitting the Gracious One addressed the monks, saying:
SC 24“I will teach you seven things which prevent decline, listen to it, apply your minds well, and I will speak.” “Very well, reverend Sir,” those monks replied to the Gracious One, and the Gracious One said this:
SC 251) “For as long, monks, as the monks will assemble regularly and assemble frequently, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 262) For as long, monks, as the monks will assemble unanimously, rise unanimously, and carry out their Community duties unanimously, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 273) For as long, monks, as the monks do not establish new laws that were not established, or cut off old laws that were established, and they carry on with such training-rules as have been accepted, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 284) For as long, monks, as the monks will honour the elder monks, those of long-standing, a long time gone-forth, the Fathers of the Community, the Leaders of the Community, respect, revere, worship and think them worth listening to, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 295) For as long, monks, as the monks will not come under the influence of craving which has arisen for continued existence, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 306) For as long, monks, as the monks will have desire for forest dwellings, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 317) For as long, monks, as the monks individually will attend to the ways of mindfulness, so that their fellow celibates, who are well-behaved, in the future can come, and having come to their fellow celibates, who are well-behaved, can live comfortably, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 32For as long, monks, as the monks will maintain these seven things which prevent decline, and the monks will agree with these seven things which prevent decline, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
4: Seven Further Things which Prevent Decline in the Community (8–14)
SC 33I will teach you a further seven things which prevent decline, listen to it, apply your minds well, and I will speak.”
SC 34“Very well, reverend Sir,” those monks replied to the Gracious One, and the Gracious One said this:
SC 351) “For as long, monks, as the monks are not devoted to the pleasure in work, the delight in work, and are not attached to work, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 362) For as long, monks, as the monks are not devoted to the pleasure in speech, the delight in speech, and are not attached to speech, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 373) For as long, monks, as the monks are not devoted to the pleasure in sleep, the delight in sleep, and are not attached to sleep, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 384) For as long, monks, as the monks are not devoted to the pleasure of company, the delight in company, and are not attached to company, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 395) For as long, monks, as the monks do not have evil wishes, do not go under the influence of evil wishes, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 406) For as long, monks, as the monks do not have wicked friends, do not have wicked companions, do not have wicked comrades, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 417) For as long, monks, as the monks do not achieve only mundane or incomplete attainment, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 42For as long, monks, as the monks will maintain these seven things which prevent decline, and the monks will agree with these seven things which prevent decline, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
5: Seven Further Things which Prevent Decline in the Community (15–21)
SC 43I will teach you a further seven things which prevent decline, listen to it, apply your minds well, and I will speak.”
SC 44“Very well, reverend Sir,” those monks replied to the Gracious One, and the Gracious One said this:
SC 451) “For as long, monks, as the monks will have faith, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 462) For as long, monks, as the monks will have a conscientious mind, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 473) For as long, monks, as the monks will have a sense of shame, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 484) For as long, monks, as the monks will be learned, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 495) For as long, monks, as the monks will be strenuous, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 506) For as long, monks, as the monks will attend to mindfulness, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 517) For as long, monks, as the monks will possess wisdom, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 52For as long, monks, as the monks will maintain these seven things which prevent decline, and the monks will agree with these seven things which prevent decline, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
6: Seven Further Things which Prevent Decline in the Community (22–28)
SC 53I will teach you a further seven things which prevent decline, listen to it, apply your minds well, and I will speak.”
SC 54“Very well, reverend Sir,” those monks replied to the Gracious One, and the Gracious One said this:
SC 551) “For as long, monks, as the monks will develop the factor of Perfect Awakening that is Mindfulness, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 562) For as long, monks, as the monks will develop the factor of Perfect Awakening that is Investigation of the nature of things, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 573) For as long, monks, as the monks will develop the factor of Perfect Awakening that is Energy, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 584) For as long, monks, as the monks will develop the factor of Perfect Awakening that is Rapture, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 595) For as long, monks, as the monks will develop the factor of Perfect Awakening that is Calm, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 606) For as long, monks, as the monks will develop the factor of Perfect Awakening that is Concentration, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 617) For as long, monks, as the monks will develop the factor of Perfect Awakening that is Equanimity, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 62For as long, monks, as the monks will maintain these seven things which prevent decline, and the monks will agree with these seven things which prevent decline, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
7: Seven Further Things which Prevent Decline in the Community (29–35)
SC 63I will teach you a further seven things which prevent decline, listen to it, apply your minds well, and I will speak.”
SC 64“Very well, reverend Sir,” those monks replied to the Gracious One, and the Gracious One said this:
SC 651) “For as long, monks, as the monks will develop the perception of impermanence, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 662) For as long, monks, as the monks will develop the perception of non-self, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 673) For as long, monks, as the monks will develop the perception of the unattractive, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 684) For as long, monks, as the monks will develop the perception of danger, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 695) For as long, monks, as the monks will develop the perception of giving up, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 706) For as long, monks, as the monks will develop the perception of dispassion, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 717) For as long, monks, as the monks will develop the perception of cessation, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 72For as long, monks, as the monks will maintain these seven things which prevent decline, and the monks will agree with these seven things which prevent decline, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
8: Six Things which Prevent Decline in the Community (36–41)
SC 73I will teach you a further six things which prevent decline, listen to it, apply your minds well, and I will speak.”
SC 74“Very well, reverend Sir,” those monks replied to the Gracious One, and the Gracious One said this:
SC 751) “For as long, monks, as the monks with friendly actions by way of the body will serve their fellow celibates, both in public and in private, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 762) For as long, monks, as the monks with friendly actions by way of speech will serve their fellow celibates, both in public and in private, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 773) For as long, monks, as the monks with friendly actions by way of the mind will serve their fellow celibates, both in public and in private, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 784) For as long, monks, as the monks in regard to those righteous gains, received in accordance with the Teaching—whatever amount has been received in the bowl—will divide and share such gains with those who are virtuous, fellow celibates, and share them in common, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 795) For as long, monks, as the monks are endowed with those virtues which are unbroken, faultless, unspotted, unblemished, productive of freedom, praised by the wise, not clung to, leading to concentration, and will live endowed with virtue amongst their fellow celibates who themselves possess such virtue, both in public and in private, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 806) For as long, monks, as the monks are endowed with that which is Ariyan View, which leads out, which leads to the complete destruction of suffering for one who acts thus, and will live endowed with Right View amongst those who themselves possess such Right View, both in public and in private, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.
SC 81For as long, monks, as the monks will maintain these six things which prevent decline, and the monks will agree with these six things which prevent decline, surely growth, monks, is to be expected for the monks, not decline.”
SC 82There also the Gracious One, while living near Rājagaha on the Vultures’ Peak Mountain, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 83“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
9: The Story of the Teaching at Ambalaṭṭhikā
SC 84Then the Gracious One, after living near Rājagaha for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach Ambalaṭṭhikā.”
SC 85“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Ambalaṭṭhikā. There the Gracious One lived near Ambalaṭṭhikā in the King’s Rest House.
SC 86There also the Gracious One, while living in Ambalaṭṭhikā in the King’s Rest House, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 87“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
10: Sāriputta’s Lion’s Roar
SC 88Then the Gracious One, after living near Ambalaṭṭhikā for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach Nāḷandā.”
SC 89“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Nāḷandā. There the Gracious One lived near Nāḷandā in Pāvārika’s Mango Wood.
SC 90Then venerable Sāriputta approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down on one side. While sitting on one side venerable Sāriputta said this to the Gracious One: “I have confidence, reverend Sir, in the Gracious One in this way: that neither in the past, the future, or at present is there found another ascetic or brahmin who has more deep knowledge in regard to Perfect Awakening than the Gracious One.”
SC 91“You have spoken this great and imposing speech, Sāriputta, a definite, well-grasped, lion’s roar that was roared, saying: ‘I have confidence, reverend Sir, in the Gracious One in this way: that neither in the past, the future, or at present is there found another ascetic or brahmin who has more deep knowledge in regard to Perfect Awakening than the Gracious One.’
SC 92But have you, Sāriputta, understood those who, in past times, were Worthy and Perfect Sambuddhas, and known with your mind the minds of those Gracious Ones? Or that those Gracious Ones had such and such virtues, those Gracious Ones had such and such qualities, those Gracious Ones had such and such wisdom, those Gracious Ones had such and such lifestyles, those Gracious Ones had such and such liberations?”
“No, reverend Sir.”
SC 93“But have you, Sāriputta, understood those who, in the future times, will be Worthy and Perfect Sambuddhas, and known with your mind the minds of those Gracious Ones? Or that those Gracious Ones will have such and such virtues, those Gracious Ones will have such and such qualities, those Gracious Ones will have such and such wisdom, those Gracious Ones will have such and such lifestyles, those Gracious Ones will have such and such liberations?”
“No, reverend Sir.”
SC 94“But have you understood I, who am, at present, a Worthy and Perfect Sambuddha, and known with your mind my mind? Or that the Gracious One has such and such virtues, the Gracious One has such and such qualities, the Gracious One has such and such wisdom, the Gracious One has such and such a lifestyle, the Gracious One has such and such a liberation?”
“No, reverend Sir.”
SC 95“Here then, Sāriputta, in regard to those past, future, and present Worthy and Perfect Sambuddhas you have no full and exact knowledge with your own mind. Then how is it, Sāriputta, at present that you have spoken such a great and imposing speech, a definite, well-grasped, lion’s roar that was roared, saying: ‘I have confidence, reverend Sir, in the Gracious One in this way: that neither in the past, the future, or at present is there found another ascetic or brahmin who has more deep knowledge in regard to Perfect Awakening than the Gracious One’?”
SC 96“I do not, reverend Sir, in regard to those past, future, and present Worthy and Perfect Sambuddhas have full and exact knowledge with my own mind. However, I understand what I said is in conformity with the Teaching.
SC 97It is like a King’s city, reverend Sir, near the border areas, having strong foundations, strong walls and gateways, and a single door, and there is a watchman, wise, accomplished, and intelligent, warding off those unknown, and letting through those well-known. While going around the road on inspection through the whole of that city he may not see such fissures in the wall or openings in the wall that even a cat could go out through, it may be so, but he knows: ‘Whatever grosser beings enter or depart from this city all of them surely enter or depart through this door.’
SC 98Similarly, reverend Sir, I understand it is in conformity with the Teaching, that whoever, reverend Sir, in the past times, are Worthy Ones, Perfect Sambuddhas, all those Gracious Ones, after giving up the five hindrances, have penetrated with wisdom the corruptions of the mind that make one feeble, have established their minds in the four ways of attending to mindfulness, and after developing just as it is the Seven Factors of Awakening, have awakened to the unsurpassed and Perfect Awakening.
SC 99That whoever, reverend Sir, in the future times, are Worthy Ones, Perfect Sambuddhas all those Gracious Ones, after giving up the five hindrances, and penetrating with wisdom the corruptions of the mind that make one feeble, and establishing their minds in the four ways of attending to mindfulness, and developing just as it is the Seven Factors of Awakening, will awaken to the unsurpassed and Perfect Awakening.
SC 100And the Gracious One, reverend Sir, in the present time, the Worthy One, the Perfect Sambuddha, also after giving up the five hindrances, has penetrated with wisdom the corruptions of the mind that make one feeble, has established his mind in the four ways of attending to mindfulness, and after developing just as it is the Seven Factors of Awakening, has awoken to the unsurpassed and Perfect Awakening.”
SC 101There also the Gracious One, while living near Nāḷandā in Pāvārika’s Mango Wood, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 102“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
11: The Advantages of Virtue
SC 103Then the Gracious One, after living near Nāḷandā for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach Pāṭaligāma.”
SC 104“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Pāṭaligāma.
SC 105The laymen of Pāṭaligāma heard: “The Gracious One, it seems, had reached Pāṭaligāma.” Then the laymen of Pāṭaligāma approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, they sat down on one side. While sitting on one side, the laymen of Pāṭaligāma said this to the Gracious One: “May the Gracious One consent, reverend Sir, to stay in our rest house.” The Gracious One consented by maintaining silence.
SC 106Then the laymen of Pāṭaligāma, having understood the Gracious One’s consent, after rising from their seats, worshipping and circumambulating the Gracious One, approached their rest house, and after approaching, and spreading the mats so that the rest house was spread all over, and preparing the seats, setting up the water-pot, and lighting the oil-lamp, they approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, they stood on one side. While standing on one side, the laymen of Pāṭaligāma said this to the Gracious One:
SC 107“The rest house is spread with mats all over, reverend Sir, the seats are prepared, the water-pot is set up, and the oil-lamp is lit, now is the time, reverend Sir, for whatever the Gracious One is thinking.”
SC 108Then the Gracious One, having dressed in the evening time, after picking up his bowl and robe, together with the Community of monks, approached the rest house, and after approaching, washing his feet, and entering the rest house, he sat down near to the middle pillar, facing the East, and the Community of monks, after washing their feet, and entering the rest house, sat down behind the Gracious One near the West wall, facing the East, having the Gracious One in front of them. Also the laymen of Pāṭaligāma, after washing their feet, and entering the rest house, sat down in front of the Gracious One near the East wall, facing the West, having the Gracious One in front of them.
SC 109Then the Gracious One addressed the laymen of Pāṭaligāma, saying: “There are these five dangers, householders, for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue.
What are the five?
SC 1101) Here, householders, one lacking in virtue, one who has lost his virtue, because of being heedless undergoes a great loss of riches. This is the first danger for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue.
SC 1112) Furthermore, householders, for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue, a bad report goes round. This is the second danger for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue.
SC 1123) Furthermore, householders, one lacking in virtue, one who has lost his virtue, whatever assembly he approaches, whether an assembly of Nobles, or an assembly of brahmins, or an assembly of householders, or an assembly of ascetics, he approaches without confidence, with confusion. This is the third danger for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue.
SC 1134) Furthermore, householders, one lacking in virtue, one who has lost his virtue, dies bewildered. This is the fourth danger for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue.
SC 1145) Furthermore, householders, one lacking in virtue, one who has lost his virtue, at the break-up of the body, after death, arises in the lower world, in an unfortunate destiny, in the fall, in the nether regions. This is the fifth danger for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue.
SC 115These are the five dangers, householders, for one lacking in virtue, for one who has lost his virtue.
SC 116There are these five advantages, householders, for one who is virtuous, for one accomplished in virtue.
What are the five?
SC 1171) Here, householders, one who is virtuous, one accomplished in virtue, because of being heedful obtains a great mass of riches. This is the first advantage for one who is virtuous, for one accomplished in virtue.
SC 1182) Furthermore, householders, of one who is virtuous, of one accomplished in virtue, a good report goes round. This is the second advantage for one who is virtuous, for one accomplished in virtue.
SC 1193) Furthermore, householders, one who is virtuous, one accomplished in virtue, whatever assembly he approaches, whether an assembly of Nobles, or an assembly of brahmins, or an assembly of householders, or an assembly of ascetics, approaches with confidence, without confusion. This is the third advantage for one who is virtuous, for one accomplished in virtue.
SC 1204) Furthermore, householders, one who is virtuous, one accomplished in virtue, dies without bewilderment. This is the fourth advantage for one who is virtuous, for one accomplished in virtue.
SC 1215) Furthermore, householders, one who is virtuous, one accomplished in virtue, at the break-up of the body, after death, arises in a fortunate destiny, in a Heavenly world. This is the fifth advantage for one who is virtuous, for one accomplished in virtue.
SC 122These are the five advantages, householders, for one who is virtuous, for one accomplished in virtue.”
SC 123Then the Gracious One, after instructing, rousing, enthusing, and cheering the laymen of Pāṭaligāma for most of the night with a talk about the Teaching, dismissed them, saying: “The night has passed, householders, now is the time for whatever you are thinking.”
SC 124“Very well, reverend Sir,” said those laymen of Pāṭaligāma, and after replying to the Gracious One, rising from their seats, worshipping and circumambulating the Gracious One, went away.
SC 125Then the Gracious One, not long after the laymen of Pāṭaligāma had gone, entered an empty place.
12: Building up Pāṭaligāma
SC 126Now at that time the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra were building up a city at Pāṭaligāma to ward off the Vajjians. Then at that time a great many Divinities, thousands upon thousands, were taking possession of grounds at Pāṭaligāma.
SC 127In that place where the great Divinities took possession of grounds, there the powerful rulers and great royal ministers’ minds inclined to building up residences.
SC 128In that place where the middling Divinities took possession of grounds, there the middling rulers and middling royal ministers’ minds inclined to building up residences.
SC 129In that place where the lower Divinities took possession of grounds, there the lower rulers and lower royal ministers’ minds inclined to building up residences.
SC 130The Gracious One saw with his Divine-eye, which is purified, and surpasses that of normal men, that those Divinities, thousands upon thousands, were taking possession of grounds at Pāṭaligāma.
SC 131Then towards the time of dawn, having risen from his seat, the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Now who, Ānanda, is building a city at Pāṭaligāma?”
SC 132“The Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra, reverend Sir, are building up a city at Pāṭaligāma to ward off the Vajjians.”
SC 133“It is just as though, Ānanda, they are building after consulting with the Tāvatiṁsa Divinities, so, Ānanda, are the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra building up a city at Pāṭaligāma to ward off the Vajjians.
SC 134Here, Ānanda, I saw with my Divine-eye, which is purified, and surpasses that of normal men, that a great many Divinities, thousands upon thousands, were taking possession of grounds at Pāṭaligāma.
SC 135In that place where the great Divinities took possession of grounds, there the powerful rulers and great royal ministers’ minds inclined to building up residences.
SC 136In that place where the middling Divinities took possession of grounds, there the middling rulers and middling royal ministers’ minds inclined to building up residences.
SC 137In that place where the lower Divinities took possession of grounds, there the lower rulers and lower royal ministers’ minds inclined to building up residences.
SC 138For as long, Ānanda, as there is an Ariyan sphere of influence, for as long as there is trade, this basket-opening Pāṭaliputta will be the chief city. For Pāṭaliputta, Ānanda, there will be three dangers: from fire and from water and from the breaking of an alliance.”
SC 139Then the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra approached the Gracious One, and after approaching, they exchanged greetings with the Gracious One, and after exchanging courteous talk and greetings, they stood on one side.
SC 140While standing on one side the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra said this to the Gracious One: “May dear Gotama consent to us offering him a meal today, together with the Community of monks.” The Gracious One consented by maintaining silence.
SC 141Then the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra having understood the Gracious One’s consent, approached their own dwelling, and after approaching, in their own dwellings, having had excellent foodstuffs made ready, had the time announced to the Gracious One, saying: “It is time, dear Gotama, the meal is ready.”
SC 142Then the Gracious One, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, together with the Community of monks, approached the dwelling of the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra, and after approaching, he sat down on the prepared seat.
SC 143Then the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra with their own hands served and satisfied the Community of monks with the Buddha at its head with excellent foodstuffs. Then the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra, when the Gracious One had eaten and washed his hand and bowl, having taken a low seat, sat down on one side.
SC 144While sitting on one side the Gracious One rejoiced the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra with these verses:
SC 145“In that place where he makes his dwelling, having entertained
The wise and virtuous here, the restrained, who live the spiritual life,
He should dedicate a gift of merit to those Divinities who were in that place.
Honoured, they pay honour, revered, they revere him.
SC 146Thereafter they have compassion on him, as a mother on her own son,
A man whom the Divinities has compassion on always sees what is auspicious.”
SC 147Then the Gracious One after rejoicing the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra with these verses, after rising from his seat, went away.
SC 148Now at that time the Magadhan chief ministers Sunīdha and Vassakāra were following close behind the Gracious One, thinking: “That gate by which the ascetic Gotama leaves will get the name the Gotama Gate, and that ford by which he crosses the river Ganges will get the name the Gotama Ford.”
SC 149Then that gate by which the Gracious One left got the name the Gotama Gate. Then the Gracious One approached the river Ganges. Now at that time the river Ganges was full to the brim, and could be drunk from by crows perched on the bank. Some of the people were seeking boats, some were seeking floats, and some were binding rafts, desiring to go from this shore to the shore beyond.
SC 150Then the Gracious One, just as a strong man might stretch out a bent arm, or bend in an outstretched arm, so did he vanish from the near bank of the river Ganges, and reappeared on the far bank, together with the Community of monks.
SC 151The Gracious One saw those people, some seeking boats, some seeking floats, and some binding rafts, desiring to go from this shore to the shore beyond.
SC 152Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 153“Those who cross over a sea or a river,
Do so after making a bridge, and leaving the marshes behind.
While people are still binding together a raft,
Intelligent people have crossed over.”
The First Chapter for Recital is Finished
The Second Chapter for Recitation
13: The Four Noble Truths
SC 154Then the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach Koṭigāma.” “Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Koṭigāma. There the Gracious One lived near Koṭigāma.
SC 155There the Gracious One addressed the monks, saying: “Because of a lack of understanding and a lack of penetration, monks, of Four Noble Truths both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
Which four?
SC 1561) Because of a lack of understanding and a lack of penetration, monks, of the Noble Truth of Suffering both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 1572) Because of a lack of understanding and a lack of penetration, monks, of the Noble Truth of the Arising of Suffering both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 1583) Because of a lack of understanding and a lack of penetration, monks, of the Noble Truth of the Cessation of Suffering both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 1594) Because of a lack of understanding and a lack of penetration, monks, of the Noble Truth of the Practice going to the Cessation of Suffering both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 160But now the Noble Truth of Suffering has been understood and penetrated, the Noble Truth of the Arising of Suffering has been understood and penetrated, the Noble Truth of the Cessation of Suffering has been understood and penetrated, the Noble Truth of the Practice going to the Cessation of Suffering has been understood and penetrated. Craving for continued existence has been cut off, what leads to rebirth has been exhausted, there is no continuation in existence.”
SC 161The Gracious One said this, and after saying this, the Fortunate One, the Teacher, said something more:
SC 162“Because of not seeing as it really is the Four Noble Truths
we have run along for a long time through various births.
Now these have been seen, uprooted is what leads to rebirth,
the root of suffering has been cut off, there is no continuation in existence.”
SC 163There also the Gracious One, while living in Koṭigāma, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 164“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
14: The Mirror of the True Nature of Things
SC 165Then the Gracious One, after living near Koṭigāma for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach the Nādikas.”
SC 166“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at the Nādikas. There the Gracious One lived near one of the Nādikas in the Brick House.
SC 167Then venerable Ānanda approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down on one side. While sitting on one side venerable Ānanda said this to the Gracious One:
SC 168“The monk named Sāḷha, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 169The nun named Nandā, reverend Sir, has died in Nādika, what was her destination? What was her future state?
SC 170The layman named Sudatta, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 171The laywoman named Sujātā, reverend Sir, has died in Nādika, what was her destination? What was her future state?
SC 172The layman named Kakudha, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 173The layman named Kāliṅga, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 174The layman named Nikaṭa, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 175The layman named Kaṭissaha, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 176The layman named Tuṭṭha, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 177The layman named Santuṭṭha, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 178The layman named Bhadda, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?
SC 179The layman named Subhadda, reverend Sir, has died in Nādika, what was his destination? What was his future state?”
SC 180“The monk Sāḷha, Ānanda, through the destruction of the pollutants, without pollutants, freed in mind, freed through wisdom, dwelt having known, having directly experienced, and having attained Nibbāna himself in this very life.
SC 181The nun Nandā, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 182The layman Sudatta, Ānanda, through the complete destruction of three fetters, and the diminution of passion, hatred, and delusion, is a Once-Returner, and will return only once more to this world, and then will make an end to suffering.
SC 183The laywoman Sujātā, Ānanda, through the complete destruction of three fetters, is a Stream-Enterer, is no longer subject to falling into the lower realms, and has a fixed destiny ending in Final Awakening.
SC 184The layman Kakudha, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 185The layman Kāliṅga, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 186The layman Nikaṭa, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 187The layman Kaṭissaha, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 188The layman Tuṭṭha, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 189The layman Santuṭṭha, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 190The layman Bhadda, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 191The layman Subhadda, Ānanda, through the complete destruction of the five lower fetters has arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 192More than fifty laymen, Ānanda, have died in Nādika who, through the complete destruction of the five lower fetters have arisen spontaneously in the Brahmā worlds, and will attain Final Emancipation there, without returning from that world.
SC 193In excess of ninety laymen, Ānanda, have died in Nādika who, through the complete destruction of three fetters, and the diminution of passion, hatred, and delusion are Once-Returners, and will return only once more to this world, and then will make an end to suffering.
SC 194In excess of five-hundred laymen, Ānanda, have died in Nādika who, through the complete destruction of three fetters, are Stream-Enterers, no longer subject to falling into the lower realms, and have a fixed destiny ending in Final Awakening.
SC 195But it is not such a wonder, Ānanda, that those who have become human should die, but if every time there is a death in this place, after approaching the Realised One, you were to ask about it, Ānanda, that would be troublesome to the Realised One.
SC 196Therefore, Ānanda, I will teach this presentation of the Teaching called the Mirror of the True Nature of Things, endowed with which a Noble Disciple desiring to do so may declare about himself: ‘Exhausted is birth in Hell, exhausted is birth in an animal’s womb, exhausted is birth in the realm of the Fallen Spirits, exhausted is falling into an unfortunate destiny in the lower realms, I am a Stream-Enterer, no longer subject to falling into the lower realms, and have a fixed destiny ending in Final Awakening.’
SC 197And what, Ānanda, is this presentation of the Teaching called the Mirror of the True Nature of Things, endowed with which a Noble Disciple desiring to do so may declare about himself: ‘Exhausted is birth in Hell, exhausted is birth in an animal’s womb, exhausted is birth in the realm of the Fallen Spirits, exhausted is falling into an unfortunate destiny in the lower realms, I am a Stream-Enterer, no longer subject to falling into the lower realms, and have a fixed destiny ending in Final Awakening’?
SC 198Here, Ānanda, a Noble Disciple is endowed with perfect confidence in the Buddha thinking:
SC 199‘Such is he, the Gracious One, the Worthy One, the Perfect Sambuddha, the one endowed with understanding and good conduct, the Fortunate One, the One who understands the worlds, the unsurpassed guide for those people who need taming, the Teacher of Divinities and men, the Buddha, the Gracious One.’
SC 200He is endowed with perfect confidence in the Teaching thinking:
SC 201‘The Teaching has been well-proclaimed by the Gracious One, it is visible, not subject to time, inviting inspection, onward leading, and can be understood by the wise for themselves.’
SC 202He is endowed with perfect confidence in the Community thinking:
SC 203‘The Gracious One’s Community of disciples are good in their practice, the Gracious One’s Community of disciples are straight in their practice, the Gracious One’s Community of disciples are systematic in their practice, the Gracious One’s Community of disciples are correct in their practice, that is to say, the four pairs of persons, the eight individual persons, this is the Gracious One’s Community of disciples, they are worthy of offerings, of hospitality, of gifts, and of reverential salutation, they are an unsurpassed field of merit for the world.’
SC 204He is endowed with the lovely Ariyan virtue, unbroken, faultless, unspotted, unblemished, productive of freedom, praised by the wise, not adhered to, leading to concentration.
SC 205This is the presentation of the Teaching, Ānanda, called the Mirror of the True Nature of Things endowed with which a Noble Disciple desiring to do so may declare about himself: ‘Exhausted is birth in Hell, exhausted is birth in an animal’s womb, exhausted is birth in the realm of the Fallen Spirits, exhausted is falling into an unfortunate destiny in the lower realms, I am a Stream-Enterer, no longer subject to falling into the lower realms, and have a fixed destiny ending in Final Awakening.’”
SC 206There also the Gracious One, while living near Nādika in the Brick House, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 207“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
15: The Courtesan Ambapālī
SC 208Then the Gracious One, after living near Nādika for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach Vesālī.”
SC 209“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Vesālī. There the Gracious One lived near Vesālī in Ambapālī’s Wood. There the Gracious One addressed the monks, saying:
SC 210“Mindfully and with full awareness, monks, a monk should live, this is our advice to you. And how, monks, is a monk mindful?
SC 211Here, monks, a monk dwells contemplating the nature of the body in the body, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world; he dwells contemplating the nature of feelings in feelings, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world; he dwells contemplating the nature of the mind in the mind, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world; he dwells contemplating the nature of things in various things, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world.
SC 212Thus, monks, a monk is mindful. And how, monks, does a monk have full awareness?
SC 213Here, monks, a monk in going forwards, in going back, is one who practises with full awareness, in looking ahead, or in looking around, he is one who practises with full awareness, in bending or in stretching, he is one who practises with full awareness, in bearing his double-robe, bowl, and other robes, he is one who practises with full awareness, in eating, in drinking, in chewing, in tasting, he is one who practises with full awareness, in passing stool and urine, he is one who practises with full awareness, in going, in standing, in sitting, in sleeping, in waking, in talking, and in maintaining silence, he is one who practises with full awareness.
SC 214Thus, monks, a monk has full awareness. Mindfully and with full awareness, monks, a monk should live, this is our advice to you.”
SC 215The courtesan Ambapālī heard: “The Gracious One, it seems, has reached Vesālī and is living near Vesālī in my Mango Wood.”
SC 216Then the courtesan Ambapālī, after having many great and august vehicles prepared, and mounting those great and august vehicles, departed with those great and august vehicles from Vesālī, and after approaching by vehicle to her pleasure garden as far as the ground for vehicles would allow, and descending from the vehicles, she approached the Gracious One by foot, and after approaching and worshipping the Gracious One, she sat down on one side. While the courtesan Ambapālī was sitting on one side the Gracious One instructed, roused, enthused, and cheered her with a talk about the Teaching.
SC 217Then the courtesan Ambapālī, having been instructed, roused, enthused, and cheered by the Gracious One with a talk about the Teaching, said to the Gracious One: “May the Gracious One consent, reverend Sir, to me offering him a meal on the morrow, together with the Community of monks.”
SC 218The Gracious One consented by maintaining silence. Then the courtesan Ambapālī, having understood the Gracious One’s consent, after rising from her seat, worshipping and circumambulating the Gracious One, went away.
SC 219The Licchavīs from Vesālī heard: “The Gracious One, it seems, had reached Vesālī and is living near Vesālī in Ambapālī’s Wood.”
SC 220Then those Licchavīs, after having many great and august vehicles prepared, and mounting those great and august vehicles, departed with those great and august vehicles from Vesālī. There some of the Licchavīs were blue, having a blue appearance, with blue clothes and blue decorations; some of the Licchavīs were yellow, having a yellow appearance, with yellow clothes and yellow decorations; some of the Licchavīs were red, having a red appearance, with red clothes and red decorations; some of the Licchavīs were white, having a white appearance, with white clothes and white decorations.
SC 221Then the courtesan Ambapālī rolled alongside the Licchavī youths axle by axle, wheel by wheel, and yoke by yoke. Then those Licchavīs said this to the courtesan Ambapālī: “Why do you, Ambapālī, roll alongside the Licchavī youths axle by axle, wheel by wheel, and yoke by yoke?”
SC 222“Because I have invited the Gracious One, noble sirs, for a meal on the morrow, together with the Community of monks.”
SC 223“Give us this meal, Ambapālī, for a hundred thousand kahapanas.”
SC 224“If, noble sirs, you would give Vesālī and its revenues still I would not give this meal to you.”
SC 225Then the Licchavīs snapped their fingers, thinking: “We have surely been defeated by a woman, we have surely been defeated by a woman.”
SC 226Then the Licchavīs entered Ambapālī’s Wood. The Gracious One saw those Licchavīs coming from afar, and having seen them, he addressed the monks, saying: “Let those monks who have not seen the Tāvatiṁsa Divinities, monks, look at the Licchavī troupe, monks, look upon the Licchavī troupe, monks, contemplate the Licchavī troupe, monks, who are like the Tāvatiṁsa Divinities.”
SC 227Then after the Licchavīs had gone as far as the ground for vehicles would allow, and had descended from the vehicles, they approached the Gracious One by foot, and after approaching and worshipping the Gracious One, they sat down at one side.
SC 228While the Licchavīs were sitting on one side the Gracious One instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching. Then the Licchavīs, having been instructed, roused, enthused, and cheered by the Gracious One with a talk about the Teaching, said to the Gracious One: “Please consent to us offering a meal on the morrow, together with the Community of monks.”
SC 229“I have already consented to the courtesan Ambapālī’s meal on the morrow.”
SC 230Then the Licchavīs snapped their fingers, thinking: “We have surely been defeated by a woman, we have surely been defeated by a woman.”
SC 231Then the Licchavīs, after greatly rejoicing and gladly receiving this word of the Gracious One, rising from their seats, worshipping and circumambulating the Gracious One, went away.
SC 232Then the courtesan Ambapālī after the night had passed, having had excellent foodstuffs made ready in her own pleasure park, had the time announced to the Gracious One, saying: “It is time, reverend Sir, the meal is ready.”
SC 233Then the Gracious One, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, together with the Community of monks, approached the courtesan Ambapālī’s residence, and after approaching he sat down on the prepared seat. Then the courtesan Ambapālī with her own hand served and satisfied the Community of monks with the Buddha at its head with excellent foodstuffs.
SC 234Then the courtesan Ambapālī, when the Gracious One had eaten and washed his hand and bowl, having taken a certain low seat, sat down on one side. While sitting on one side the courtesan Ambapālī said this to the Gracious One: “I donate this pleasure park, reverend Sir, to the Community of monks with the Buddha at its head.”
SC 235The Gracious One accepted the pleasure park. Then the Gracious One, after instructing, rousing, enthusing, and cheering the courtesan Ambapālī with a talk about the Teaching, having risen from the seat, went away.
SC 236There also the Gracious One, while living in Vesālī in Ambapālī’s Wood, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 237“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
16: The Gracious One’s Sickness
SC 238Then the Gracious One, after living near Ambapālī’s Wood for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach the little village of Beluva.”
SC 239“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at the little village of Beluva. There the Gracious One lived near the little village of Beluva.
SC 240There the Gracious One addressed the monks, saying: “Go, monks, and undertake the Rains Retreat in the vicinity of Vesālī living like friends, like companions, like comrades, and I will spend the Rains Retreat right here at the little village of Beluva.”
SC 241“Very well, reverend Sir,” and those monks, after replying to the Gracious One, undertook the Rains Retreat in the vicinity of Vesālī living like friends, like companions, like comrades. But the Gracious One spent the Rains Retreat right there at the little village of Beluva.
SC 242Then while dwelling for the Rains Retreat, a heavy affliction arose for the Gracious One, and continued with strong and death-like feelings. There the Gracious One dwelt mindfully, with full awareness, and without being troubled. Then this occurred to the Gracious One: “It is not suitable that I, without having addressed my attendants, without having given notice to the Community of monks, should attain Final Emancipation. Having energetically dismissed this affliction, I could live on after determining the lifespan.”
SC 243Then the Gracious One having energetically dismissed that affliction lived on after determining the lifespan. Then the Gracious One’s affliction abated. Then, the Gracious One, having risen from that sickness, not long after rising, departed from the Sick Room and sat down on the prepared seat in front of that Room.
SC 244Then venerable Ānanda approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down on one side. While sitting on one side venerable Ānanda said this to the Gracious One:
SC 245“I have seen, reverend Sir, the Gracious One comfortable, I have seen, reverend Sir, the Gracious One bearing up while sick, and my body, reverend Sir, became faint as it were, and although I could not see straight, and things were not clear, it appeared to me, reverend Sir, that the Gracious One was sick, but it was some small comfort that the Gracious One would not attain Final Emancipation until the Gracious One had spoken regarding the Community of monks.”
SC 246“But what, Ānanda, does the Community of monks expect of me? The Teaching has been taught by me, Ānanda, without having made a distinction between esoteric and exoteric, for the Realised One there is nothing, Ānanda, of a closed teacher’s fist in regard to the Teaching.
SC 247To whoever, Ānanda, this thought occurs: ‘I will lead the Community of monks’ or ‘I am the instructor of the Community of monks’ let him speak, Ānanda, regarding the Community of monks. But to the Realised One, Ānanda, this thought does not occur: ‘I will lead the Community of monks’ or ‘I am the instructor of the Community of monks’. Then why, Ānanda, should the Realised One speak regarding the Community of monks?
SC 248I, Ānanda, at present, am old, elderly, of great age, far gone, advanced in years, I am eighty years old. It is like, Ānanda, an old cart, which only keeps going when shored up with bamboo, just so, Ānanda, I think the Realised One’s body only keeps going when shored up with bamboo.
SC 249When the Realised One doesn’t pay attention, Ānanda, to any of the signs, when all feelings have ceased, he lives having established the signless mind-concentration, and at that time, Ānanda, the Realised One’s body is most comfortable.
SC 250Therefore, Ānanda, live with yourself as an island, yourself as a refuge, with no other refuge, with the Teaching as an island, the Teaching as a refuge, with no other refuge. And how, Ānanda, does a monk live with himself as an island, himself as a refuge, with no other refuge, with the Teaching as an island, the Teaching as a refuge, with no other refuge?
SC 251Here, Ānanda, a monk dwells contemplating the nature of the body in the body, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world; he dwells contemplating the nature of feelings in feelings, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world; he dwells contemplating the nature of the mind in the mind, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world; he dwells contemplating the nature of things in various things, ardent, fully aware, and mindful, after removing avarice and sorrow regarding the world.
SC 252Thus, Ānanda, a monk lives with himself as an island, himself as a refuge, with no other refuge, with the Teaching as an island, the Teaching as a refuge, with no other refuge. For whoever, Ānanda, whether at present or after my passing, lives with himself as an island, himself as a refuge, with no other refuge, with the Teaching as an island, the Teaching as a refuge, with no other refuge, those monks of mine, Ānanda, will go from darkness to the highest—whoever likes the training.”
The Second Chapter for Recital is Finished.
The Third Chapter for Recitation
17: Ānanda’s Failure
SC 253Then the Gracious One, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, entered Vesālī for alms. After walking for alms in Vesālī, and returning from the alms-round after the meal, he addressed venerable Ānanda, saying: “Take up the sitting mat, Ānanda, we will approach the Cāpāla shrine to dwell for the day.”
SC 254“Very well, reverend Sir,” said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One, and taking the sitting mat, he followed along close behind the Gracious One.
SC 255Then the Gracious One approached the Cāpāla shrine, and after approaching, he sat down on the prepared seat, and also venerable Ānanda, after worshipping the Gracious One, sat down on one side. While sitting on one side the Gracious One said this to venerable Ānanda: “Delightful, Ānanda, is Vesālī, delightful is the Udena shrine, delightful is the Gotamaka shrine, delightful is the Sattamba shrine, delightful is the Many Sons’ shrine, delightful is the Sārandada shrine, delightful is the Cāpāla shrine.
SC 256Whoever has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power, could, if he wanted, Ānanda, remain for the lifespan or for what is left of the lifespan. The Realised One has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power. If he wanted, Ānanda, the Realised One could remain for the lifespan or for what is left of the lifespan.”
SC 257But venerable Ānanda, despite such a gross hint being made by the Gracious One, such a gross suggestion being made, was unable to penetrate it, and did not beg the Gracious One, saying: “May the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan, may the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men,” like one whose mind was possessed by Māra.
SC 258For a second time the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Delightful, Ānanda, is Vesālī, delightful is the Udena shrine, delightful is the Gotamaka shrine, delightful is the Sattamba shrine, delightful is the Many Sons’ shrine, delightful is the Sārandada shrine, delightful is the Cāpāla shrine.
SC 259Whoever has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power, could, if he wanted, remain for the lifespan or for what is left of the lifespan. The Realised One has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power. If he wanted, Ānanda, the Realised One could remain for the lifespan or for what is left of the lifespan.”
SC 260But venerable Ānanda, despite such a gross hint being made by the Gracious One, such a gross suggestion being made, was unable to penetrate it, and did not beg the Gracious One, saying: “May the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan, may the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men,” like one whose mind was possessed by Māra.
SC 261For a third time the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Delightful, Ānanda, is Vesālī, delightful is the Udena shrine, delightful is the Gotamaka shrine, delightful is the Sattamba shrine, delightful is the Many Sons’ shrine, delightful is the Sārandada shrine, delightful is the Cāpāla shrine.
SC 262Whoever has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power, could, if he wanted, remain for the lifespan or for what is left of the lifespan. The Realised One has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power. If he wanted, Ānanda, the Realised One could remain for the lifespan or for what is left of the lifespan.”
SC 263But venerable Ānanda, despite such a gross hint being made by the Gracious One, such a gross suggestion being made, was unable to penetrate it, and did not beg the Gracious One, saying: “May the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan, may the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men,” like one whose mind was possessed by Māra.
SC 264Then the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Go, Ānanda, now is the time for whatever you are thinking.”
SC 265“Very well, reverend Sir,” said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One, rising from his seat, worshipping and circumambulating the Gracious One, he sat down not far away at the root of a certain tree.
18: The Relinquishment of the Life Process
SC 266Then the Wicked Māra, not long after venerable Ānanda had gone, approached the Gracious One, and after approaching, he stood on one side. While standing on one side the Wicked Māra said this to the Gracious One:
SC 267“May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For these words, reverend Sir, were spoken by the Gracious One:
SC 268‘I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my monks are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.’
SC 269But at present, reverend Sir, the Gracious One’s monks are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 270May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For these words, reverend Sir, were spoken by the Gracious One:
SC 271‘I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my nuns are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.’
SC 272But at present, reverend Sir, the Gracious One’s nuns are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 273May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For these words, reverend Sir, were spoken by the Gracious One:
SC 274‘I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my laymen are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.’
SC 275But at present, reverend Sir, the Gracious One’s laymen are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 276May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For these words, reverend Sir, were spoken by the Gracious One:
SC 277‘I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my laywomen are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.’
SC 278But at present, reverend Sir, the Gracious One’s laywomen are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 279May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For these words, reverend Sir, were spoken by the Gracious One:
SC 280‘I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as this spiritual life of mine has not become successful and prosperous, well spread-out, possessed by many, become great, until it is well-explained amongst Divinities and men.’
SC 281But at present, reverend Sir, the Gracious One’s spiritual life is successful and prosperous, well spread-out, possessed by many, become great, it is well-explained amongst Divinities and men. May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation.”
SC 282When that was said the Gracious One said this to the Wicked Māra: “You should have little concern, Wicked One, in no long time the Realised One will be Finally Emancipated, after three months have passed from now, the Realised One will attain Final Emancipation.”
SC 283Then at the Cāpāla shrine the Gracious One, mindfully, with full awareness, relinquished the life-process. With the relinquishment of the life-process by the Gracious One there was a great earthquake, and a fearful, horrifying crash of the Divinities’ thunder drum.
SC 284Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 285“Measurable and immeasurable continuity,
And the continuation-process the Sage relinquished.
Content in himself, and concentrated,
He broke continuity of self like a coat of mail.”
19: Eight Reasons for Earthquakes
SC 286Then it occurred to venerable Ānanda: “Surely it is wonderful, surely it is marvellous, this great earthquake, this very great earthquake, and this awful, hair-raising, crash of the Divinities’ thunder drum. What was the reason, what was the cause, for the occurrence of this great earthquake?”
SC 287Then venerable Ānanda approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down at one side. Sitting on one side venerable Ānanda said this to the Gracious One: “Surely it is wonderful, reverend Sir, surely it is marvellous, reverend Sir, this great earthquake, this very great earthquake, and this awful, hair-raising, crash of the Divinities’ thunder drum. What was the reason, reverend Sir, what was the cause, for the occurrence of this great earthquake?”
SC 288“There are these eight reasons, eight causes, Ānanda, for the occurrence of a great earthquake.
Which eight?
SC 2891) This great Earth, Ānanda, stands in the water, the water stands in the atmosphere, the atmosphere stands in space. There comes a time, Ānanda, when great winds blow, with the great winds blowing, the waters move, the waters having moved, the Earth moves. This is the first reason, the first cause for the occurrence of a great earthquake.
SC 2902) Furthermore, Ānanda, when an ascetic or a brahmin or a Divinity, one of great power, one of great majesty, has, through spiritual power, attained complete mastery of the mind, and has then developed even a trifling perception of the Earth, or an unlimited perception of water, this Earth moves, wavers, flutters, and shakes. This is the second reason, the second cause for the occurrence of a great earthquake.
SC 2913) Furthermore, Ānanda, when the Buddha-to-be falls away from the Tusita hosts, and mindfully, with full awareness, enters his mother’s womb, this Earth moves, wavers, flutters, and shakes. This is the third reason, the third cause for the occurrence of a great earthquake.
SC 2924) Furthermore, Ānanda, when the Buddha-to-be mindfully, with full awareness, exits his mother’s womb, this Earth moves, wavers, flutters, and shakes. This is the fourth reason, the fourth cause for the occurrence of a great earthquake.
SC 2935) Furthermore, Ānanda, when the Realised One perfectly awakens to the unsurpassed and Perfect Awakening, this Earth moves, wavers, flutters, and shakes. This is the fifth reason, the fifth cause for the occurrence of a great earthquake.
SC 2946) Furthermore, Ānanda, when the Realised One sets the unsurpassed wheel of the Teaching rolling, this Earth moves, wavers, flutters, and shakes. This is the sixth reason, the sixth cause for the occurrence of a great earthquake.
SC 2957) Furthermore, Ānanda, when the Realised One mindfully, with full awareness gives up the life-process, this Earth moves, wavers, flutters, and shakes. This is the seventh reason, the seventh cause for the occurrence of a great earthquake.
SC 2968) Furthermore, Ānanda, when the Realised One is Finally Emancipated in the Emancipation-element which has no basis for attachment remaining, this Earth moves, wavers, flutters, and shakes. This is the eighth reason, the eighth cause for the occurrence of a great earthquake. These are the eight reasons, the eight causes, Ānanda, for the occurrence of a great earthquake.
20: The Eight Assemblies
There are, Ānanda, eight assemblies.
Which eight?
SC 297The assembly of Nobles, the assembly of brahmins, the assembly of householders, the assembly of ascetics, the assembly of the Four Great Kings, the assembly of the Tāvatiṁsa Divinities, the assembly of Māra, the assembly of the Brahmā Divinities.
SC 2981) I know, Ānanda, after approaching countless hundreds of assemblies of Nobles, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
SC 2992) I know, Ānanda, that after approaching countless hundreds of assemblies of brahmins, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
SC 3003) I know, Ānanda, that after approaching countless hundreds of assemblies of householders, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
SC 3014) I know, Ānanda, that after approaching countless hundreds of assemblies of ascetics, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
SC 3025) I know, Ānanda, that after approaching countless hundreds of assemblies of the Four Great Kings, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
SC 3036) I know, Ānanda, that after approaching countless hundreds of assemblies of the Tāvatiṁsa Divinities, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
SC 3047) I know, Ānanda, that after approaching countless hundreds of assemblies of Māra, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
SC 3058) I know, Ānanda, that after approaching countless hundreds of assemblies of the Brahmā Divinities, that there, before settling down, before conversing, and before entering upon discussion, whatever their appearance was, my appearance would become, whatever their voice was, my voice would become, and I instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, and while I was speaking they did not know me and would ask: ‘Who is this speaking, a Divinity or a man?’ and having instructed, roused, enthused, and cheered them with a talk about the Teaching, I disappeared. And when I had disappeared they did not know me and would ask: ‘Who is this who disappeared, a Divinity or a man?’
These, Ānanda, are the eight assemblies.
21: The Eight Means of Mind mastery
There are, Ānanda, eight means of mind mastery.
Which eight?
SC 3061) Perceiving forms internally, someone sees forms externally, limited, beautiful or ugly, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the first means of mind mastery.
SC 3072) Perceiving forms internally, someone sees forms externally, unlimited, beautiful or ugly, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the second means of mind mastery.
SC 3083) Without perceiving forms internally, someone sees forms externally, limited, beautiful or ugly, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the third means of mind mastery.
SC 3094) Without perceiving forms internally, someone sees forms externally, unlimited, beautiful or ugly, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the fourth means of mind mastery.
SC 3105) Without perceiving forms internally, someone sees forms externally, blue, blue-coloured, of blue appearance, shiny blue, just as the flower called Ummā is blue, blue-coloured, of blue appearance, shiny blue, or just as there is Banaras cloth smoothed on both sides that is blue, blue-coloured, of blue appearance, shiny blue, so, without perceiving forms internally, someone sees forms externally, blue, blue-coloured, of blue appearance, shiny blue, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the fifth means of mind mastery.
SC 3116) Without perceiving forms internally, someone sees forms externally, yellow, yellow-coloured, of yellow appearance, shiny yellow, just as the flower called Kaṇikāra is yellow, yellow-coloured, of yellow appearance, shiny yellow, or just as there is Banaras cloth smoothed on both sides that is yellow, yellow-coloured, of yellow appearance, shiny yellow, so, without perceiving forms internally, someone sees forms externally, yellow, yellow colour, of yellow appearance, shiny yellow, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the sixth means of mind mastery.
SC 3127) Without perceiving forms internally, someone sees forms externally, red, red-coloured, of red appearance, shiny red, just as the flower called Bandhujīvaka is red, red-coloured, of red appearance, shiny red, or just as there is Banaras cloth smoothed on both sides that is red, red-coloured, of red appearance, shiny red, so, without perceiving forms internally, someone sees forms externally, red, red-coloured, of red appearance, shiny red, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the seventh means of mind mastery.
SC 3138) Without perceiving forms internally, someone sees forms externally, white, white-coloured, of white appearance, shiny white, just as the Osadhī star, is white, white-coloured, of white appearance, shiny white, or just as there is Banaras cloth smoothed on both sides that is white, white-coloured, of white appearance, shiny white, so, without perceiving forms internally, someone sees forms externally, white, white-coloured, of white appearance, shiny white, and having mastered them, he is one who perceives thus: ‘I know, I see’. This is the eighth means of mind mastery.
SC 314These, Ānanda, are the eight means of mind mastery.
22: The Eight Liberations
There are, Ānanda, eight liberations.
Which eight?
SC 3151) One having form sees forms. This is the first liberation.
SC 3162) Not perceiving forms internally, he sees forms externally. This is the second liberation.
SC 3173) One is intent on endless beauty. This is the third liberation.
SC 3184) Having completely transcended perceptions of form, with the disappearance of perceptions of sensory impact, not attending to perceptions of variety, understanding: ‘This is endless space’, he abides in the sphere of endless space. This is the fourth liberation.
SC 3195) Having completely transcended the sphere of endless space, understanding: ‘This is endless consciousness’, he abides in the sphere of endless consciousness. This is the fifth liberation.
SC 3206) Having completely transcended the sphere of endless consciousness, understanding: ‘This is nothing’, he abides in the sphere of nothingness. This is the sixth liberation.
SC 3217) Having completely transcended the sphere of nothingness, he abides in the sphere of neither-perception-nor-non-perception. This is the seventh liberation.
SC 3228) Having completely transcended the sphere of neither-perception-nor-non-perception, he abides in the cessation of perception and feeling. This is the eighth liberation.
These, Ānanda, are the eight liberations.
23: Ānanda’s Fault
SC 323At one time Ānanda I was living at Uruvelā, on the bank of the river Nerañjarā, at the root of the Goatherd’s Banyan tree, in the first period after attaining Awakening. Then, Ānanda, the Wicked Māra approached me, and after approaching he stood on one side. While standing to one side, Ānanda, the Wicked Māra said this to me:
SC 324“May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation.”
SC 325After this was said, Ānanda, I said this to the Wicked Māra: “I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my monks are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 326I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my nuns are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 327I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my laymen are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 328I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my laywomen are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 329I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as this spiritual life of mine has not become successful and prosperous, well spread-out, possessed by many, become great, until it is well-explained amongst Divinities and men.”
SC 330Now today, Ānanda, at the Cāpāla Shrine the Wicked Māra approached me, and after approaching he stood on one side. While standing on one side the Wicked Māra said this to me:
SC 331‘May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For these words, reverend Sir, were spoken by the Gracious One:
SC 332“I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my monks are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.”
SC 333But at present, reverend Sir, the Gracious One’s monks are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 334May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For the Gracious One has said these words:
SC 335“I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my nuns are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.”
SC 336But at present, reverend Sir, the Gracious One’s nuns are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 337May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For the Gracious One has said these words:
SC 338“I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my laymen are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.”
SC 339But at present, reverend Sir, the Gracious One’s laymen are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 340May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For the Gracious One has said these words:
SC 341“I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as my laywomen are not true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, will declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.”
SC 342But at present, reverend Sir, the Gracious One’s laywomen are true disciples, accomplished, disciplined, confident, learned, bearers of the Teaching, practising in conformity with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, and having learned it from their own teacher, do declare, reveal, make known, set forth, open up, analyse, make plain—after giving a good rebuke with reason to the doctrines of others that have arisen—and teach the miraculous Teaching.
SC 343May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation. For the Gracious One has said these words:
SC 344“I will not attain Final Emancipation, Wicked One, for as long as this spiritual life of mine has not become successful and prosperous, well spread-out, possessed by many, become great, until it is well-explained amongst Divinities and men.”
SC 345But at present, reverend Sir, the Gracious One’s spiritual life is successful and prosperous, well spread-out, possessed by many, become great, it is well-explained amongst Divinities and men.
SC 346May the Gracious One attain Final Emancipation now, reverend Sir, may the Fortunate One attain Final Emancipation, now is the time, reverend Sir, for the Gracious One’s Final Emancipation.’
SC 347When that was said, Ānanda, I said this to the Wicked Māra: ‘You should have little concern, Wicked One, in no long time the Realised One will be Finally Emancipated, after three months have passed from now, the Realised One will attain Final Emancipation.’ Now today, Ānanda, at the Cāpāla Shrine the Realised One mindfully, with full awareness, gave up the life-process.”
SC 348When this was said venerable Ānanda said this to the Gracious One: “Let the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan, let the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, having compassion on the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.”
SC 349“Enough, Ānanda, do not beg the Realised One, now is the wrong time, Ānanda, for begging the Realised One.”
SC 350For a second time venerable Ānanda said this to the Gracious One:
SC 351“Let the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan, let the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, having compassion on the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.”
SC 352“Enough, Ānanda, do not beg the Realised One, now is the wrong time, Ānanda, for begging the Realised One.”
SC 353For a third time venerable Ānanda said this to the Gracious One:
SC 354“Let the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan, let the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, having compassion on the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.”
SC 355“Do you, Ānanda, have faith in the Realised One’s Awakening?”
“Yes, reverend Sir,”
SC 356“Then why do you, Ānanda, harrass the Realised One up until the third time?”
SC 357“Face to face with me, reverend Sir, face to face I have heard you say: ‘Whoever has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power, could, if he wanted, remain for the lifespan or for what is left of the lifespan. The Realised One has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power. If he wanted, Ānanda, the Realised One could remain for the lifespan or for what is left of the lifespan.’”
“Do you have faith, Ānanda?”
“Yes, reverend Sir,”
SC 358“Then, Ānanda, there is this wrong-doing for you, there is this fault for you, in that you, despite such a gross hint being made by the Realised One, such a gross suggestion being made, was unable to penetrate it, and did not beg the Realised One, saying:
SC 359‘May the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan; may the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.’
SC 360If you, Ānanda, had begged the Realised One twice the Realised One might have rejected your speech, but would have accepted it on the third occasion. So, Ānanda, there is this wrong-doing for you, there is this fault for you.
24: Ānanda’s Fault at Rājagaha
SC 361At one time, Ānanda, I was living at Rājagaha on the Vulture’s Peak Mountain, I was living right there at Rājagaha near the Gotama Banyan Tree, I was living right there at Rājagaha near the Thieves’ Precipice, I was living right there at Rājagaha on the side of the Vebhāra mountain in the Seven Leaves Cave, I was living right there at Rājagaha on the side of the Isigili mountain on Black Rock, I was living right there at Rājagaha in the Cool Wood, at the Snake Tank Slope, I was living right there at Rājagaha in the River Tapodā Monastery, I was living right there near Rājagaha, at Jīvaka’s Mango Wood, I was living right there near Rājagaha, in the Deer Park at the place called Crushing Womb, in that place, Ānanda, I addressed you, saying:
SC 362‘Delightful, Ānanda, is Rājagaha, delightful is the Vulture’s Peak Mountain, delightful is the Gotama Banyan Tree, delightful is the Thieves’ Precipice, delightful is the side of the Vebhāra mountain in the Seven Leaves Cave, delightful is the side of the Isigili mountain on Black Rock, delightful is the Cool Wood, at the Snake Tank Slope, delightful is the River Tapodā Monastery, delightful is the Squirrel’s Feeding Place in Bamboo Wood, delightful is Jīvaka’s Mango Wood, delightful is the Deer Park at the place called Crushing Womb.
SC 363Whoever has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power, could, if he wanted, remain for the lifespan or for what is left of the lifespan. The Realised One has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power. If he wanted, Ānanda, the Realised One could remain for the lifespan or for what is left of the lifespan.’
SC 364But despite such a gross hint being made by the Realised One, such a gross suggestion being made, you were unable to penetrate it, and did not beg the Realised One, saying:
SC 365‘May the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan; may the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.’
SC 366If you, Ānanda, had begged the Realised One twice the Realised One might have rejected your speech, but would have accepted it on the third occasion. So, Ānanda, there is this wrong-doing for you, there is this fault for you.
25: Ānanda’s Fault at Vesālī
SC 367At one time, Ānanda, I was living right here near Vesālī, in the Udena Shrine, I was living right here near Vesālī, in the Gotamaka Shrine, I was living right here near Vesālī, in the Seven Mangos Shrine, I was living right here near Vesālī, in the Many Sons Shrine, I was living right here near Vesālī, in the Sārandada Shrine, and here today, Ānanda, at the Cāpāla Shrine I addressed you, saying:
SC 368‘Delightful, Ānanda, is Vesālī, delightful is the Udena Shrine, delightful is the Gotamaka Shrine, delightful is the Seven Mangos Shrine, delightful is the Many Sons Shrine, delightful is the Sārandada Shrine, delightful is the Cāpāla Shrine.
SC 369Whoever has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power, could, if he wanted, remain for the lifespan or for what is left of the lifespan. The Realised One has developed, Ānanda, made much of, carried on, established, maintained, augmented, and properly instigated the Four Paths to Power. If he wanted, Ānanda, the Realised One could remain for the lifespan or for what is left of the lifespan.’
SC 370But despite such a gross hint, Ānanda, being made by the Realised One, such a gross suggestion being made, you were unable to penetrate it, and did not beg the Realised One, saying:
SC 371‘May the Gracious One remain, reverend Sir, for the lifespan; may the Fortunate One remain for the lifespan, for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.’
SC 372If you, Ānanda, had begged the Realised One twice the Realised One might have rejected your speech, but would have accepted it on the third occasion. So, Ānanda, there is this wrong-doing for you, there is this fault for you.
SC 373Were you not warned by me when I declared: ‘There is alteration in, separation from, and changeability in all that is dear and appealing’? How can it be otherwise, Ānanda, for that which is obtained, born, become, conditioned, subject to dissolution? It is not possible to say this: ‘It should not dissolve’. But this has been relinquished, cast out, let loose, abandoned by the Realised One, forsaken, the life-process that has been given up. For sure this word was spoken by the Realised One:
SC 374‘Not long now there will be the Realised One’s Final Emancipation, after the passing of three months the Realised One will attain Final Emancipation.’ The Realised One cannot for the sake of life go back on that, it is not possible.
26: The Thirty-Seven Things on the Side of Awakening
SC 375Come Ānanda let us approach the Gabled House Hall in Great Wood.”
SC 376“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One with venerable Ānanda approached the Gabled House Hall in Great Wood, and after approaching he addressed venerable Ānanda, saying:
SC 377“Go, Ānanda, and whatever monks are living in dependence on Vesālī assemble them in the Attendance Hall.”
SC 378“Very well, reverend Sir,” said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One and assembling whatever monks were living in dependence on Vesālī in the Attendance Hall, he approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he stood at one side. While standing on one side, venerable Ānanda said this to the Gracious One: “The Community of monks has assembled, reverend Sir, now is the time, Gracious One, for whatever you are thinking.”
SC 379Then the Gracious One approached the Attendance Hall, and after approaching he sat down on the prepared seat. While sitting the Gracious One addressed the monks, saying:
SC 380“Therefore, monks, whatever Teachings have, with deep knowledge, been taught by me, after grasping them well, you should practise, develop, and make a lot of them, so that the Spiritual Life may last long, and may endure for a long time, and that will be for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.
SC 381And what are those Teachings that have, with deep knowledge, been taught by me, which after grasping them well, you should practise, develop, and make a lot of them, so that the Spiritual Life may last long, and may endure for a long time, that will be for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men?
They are as follows:
- The Four Ways of Attending to Mindfulness,
- the Four Right Strivings,
- the Four Paths to Power,
- the Five Faculties,
- the Five Strengths,
- the Seven Factors of Awakening,
- the Noble Eight-Fold Path.
SC 382These, monks, are those Teachings that have, with deep knowledge, been taught by me, after grasping them well, you should practise, develop, and make a lot of them, so that the Spiritual Life may last long, and may endure for a long time, and that will be for the benefit of many people, for the happiness of many people, out of compassion for the world, for the welfare, benefit, and happiness of Divinities and men.”
Then the Gracious One addressed the monks, saying:
SC 383“Come now, monks, for I tell you all conditioned things are subject to decay, strive on with heedfulness! Not long now there will be the Realised One’s Final Emancipation, after the passing of three months the Realised One will attain Final Emancipation.”
SC 384The Gracious One said this, and after saying this, the Fortunate One, the Teacher, said something more:
SC 385“Youths and also the old, fools and also the wise,
Rich and also the poor—all end in death.
Like an earthen vessel made by a potter,
Small and great, that which is baked and unbaked,
All end in breakage, just so life ends in death.”
Then the Teacher, said something more:
SC 386“Well-matured, decayed, with little of my life remaining,
Having abandoned rebirth I will go, having made myself a refuge.
Be heedful, mindful, and virtuous, monks,
With well-reasoned thoughts, protect your minds.
SC 387Whoever in this Teaching and Discipline will live heedful,
Having given up the round of rebirths, he will put an end to suffering.”
The Third Chapter for Recital is Finished.
The Fourth Chapter for Recitation
27: The Four Noble Things
SC 388Then the Gracious One, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, entered Vesālī for alms. After walking for alms in Vesālī, when he was returning from the alms-round after the meal, after looking at Vesālī with an elephant’s look, he addressed venerable Ānanda, saying: “This is the last time, Ānanda, there will be sight of Vesālī for the Realised One. Come Ānanda let us approach Bhaṇḍagāma.”
SC 389“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Bhaṇḍagāma. There the Gracious One lived near Bhaṇḍagāma.
SC 390There the Gracious One said this to the monks: “Because of a lack of understanding and a lack of penetration, monks, of four things both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
Which four?
SC 3911) Because of a lack of understanding and a lack of penetration of Noble Virtue both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 3922) Because of a lack of understanding and a lack of penetration of Noble Concentrated Development both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 3933) Because of a lack of understanding and a lack of penetration of Noble Wisdom both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 3944) Because of a lack of understanding and a lack of penetration of Noble Freedom both you and I have been wandering and running along in Saṁsāra for a long time.
SC 395But now this Noble Virtue has been understood and penetrated, this Noble Concentrated Development has been understood and penetrated, this Noble Wisdom has been understood and penetrated, this Noble Freedom has been understood and penetrated. Craving for continued existence has been cut off, what leads to rebirth has been exhausted, there is no continuation in existence.”
SC 396The Gracious One said this, and after saying this, the Fortunate One, the Teacher, said something more:
SC 397“Virtue, Concentrated Development, Wisdom, and unsurpassed Freedom,
These things have been understood by the Famous Gotama,
Thus after knowing it deeply the Buddha declared the Teaching to the monks,
The Suffering-Ender, the Teacher, the Visionary One who is Emancipated.”
SC 398There also the Gracious One, while living in Bhaṇḍagāma, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 399“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
28: The Four Great Referalls
SC 400Then the Gracious One, after living near Bhaṇḍagāma for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying:
SC 401“Come Ānanda let us approach Hatthigāma Elephant Village, Ambagāma Mango Village, Jambugāma Rose-Apple Village, Bhoganagara Wealthy Village.”
SC 402“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Bhoganagara. There the Gracious One lived near Bhoganagara at the Joyous Shrine.
SC 403There the Gracious One addressed the monks, saying: “I will teach these Four Great Referrals, monks, listen to it, apply your minds well, and I will speak.”
SC 404“Very well, reverend Sir,” those monks replied to the Gracious One, and the Gracious One said this:
SC 4051) “Here, monks, a monk might speak like this: ‘I have heard this directly from the Gracious One, friends, directly I learned it: “This is the Teaching, this is the Discipline, this is the Teacher’s Dispensation.”’ That monk’s speech, monks, is not to be rejoiced over, not to be scorned at. Without having rejoiced over it, without having scorned it, after learning those words and syllables well, they should be laid alongside the Discourses, they should be compared with the Discipline.
SC 4062) If, when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline, they do not fit in with the Discourses, they do not compare well with the Discipline, you may here come to this conclusion: ‘Certainly this is not the Gracious One’s word, it is not well learned by that monk,’ and, monks, you should abandon it. If when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline, they do fit in with the Discourses, they do compare well with the Discipline, you may come to this conclusion: ‘Certainly this is the Gracious One’s word, it is well-learned by that monk.’ This, monks, is the first Great Referral you should bear in mind.
SC 4073) Here, monks, a monk might speak like this: ‘In a certain dwelling place lives a Community with elders and leaders, I have heard this directly from that Community, directly I learned it: “This is the Teaching, this is the Discipline, this is the Teacher’s Dispensation.”’ Those monks’ speech, monks, is not to be rejoiced over, not to be scorned at. Without having rejoiced over it, without having scorned it, after learning those words and syllables well, they should be laid alongside the Discourses, they should be compared with the Discipline.
SC 4084) If, when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline, they do not fit in with the Discourses, they do not compare well with the Discipline, you may here come to this conclusion: ‘Certainly this is not the Gracious One’s word, it is not well learned by that Community,’ and, monks, you should abandon it. If when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline, they do fit in with the Discourses, they do compare well with the Discipline, you may here come to this conclusion: ‘Certainly this is the Gracious One’s word, it is well-learned by that Community.’ This, monks, is the second Great Referral you should bear in mind.
SC 4095) Here, monks, a monk might speak like this: ‘In a certain dwelling place live many elders, very learned, who have learned the traditions, who are bearers of the Teaching, bearers of the Discipline, bearers of the Tabulation, I have heard this directly from those elders, directly I learned it: “This is the Teaching, this is the Discipline, this is the Teacher’s Dispensation.”’ Those monks’ speech, monks, is not to be rejoiced over, not to be scorned at. Without having rejoiced over it, without having scorned it, after learning those words and syllables well, they should be laid alongside the Discourses, they should be compared with the Discipline.
SC 4106) If, when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline, they do not fit in with the Discourses, they do not compare well with the Discipline, you may here come to this conclusion: ‘Certainly this is not the Gracious One’s word, it is not well learned by those elders,’ and, monks, you should abandon it. If when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline they do fit in with the Discourses, they do compare well with the Discipline, you may here come to this conclusion: ‘Certainly this is the Gracious One’s word, it is well-learned by those elders.’ This, monks, is the third Great Referral you should bear in mind.
SC 4117) Here, monks, a monk might speak like this: ‘In a certain dwelling place lives one elder, very learned, who has learned the traditions, a bearer of the Teaching, a bearer of the Discipline, a bearer of the Tabulation, I have heard this directly from that elder, directly I learned it: “This is the Teaching, this is the Discipline, this is the Teacher’s Dispensation.”’ That monk’s speech, monks, is not to be rejoiced over, not to be scorned at. Without having rejoiced over it, without having scorned it, after learning those words and syllables well, they should be laid alongside the Discourses, they should be compared with the Discipline.
SC 4128) If, when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline they do not fit in with the Discourses, they do not compare well with the Discipline, you may here come to this conclusion: ‘Certainly this is not the Gracious One’s word, it is not well learned by that elder,’ and, monks, you should abandon it. If when these are laid alongside the Discourses, compared with the Discipline, they do fit in with the Discourses, they do compare well with the Discipline, you may here come to this conclusion: ‘Certainly this is the Gracious One’s word, it is well-learned by that elder.’ This, monks, is the fourth Great Referral you should bear in mind. These, monks, are the Four Great Referrals you should bear in mind.”
SC 413There also the Gracious One, while living near Bhoganagara at the Joyful Shrine, spoke frequently to the monks about the Teaching, saying:
SC 414“Such is virtue, such is concentration, such is wisdom, when virtue is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to concentration, when concentration is well-developed it yields great fruit and brings great advantages in regard to wisdom, when wisdom is well-developed the mind is completely liberated from the pollutants, that is to say: the pollutant of sensuality, the pollutant of craving for continued existence, the pollutant of ignorance.”
29: The Last Meal
SC 415Then the Gracious One, after living near Bhoganagara for as long as he liked, addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda let us approach Pāvā.”
SC 416“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks arrived at Pāvā. There the Gracious One lived near Pāvā in Cunda the Smith’s mango wood.
SC 417Cunda the Smith heard: “The Gracious One, it seems, has arrived at Pāvā, and is dwelling near Pāvā, in my mango wood.” Then Cunda the Smith approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down on one side. While Cunda the Smith was sitting on one side the Gracious One instructed, roused, enthused, and cheered him with a talk about the Teaching. Then Cunda the Smith, having been instructed, roused, enthused, and cheered by the Gracious One with a talk about the Teaching, said this to the Gracious One: “May the Gracious One consent, reverend Sir, to me offering him a meal on the morrow, together with the Community of monks.”
SC 418The Gracious One consented by maintaining silence. Then Cunda the Smith, having understood the Gracious One’s consent, after rising from his seat, worshipping and circumambulating the Gracious One, went away.
SC 419Then after the night had passed, Cunda the Smith, in his own residence, having had excellent foodstuffs made ready, and an abundance of tender pork, had the time announced to the Gracious One, saying: “It is time, reverend Sir, the meal is ready.”
SC 420Then the Gracious One, having dressed in the morning time, after picking up his bowl and robe, together with the Community of monks, approached Cunda the Smith’s residence, and after approaching, he sat down on the prepared seat. Having sat down, the Gracious One addressed Cunda the Smith, saying:
SC 421“Serve me with the tender pork you have prepared, Cunda, but serve the Community of monks with the other foodstuffs which have been prepared.”
SC 422“Very well, reverend Sir”, said Cunda the Smith, and after replying to the Gracious One, he served the Gracious One with the tender pork that had been prepared, but served the Community of monks with the other foodstuffs which had been prepared. Then the Gracious One addressed Cunda the Smith, saying:
SC 423“Throw that left over tender pork into a pit, Cunda, for I do not see, Cunda, in the world with its Divinities, Māra, and Brahmā, in this generation with its ascetics and brahmins, princes and men, one who, having eaten it, could completely digest it, except for a Realised One.”
SC 424“Very well, reverend Sir”, said Cunda the Smith, and after replying to the Gracious One, and throwing what was left over of that tender pork into a pit, he approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down on one side.
SC 425While sitting on one side Cunda the Smith having been instructed, roused, enthused, and cheered by the Gracious One with a talk about the Teaching, having risen from the seat, went away.
SC 426Then for the Gracious One, after eating Cunda the Smith’s food, a painful affliction arose, bloody dysentery, and strong feelings occurred, such as end in death. There the Gracious One, mindfully, with full awareness, bore those pains without being troubled. Then the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Come, Ānanda, let us approach Kusinārā.”
SC 427“Very well, reverend Sir”, venerable Ānanda replied to the Gracious One.
SC 428“Having eaten Cunda the Smith’s food, so I have heard,
The Firm One experienced a very strong affliction, such as ends in death.
SC 429For the Teacher, who had eaten tender pork,
A very strong sickness arose.
While still purging the Gracious One said:
‘I will go to the town of Kusinārā.’”
30: Bringing Drinking Water
SC 430Then the Gracious One, having gone down from the road, approached the root of a certain tree, and after approaching, he addressed venerable Ānanda, saying: “Come now, Ānanda, prepare the outer robe folded in four for me, I am weary, Ānanda, and will sit down.”
SC 431“Very well, reverend Sir”, said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One, he prepared the outer robe folded in four, and the Gracious One sat down on the prepared seat. While sitting the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Come now, Ānanda, bring drinking water, I am thirsty, Ānanda, and will drink.”
SC 432After that was said, venerable Ānanda said this to the Gracious One: “Just now, reverend Sir, five hundred wagons have passed by, and the little water that flows, having been churned by the wheels, is stirred up and disturbed. The Kakutthā River is not far away, with transparent water, agreeable water, cool water, pure water, with beautiful banks, a delightful place, there the Gracious One can drink drinking water, and can cool his limbs.”
SC 433For a second time the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Come now, Ānanda, bring drinking water, I am thirsty, Ānanda, and will drink.”
SC 434For a second time venerable Ānanda said this to the Gracious One: “Just now, reverend Sir, five hundred wagons have passed by, and the little water that flows, having been churned by the wheels, is stirred up and disturbed. The Kakutthā River is not far away, with transparent water, agreeable water, cool water, pure water, with beautiful banks, a delightful place, there the Gracious One can drink drinking water, and can cool his limbs.”
SC 435For a third time the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Come now, Ānanda, bring drinking water, I am thirsty, Ānanda, and will drink.”
SC 436“Very well, reverend Sir”, said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One, and taking the bowl, he approached the little river. Then that little river that was flowing, which had been churned by the wheels, and was stirred up and disturbed, as venerable Ānanda was approaching, flowed transparent, clear, and undisturbed.
SC 437Then it occurred to venerable Ānanda: “Surely it is wonderful, surely it is marvellous, the Realised One’s great power and great majesty, in that that little river that is flowing, which has been churned by wheels, and is stirred up and disturbed, as I was approaching, flowed transparent, clear, and undisturbed.”
SC 438After taking a bowl of drinking water he approached the Gracious One, and after approaching, he said this to the Gracious One: “It is wonderful, reverend Sir, it is marvellous, reverend Sir, the Realised One’s great power and great majesty, in that that little river that is flowing, which has been churned by wheels, and is stirred up and disturbed, as I was approaching, flowed transparent, clear, and undisturbed. Please drink the drinking water, Gracious One! Please drink the drinking water, Fortunate One!” Then the Gracious One drank the water.
31: The Story concerning Pukkusa Mallaputta
SC 439Now at that time Pukkusa Mallaputta, a disciple of Āḷāra Kālāma, was travelling along the highway from Pāvā to Kusinārā. Pukkusa Mallaputta saw the Gracious One sitting at the root of a certain tree. And having seen him he approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down on one side. While sitting on one side Pukkusa Mallaputta said this to the Gracious One: “It is wonderful, reverend Sir, it is marvellous, reverend Sir, that those who have gone forth, reverend Sir, live such a peaceful living.
SC 440Formerly, reverend Sir, Āḷāra Kālāma descended from the highway he was travelling along, and was dwelling for the day sat not far away at the root of a certain tree. Then, reverend Sir, about five hundred wagons passed by very close to Āḷāra Kālāma. Then, reverend Sir, a certain man who was traveling along behind those wagons approached Āḷāra Kālāma, and after approaching he said this to Āḷāra Kālāma:
SC 441‘Did you not see, reverend Sir, about five hundred wagons pass by?’
‘I did not see, friend.’
‘But, reverend Sir, did you not hear the sound?’
‘I did not hear the sound, friend.’
‘But, reverend Sir, were you sleeping?’
‘I was not sleeping, friend.’
‘But, reverend Sir, were you conscious?’
‘Yes, friend.’
SC 442‘So you, reverend Sir, though conscious and awake, when about five hundred wagons passed by very close neither saw them nor heard a sound! Why, reverend Sir, even your double-robe is covered with dust!’
‘Yes, friend.’
SC 443Then this occurred to that man: ‘It is wonderful, it is marvellous, that those who have indeed gone forth live such a peaceful living. Because though conscious and awake, when about five hundred wagons passed by very close he did not see them or hear a sound!’ And having gained great confidence in Āḷāra Kālāma, he left.”
SC 444“Now what do you think, Pukkusa, which is the more difficult to do or the more difficult to come by: that someone though conscious and awake, when about five hundred wagons passed by very close should neither see them nor hear a sound, or that someone, though conscious and awake, when the Divinities rain down, when the Divinities throw it down, and the lightning flashes, and the thunder crashes forth, should neither see it nor hear a sound?”
SC 445“Why, reverend Sir, what to make of five-hundred wagons, six-hundred wagons, seven-hundred wagons, eight-hundred wagons, nine-hundred wagons, one thousand wagons, or one-hundred thousand wagons? This is the more difficult to do or the more difficult to come by: that someone, though conscious and awake, when the Divinities rain down, when the Divinities throw it down, and the lightning flashes, and the thunder crashes forth, should neither see it nor hear a sound.”
SC 446“One day, Pukkusa, I was living near Ātumā at the Decorated House. Now at that time the Divinities rained down, the Divinities threw it down, and the lightning flashed, and the thunder crashed forth, and not far away from the Decorated House two brothers who were farmers died, along with four oxen. Then, Pukkusa, a great crowd of people having departed from Ātumā, went to the place where the brothers who were farmers and the four oxen had died.
SC 447Then, Pukkusa, at that time, after leaving the Decorated House, I was walking in the open air near the gate to the Decorated House. Then, Pukkusa, a certain man from that crowd approached me, and after approaching and worshipping me, he stood on one side. While standing there, Pukkusa, I said to that man:
SC 448‘Why, friend, has that great crowd of people assembled?’
SC 449‘Just now, reverend Sir, the Divinities rained down, the Divinities threw it down, and the lightning flashed, and the thunder crashed forth, and two brothers who were farmers died, along with four oxen, and that great crowd of people assembled here. But where were you, reverend Sir?’
‘I was right here, friend.’
‘But, reverend Sir, did you see it?’
‘I did not see, friend.’
‘But, reverend Sir, did you hear the sound?’
‘I did not hear the sound, friend.’
‘But, reverend Sir, were you sleeping?’
‘I was not sleeping, friend.’
‘But, reverend Sir, were you conscious?’
‘Yes, friend.’
SC 450‘So, reverend Sir, though conscious and awake when the Divinities rained down, when the Divinities threw it down, and the lightning flashed, and the thunder crashed forth, you neither saw it, nor heard a sound!’
‘Yes, friend.’
SC 451Then, Pukkusa, this occurred to that man: ‘It is wonderful, it is marvellous, that those who have indeed gone forth live such a peaceful living. Because though conscious and awake when the Divinities rained down, when the Divinities threw it down, and the lightning flashed, and the thunder crashed forth, he did not see it or hear a sound!’ And after gaining great confidence in me, worshipping and circumambulating me, he left.”
SC 452After this was said, Pukkusa Mallaputta said this to the Gracious One: “That faith, reverend Sir, I have in Āḷāra Kālāma, I clear away as with a great wind, I wash it away as with a fast-flowing river:
SC 453Excellent, reverend Sir! Excellent, reverend Sir! Just as, reverend Sir, one might set upright what has been overturned, or open up what has been closed, or show a path to one who is lost, or bear an oil lamp in the darkness so that one who has eyes can see forms, just so has the Teaching been made clear by the Gracious One in more than one way. I go to the Gracious One, reverend Sir, for refuge, and to the Teaching, and to the Community of monks. Please bear it in mind, Gracious One, that I am a lay disciple who has gone for refuge from today forward for as long as I am furnished with life.”
SC 454Then Pukkusa Mallaputta addressed a certain man, saying: “Come, my man, bring me a pair of polished gold-coloured robes, ready to wear.”
SC 455“Very well, reverend Sir,” said that man, and after replying to Pukkusa Mallaputta, he brought a pair of polished gold-coloured robes, ready to wear. Then Pukkusa Mallaputta offered that pair of polished gold-coloured robes, ready to wear, to the Gracious One, saying: “Please accept, reverend Sir, this pair of polished gold-coloured robes, ready to wear out of compassion for me, Gracious One.”
SC 456“Then, Pukkusa, clothe me with one, and Ānanda with the other.”
SC 457“Very well, reverend Sir,” said Pukkusa Mallaputta, and after replying to the Gracious One clothed the Gracious One with one, and Ānanda with the other. Then the Gracious One instructed Pukkusa Mallaputta roused, enthused, and cheered him with a talk about the Teaching. Then Pukkusa Mallaputta, having been instructed, roused, enthused, and cheered by the Gracious One with a talk about the Teaching, after rising from his seat, worshipping and circumambulating the Gracious One, departed.
SC 458Then, venerable Ānanda, not long after Pukkusa Mallaputta had departed, offered that pair of polished gold-coloured robes, ready to wear, to the Gracious One, and when placed on the Gracious One’s body they appeared to have lost their gleam.
SC 459Then venerable Ānanda said this to the Gracious One: “It is wonderful, reverend Sir, it is marvellous, reverend Sir, how pure and clean is the Realised One’s skin-colour, reverend Sir! This pair of polished gold-coloured robes, ready to wear, reverend Sir, when placed on the Gracious One’s body have lost their gleam!”
SC 460“Just so, Ānanda, on two occasions, Ānanda, the Realised One’s skin-colour becomes exceedingly pure and clean.
On which two occasions?
SC 461That night, Ānanda, the Realised One perfectly awakens to the unsurpassed and Perfect Awakening, and that night the Realised One is Finally Emancipated in the Emancipation-element which has no basis for attachment remaining. On these two occasions the Realised One’s skin-colour is exceedingly pure and clean. Today, Ānanda, during the last watch of the night, near to Kusinārā, in the Mallas’ Sal Wood at Upavattana, between a pair of Sal trees will be the Realised One’s Final Emancipation.
“Come Ānanda let us approach River Kakutthā.”
SC 462“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One.
SC 463“A pair of polished gold-coloured robes was offered by Pukkusa,
Once clothed with it the Teacher’s golden skin colour shone forth.”
32: Cunda’s Great Gain
SC 464Then the Gracious One with a great Community of monks went to the river Kakutthā, and after going, and entering into the river Kakutthā, bathing, and drinking, and coming back out, he approached the mango wood, and after approaching, he addressed venerable Cundaka, saying: “Come now, Cundaka, prepare the outer robe folded in four for me, I am weary, Cundaka, and will lie down.”
SC 465“Very well, reverend Sir”, said venerable Cundaka, and after replying to the Gracious One, he prepared the outer robe folded in four. Then the Gracious One, lay down on his right side in the lion’s posture, after placing one foot on the top of the other, mindfully, with full awareness, having applied his mind to the thought of rising. And venerable Cundaka sat down right there in front of the Gracious One.
SC 466“The Awakened One, having gone to the little river Kakutthā,
Which had water that was transparent, pleasant, and clear,
The Teacher, very weary, entered the river,
the Realised One, who is unmatched here in the world.
SC 467After washing and drinking, the Teacher came out,
And in the middle of the Community of monks, at the front,
The Teacher, the Gracious One, having taught the Teaching here,
The Great Sage went to the mango wood.
SC 468He addressed the monk called Cundaka, saying:
“Spread out the robe folded in four for me to lie down on,”
Cunda, urged by the One with Developed Mind,
Very quickly spread the robe folded in four.
The Teacher, very weary, lay down,
With Cunda sat right there at the front.”
SC 469Then the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “It may be, Ānanda, that someone might cause remorse for the smith Cunda, saying: ‘There is no gain for you, friend Cunda, it is a poor gain for you, in that the Realised One, after eating his last almsfood from you, attained Final Emancipation.’
SC 470If there is remorse for Cunda the Smith, Ānanda, drive it out in this way, saying: ‘There is a gain for you, friend Cunda, it is a good gain for you, in that the Realised One, after eating his last almsfood from you, attained Final Emancipation. I heard this face to face with the Gracious One, friend Cunda, I learned it face to face: ‘There are these two almsfoods which have the very same excellent fruit, have the very same excellent result, that is a greater fruit, a greater result than other almsfood.
Which two?
SC 471That almsfood which, after eating, the Realised One awakens to the unsurpassed and Perfect Awakening; and that almsfood which, after eating, the Realised One attains Final Emancipation in the Emancipation-element which has no basis for attachment remaining. These are the two almsfoods which have the same fruit, have the same result, that is an exceedingly greater fruit, a greater result than other almsfood.
SC 472Friend Cunda the Smith has accumulated a good deed that is conducive to long life, friend Cunda the Smith has accumulated a good deed that is conducive to beauty, friend Cunda the Smith has accumulated a good deed that is conducive to happiness, friend Cunda the Smith has accumulated a good deed that is conducive to fame, friend Cunda the Smith has accumulated a good deed that is conducive to heaven, friend Cunda the Smith has accumulated a good deed that is conducive to sovereignty.’ If there is remorse for Cunda the Smith, Ānanda, it should be driven out in this way!”
SC 473Then the Gracious One, having understood the significance of it, on that occasion uttered this exalted utterance:
SC 474“For the one who gives merit is increased,
From restraint hatred is not accumulated.
The skilful one gives up what is bad,
Through the destruction of passion, hatred, and delusion, he is emancipated.”
The Fourth Chapter for Recital is Finished.
The Fifth Chapter for Recitation
33: Worshipping the Realised One
SC 475Then the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “Come Ānanda, let us approach the further shore of the Golden river, to Kusinārā, and to the Mallas’ Sal Wood at Upavattana.”
SC 476“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One. Then the Gracious One together with a great Community of monks went to the further shore of the Golden river, to Kusinārā, and the Mallas’ Sal Wood at Upavattana, and after going he addressed venerable Ānanda, saying: “Come, Ānanda, prepare a couch with the head facing north between the Twin Sal Trees for me, I am weary, Ānanda, and will lie down.”
SC 477“Very well, reverend Sir,” said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One, he prepared a couch with the head facing north between the Twin Sal Trees. Then the Gracious One, lay down on his right side in the lion’s posture, after placing one foot on the top of the other, mindfully, with full awareness.
SC 478Now at that time the Twin Sal Trees were full of flowering blossoms, outside of flowering time, and they were sprinkling down on the Realised One’s body, showering down, pouring down on the Realised One in worship. Also the Divine Coral Tree flowers were falling from the sky, and they were sprinkling down on the Realised One’s body, showering down, pouring down on the Realised One in worship. Also Divine sandalwood powder was falling from the sky, and was sprinkling down on the Realised One’s body, showering down, pouring down on the Realised One in worship. Also Divine music played in the sky in worship of the Realised One. Also Divine songs played in the sky in worship of the Realised One.
SC 479Then the Gracious One said this to venerable Ānanda: “The Twin Sal Trees are full of flowering blossoms, outside of flowering time, and they are sprinkling down on the Realised One’s body, showering down, pouring down on the Realised One in worship. Also the Divine Coral Tree flowers are falling from the sky, and they are sprinkling down on the Realised One’s body, showering down, pouring down on the Realised One in worship. Also Divine sandalwood powder is falling from the sky, and is sprinkling down on the Realised One’s body, showering down, pouring down on the Realised One in worship. Also Divine music plays in the sky in worship of the Realised One. Also Divine songs play in the sky in worship of the Realised One.
SC 480But it is not in this way, Ānanda, that the Realised One is honoured, respected, revered, worshipped, or esteemed. But that monk, nun, layman, or laywoman, Ānanda, who lives practising the Teaching in accordance with the Teaching, correct in their practice, living in conformity with the Teaching, he honours, respects, reveres, worships, and esteems the Realised One with the highest worship. Therefore, Ānanda, thinking: ‘Let us live practising the Teaching in accordance with the Teaching, correct in our practice, living in conformity with the Teaching,’ this is how you are to train, Ānanda.”
34: The Visit of the Divinities
SC 481Now at that time venerable Upavāṇa was standing in front of the Gracious One, fanning the Gracious One. Then the Gracious One dismissed venerable Upavāṇa, saying: “Depart, monk, do not stand in front of me.”
SC 482Then venerable Ānanda thought: “This venerable Upavāṇa has been the Gracious One’s attendant for a long time, living near to him, within proximity. Then at the last moment the Gracious One dismisses venerable Upavāṇa, saying: ‘Depart, monk, do not stand in front of me.’ What was the reason, what was the cause, for the Gracious One dismissing venerable Upavāṇa, saying: ‘Depart, monk, do not stand in front of me’?”
SC 483Then venerable Ānanda said this to the Gracious One: “This venerable Upavāṇa has been the Gracious One’s attendant for a long time, living near to him, within proximity. Then at the last moment the Gracious One dismisses venerable Upavāṇa, saying: ‘Depart, monk, do not stand in front of me.’ What is the reason, reverend Sir, what is the cause, for the Gracious One dismissing venerable Upavāṇa, saying: ‘Depart, monk, do not stand in front of me’?”
SC 484“Almost all of the Divinities, Ānanda, from the ten world-elements have assembled to see the Realised One, everywhere around Kusinārā and the Mallas’ Sal Wood at Upavattana for as far as twelve leagues there is no place, even so much as a tip of a pricking hair, unpervaded by powerful Divinities, and the Divinities, Ānanda, are complaining, saying: ‘We have come from afar to see the Realised One, only occasionally, infrequently, do Realised Ones, Worthy Ones, Perfect Sambuddhas arise in the world, and today during the last watch of the night will be the Realised One’s Final Emancipation, and this powerful monk is stood in front concealing the Realised One, and we are not able to see the Realised One at the last moment.’”
SC 485“But what beings and Divinities is the Gracious One thinking of?”
SC 486“There are, Ānanda, Divinities in the sky, perceiving the Earth, who, having dishevelled hair, are weeping, throwing up their arms, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, they are crying: ‘Too quickly the Gracious One will attain Final Emancipation, too quickly the Fortunate One will attain Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world will disappear!’
SC 487There are, Ānanda, Divinities on the Earth, perceiving the Earth, who, having dishevelled hair, are weeping, throwing up their arms, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, they are crying: ‘Too quickly the Gracious One will attain Final Emancipation, too quickly the Fortunate One will attain Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world will disappear!’”
SC 488But those Divinities who have cut off passion, mindfully, with full awareness, they endure, thinking: ‘Impermanent are all processes, how can it be otherwise?’”
35: The Four Places that Produce Enthusiasm
SC 489“Formerly, reverend Sir, the monks, having dwelt for the Rains Retreat used to come to see the Realised One, and we would receive those meditating monks for assembling and seeing the Realised One. But after the Gracious One has passed way, reverend Sir, we will not receive those meditating monks for assembling and seeing the Realised One.”
SC 490“There are these four places that can be seen, that produce enthusiasm, Ānanda, for a faithful man of good family.
Which four?
SC 4911) Thinking: ‘Here the Realised One was born’, Ānanda, that is a place to be seen that produces enthusiasm for a faithful man of good family.
SC 4922) Thinking: ‘Here the Realised One awoke to the unsurpassed and Perfect Awakening’, Ānanda, that is a place to be seen that produces enthusiasm for a faithful man of good family.
SC 4933) Thinking: ‘Here the Realised One set rolling the Wheel of the Teaching’, Ānanda, that is a place to be seen that produces enthusiasm for a faithful man of good family.
SC 4944) Thinking: ‘Here the Realised One was completely Emancipated in the Emancipation-element which has no basis for attachment remaining’, Ānanda, that is a place to be seen that produces enthusiasm for a faithful man of good family.
SC 495These are the four places, Ānanda, that are to be seen that produce enthusiasm for a faithful man of good family.
SC 496Faithful monks, nuns, laymen, and laywomen will come, thinking: ‘Here the Realised One was born’, ‘Here the Realised One awoke to the unsurpassed and Perfect Awakening’, ‘Here the Realised One set rolling the Wheel of the Teaching’, ‘Here the Realised One was Finally Emancipated in the Emancipation-element which has no basis for attachment remaining’, and whoever, Ānanda, will die while on pilgrimage to the Shrines with a confident mind they will all, at the break-up of the body, after death, re-arise in a fortunate destiny, in a heavenly world.”
SC 497“How, reverend Sir, are we to act in regard to women?”
“As though they were not seen, Ānanda.”
SC 498“But when seeing them, reverend Sir, how are we to act?”
“Without conversing, Ānanda.”
SC 499“But when conversing, reverend Sir, how are we to act?”
“You should attend to mindfulness, Ānanda.”
SC 500“How should we act, reverend Sir, in regard to the Realised One’s body?”
SC 501“Do not worry, Ānanda, about how you are to worshipfully dispose of the Realised One’s body. Come, Ānanda, live striving for the highest good, being devoted to the highest good, being heedful of the highest good, ardent, and resolute. There are, Ānanda, wise nobles, wise brahmins, wise householders who have faith in the Realised One. They will worshipfully dispose of the Realised One’s body.”
SC 502“How should we act, reverend Sir, in regard to the Realised One’s body?”
SC 503“As you act in regard to the Universal Monarch’s body, so you should act in regard to the Realised One’s body.”
SC 504“But how do they act, reverend Sir, in regard to the Universal Monarch’s body?”
SC 505“They wrap the Universal Monarch’s body, Ānanda, with clean cloth, and after wrapping with clean cloth, they wrap with carded cotton, and after wrapping with carded cotton, they wrap with clean cloth, by this means after wrapping the Universal Monarch’s body with five-hundred pairs of cloth and cotton, enclosing it in an oil tub made of iron, and enclosing it in another iron tub, and putting it on a scented funeral pyre, they burn the Universal Monarch’s body, and they build a Shrine for the Universal Monarch at the crossroads.
SC 506So they act in regard to a Universal Monarch’s body, and as they act in regard to a Universal Monarch’s body so should they act in regard to a Realised One’s body, and a Shrine should be made for the Realised One at the crossroads. Whoever there prepares flowers, incense, or powder, or worships or establishes confidence in his mind, that will be for their benefit and happiness for a long time.
SC 507These four persons, Ānanda, are worthy of a Shrine.
Which four?
SC 5081) A Realised One, a Worthy One, a Perfect Sambuddha is worthy of a Shrine,
2) an Individual Sambuddha is worthy of a Shrine,
SC 5093) a Realised One’s disciple is worthy of a Shrine,
4) a Universal Monarch is worthy of a Shrine.
SC 510And for what reason or cause is a Realised One, a Worthy One, a Perfect Sambuddha worthy of a Shrine? Thinking: ‘This is the Shrine of a Realised One, a Worthy One, a Perfect Sambuddha’, Ānanda, many people purify their mind, and after purifying their mind, at the break-up of the body, after death, they arise in a fortunate destiny, in a Heavenly world. This is the reason or cause, Ānanda, why a Realised One, a Worthy One, a Perfect Sambuddha is worthy of a Shrine.
SC 511And for what reason or cause is an Individual Sambuddha worthy of a Shrine? Thinking: ‘This is the Shrine of a Gracious One, an Individual Sambuddha’, Ānanda, many people purify their mind, and after purifying their mind, at the break-up of the body, after death, they arise in a fortunate destiny, in a Heavenly world. This is the reason or cause, Ānanda, why an Individual Sambuddha is worthy of a Shrine.
SC 512And for what reason or cause is a Realised One’s disciple worthy of a Shrine? Thinking: ‘This is the Shrine of a disciple of a Gracious One, a Worthy One, a Perfect Sambuddha’, Ānanda, many people purify their mind, and after purifying their mind, at the break-up of the body, after death, they arise in a fortunate destiny, in a Heavenly world. This is the reason or cause, Ānanda, why a Realised One’s disciple is worthy of a Shrine.
SC 513And for what reason or cause is a Universal Monarch worthy of a Shrine? Thinking: ‘This is the Shrine of Righteous Monarch, a Righteous King’, Ānanda, many people purify their mind, and after purifying their mind, at the break-up of the body, after death, they arise in a fortunate destiny, in a Heavenly world. This is the reason or cause, Ānanda, why a Universal Monarch is worthy of a Shrine. These, Ānanda, are the four persons worthy of a Shrine.”
36: Ānanda’s Marvellous Qualities
SC 514Then venerable Ānanda, after entering the living place, and leaning against the door-lintel, stood there crying: “The Teacher will attain Final Emancipation while I am still a Trainee with much to do, he who has compassion for me!”
SC 515Then the Gracious One addressed the monks, saying: “Where, monks, is Ānanda?”
SC 516“This venerable Ānanda, reverend Sir, after entering the living place, and leaning against the door-lintel, stands there crying: ‘The Teacher will attain Final Emancipation while I am still a Trainee with much to do, he who has compassion for me!’”
SC 517Then the Gracious One addressed a certain monk, saying: “Go, monk, and in my name address Ānanda, saying: ‘The Teacher, friend Ānanda, is calling you.’”
SC 518“Very well, reverend Sir, and after replying to the Gracious One, he approached venerable Ānanda, and after approaching he said this to venerable Ānanda: “The Teacher, friend Ānanda, is calling you.”
SC 519“Very well, friend,” said venerable Ānanda, and after replying to that monk, he approached the Gracious One, and after approaching and worshipping the Gracious One, he sat down on one side. While sitting on one side the Gracious One said this to venerable Ānanda:
SC 520“Enough, Ānanda, don’t grieve, don’t lament, were you not warned by me when I declared: ‘There is alteration in, separation from, and changeability in all that is dear and appealing.’ How can it be otherwise, Ānanda, for that which is obtained, born, become, conditioned, subject to dissolution? It is not possible to say this: ‘The Realised One’s body should not dissolve’.
SC 521For a long time, Ānanda, you dwelt near to the Realised One with beneficial, pleasant, trustworthy, and limitlessly friendly bodily actions, with beneficial, pleasant, trustworthy, and limitlessly friendly speech actions, with beneficial, pleasant, trustworthy, and limitlessly friendly mental actions, you have done meritorious deeds, Ānanda, you should devote yourself to quickly striving to be one who is pollutant-free!”
SC 522Then the Gracious One addressed the monks, saying: “Whoever were Worthy Ones, Perfect Sambuddhas in the past, monks, for those Gracious Ones also there were such superior attendants, just as Ānanda is for me; whoever will be Worthy Ones, Perfect Sambuddhas in the future, monks, for those Gracious Ones also there will be such superior attendants, just as Ānanda is for me.
SC 523Ānanda is wise, monks, Ānanda is intelligent, monks, he knows: ‘This is the time for monks to approach and see the Realised One, this is the time for monks, this is the time for nuns, this is the time for laymen, this is the time for laywomen, this is the time for kings, for kings’ ministers, for outside teachers, for the disciples of outside teachers.’
SC 524There are four wonderful and marvellous things, monks, about Ānanda.
Which four?
SC 5251) If, monks, a group of monks approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of monks are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 5262) If, monks, a group of nuns approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of nuns are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 5273) If, monks, a group of laymen approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of laymen are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 5284) If, monks, a group of laywomen approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of laywomen are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 529These are the four wonderful and marvellous things about Ānanda.
SC 530There are four wonderful and marvellous things, monks, about the Universal Monarch.
Which four?
SC 5311) If, monks, a group of Nobles approach to see the Universal Monarch their minds are uplifted through seeing him, and if the Universal Monarch speaks, their minds are uplifted with the speech, but that group of nobles are dissatisfied if then the Universal Monarch remains silent.
SC 5322) If, monks, a group of brahmins approach to see the Universal Monarch their minds are uplifted through seeing him, and if the Universal Monarch speaks, their minds are uplifted with the speech, but that group of brahmins are dissatisfied if then the Universal Monarch remains silent.
SC 5333) If, monks, a group of householders approach to see the Universal Monarch their minds are uplifted through seeing him, and if the Universal Monarch speaks, their minds are uplifted with the speech, but that group of householders are dissatisfied if then the Universal Monarch remains silent.
SC 5344) If, monks, a group of ascetics approach to see the Universal Monarch their minds are uplifted through seeing him, and if the Universal Monarch speaks, their minds are uplifted with the speech, but that group of ascetics are dissatisfied if then the Universal Monarch remains silent.
SC 535In the same way there are four wonderful and marvellous things, monks, about Ānanda.
SC 5361) If, monks, a group of monks approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of monks are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 5372) If, monks, a group of nuns approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of nuns are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 5383) If, monks, a group of laymen approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of laymen are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 5394) If, monks, a group of laywomen approach to see Ānanda their minds are uplifted through seeing him, and if Ānanda speaks words of welcome, their minds are uplifted with the speech, but that group of laywomen are dissatisfied if at that time Ānanda remains silent.
SC 540There are the four wonderful and marvellous things, monks, about Ānanda.”
37: Kusinārā’s History
SC 541After this was said, venerable Ānanda addressed the Gracious One, saying: “Reverend Sir, may the Gracious One not attain Final Emancipation in this small town, this barren town, this branch town. There are, reverend Sir, other great towns, such as: Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī, Bārāṇasī—let the Gracious One attain Final Emancipation there. There are many wealthy Nobles there, wealthy brahmins, wealthy householders, who are devoted to the Realised One, and will worshipfully dispose of the Realised One’s body.”
SC 542“Do not say that, Ānanda, do not say that, Ānanda: ‘This small town, this barren town, this branch town’. Formerly, Ānanda, there was a King by the name of Mahāsudassana, a Righteous Monarch, a Righteous King, who was victorious over the four quarters, one who had established a stable country, endowed with the seven jewels.
SC 543This Kusinārā, was then named Kusāvatī, and was King Mahāsudassana’s capital city. Stretching for twelve leagues from East to West, and seven leagues from North to South, the capital city Kusāvatī was prosperous, Ānanda, successful, populous, full of people, with much food, just as, Ānanda, the capital city of the Divinities named Āḷakamandā is prosperous, successful, populous, full of people, with much food, so the capital city Kusāvatī was prosperous, Ānanda, successful, populous, full of people, with much food.
SC 544The capital city Kusāvatī was never separated from the ten sounds, by day or by night, that is to say: the sound of elephants, the sound of horses, the sound of chariots, the sound of drums, the sound of tabours, the sound of lutes, the sound of songs, the sound of cymbals, the sound of hand bells, and with ‘eat, drink, chew!’ as the tenth sound.
38: The Mallas Worship the Gracious One
SC 545“Go, Ānanda, and after entering into Kusinārā, announce to the Mallas: ‘Today, Vāseṭṭhas, in the last watch of the night, will be the Realised One’s attainment of Final Emancipation, come along, Vāseṭṭhas, come along, Vāseṭṭhas, do not regret it afterwards thinking: “In the area of our village, was the Realised One’s attainment of Final Emancipation, and we did not, in the last watch of the night, get to see the Realised One”’.”
SC 546“Very well, reverend Sir,” said venerable Ānanda, and after replying to the Gracious One, dressing, and taking his robes and bowl, he entered Kusinārā with a companion.
SC 547Now at that time the Mallas from Kusinārā were assembled in the Council Hall having some business or other. Then venerable Ānanda went to where the Mallas from Kusinārā were assembled in the Council Hall, and after approaching he said this to the Mallas: “Today, Vāseṭṭhas, in the last watch of the night, will be the Realised One’s attainment of Final Emancipation, come along, Vāseṭṭhas, come along, Vāseṭṭhas, do not regret it afterwards thinking: ‘In the area of our village, was the Realised One’s attainment of Final Emancipation, and we did not, in the last watch of the night, get to see the Realised One.’”
SC 548After hearing this from venerable Ānanda, the Mallas, the sons of the Mallas, the daughters-in-law of the Mallas, and the wives of the Mallas became miserable, depressed, with their minds given over to suffering. Some, having dishevelled hair, were weeping, throwing up their arms, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, they were crying: “Too quickly the Gracious One will attain Final Emancipation, too quickly the Fortunate One will attain Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world will disappear!”
SC 549Then the Mallas, the sons of the Mallas, the daughters-in-law of the Mallas, and the wives of the Mallas, miserable, depressed, with their minds given over to suffering, approached the Mallas’ Sal Wood at Upavattana, and approached venerable Ānanda.
SC 550Then this occurred to venerable Ānanda: “If I make the Mallas of Kusinārā worship the Gracious One one by one before the Gracious One has been worshipped by the Mallas of Kusinārā the night will end. Now what if I, having segregated the Mallas family by family, made them worship the Gracious One, saying: ‘A Malla named so and so, together with his children, wife, dependents, and councillors worships the Gracious One’s feet with his head’?”
SC 551Then venerable Ānanda having segregated the Mallas family by family, made them worship the Gracious One, saying: “A Malla named so and so, together with his children, wife, dependents, and councillors worships the Gracious One’s feet with his head.”
SC 552Then venerable Ānanda, in this way, during the first watch of the night, made the Mallas of Kusinārā worship the Gracious One.
39: Subhadda, the Last Direct Disciple
SC 553Now at that time a wanderer named Subhadda had arrived at Kusinārā. The wanderer Subhadda heard: “Today, it seems, in the last watch of the night, will be the ascetic Gotama’s attainment of Final Emancipation.”
SC 554Then this occurred to the wanderer Subhadda: “I have heard this from old, elderly wanderers, who are teachers and teachers’ teachers, when they said: ‘Only occasionally, rarely, do Realised Ones, Worthy Ones, Perfect Sambuddhas arise in the world.’ Today, in the last watch of the night, will be the ascetic Gotama’s attainment of Final Emancipation. There is a doubt that has arisen for me, and I have confidence in the ascetic Gotama thus: ‘The ascetic Gotama is able to teach the Teaching in such a way that I will be able to abandon that doubt.’”
SC 555Then the wanderer Subhadda approached the Mallas’ Sal Wood at Upavattana, and approached venerable Ānanda, and after approaching he said to venerable Ānanda: “I have heard this from old, elderly wanderers, dear Ānanda, who are teachers and teachers’ teachers, when they said: ‘Only occasionally, rarely, do Realised Ones, Worthy Ones, Perfect Sambuddhas arise in the world.’ Today, in the last watch of the night, will be the ascetic Gotama’s attainment of Final Emancipation. There is a doubt that has arisen for me, and I have confidence in the ascetic Gotama thus: ‘The ascetic Gotama is able to teach the Teaching in such a way that I will be able to abandon that doubt’. It would be well, dear Ānanda, if I was allowed to see the ascetic Gotama.”
SC 556After this was said, venerable Ānanda said this to the wanderer Subhadda: “Enough, friend Subhadda, do not trouble the Realised One, the Gracious One is exhausted.”
SC 557For a second time the wanderer Subhadda said this to venerable Ānanda: “I have heard this from old, elderly wanderers, dear Ānanda, who are teachers and teachers’ teachers, when they said: ‘Only occasionally, rarely, do Realised Ones, Worthy Ones, Perfect Sambuddhas arise in the world.’ Today, in the last watch of the night, will be the Realised One’s attainment of Final Emancipation. There is a doubt that has arisen for me, and I have confidence in the ascetic Gotama thus: ‘The ascetic Gotama is able to teach the Teaching in such a way that I will be able to abandon that doubt’. It would be well, dear Ānanda, if I was allowed to see the ascetic Gotama.
SC 558For a second time venerable Ānanda said this to the wanderer Subhadda: “Enough, friend Subhadda, do not trouble the Realised One, the Gracious One is exhausted.”
SC 559For a third time the wanderer Subhadda said this to venerable Ānanda: “I have heard this from old, elderly wanderers, dear Ānanda, who are teachers and teachers’ teachers, when they said: ‘Only occasionally, rarely, do Realised Ones, Worthy Ones, Perfect Sambuddhas arise in the world.’ Today, in the last watch of the night, will be the ascetic Gotama’s attainment of Final Emancipation. There is a doubt that has arisen for me, and I have confidence in the ascetic Gotama thus: ‘The ascetic Gotama is able to teach the Teaching in such a way that I will be able to abandon that doubt’. It would be well, dear Ānanda, if I was allowed to see the ascetic Gotama.”
SC 560For a third time venerable Ānanda said this to the wanderer Subhadda: “Enough, friend Subhadda, do not trouble the Realised One, the Gracious One is exhausted.”
SC 561The Gracious One heard venerable Ānanda having this conversation with the wanderer Subhadda. Then the Gracious One said this to venerable Ānanda: “Enough, Ānanda, do not obstruct Subhadda allow Subhadda to see the Realised One. Whatever Subhadda will ask of me all of it he will ask of me seeking for deep knowledge, and not to trouble me. Whatever question is put I will answer, and he will quickly understand it.”
SC 562Then venerable Ānanda said this to the wanderer Subhadda: “Go, friend Subhadda, the Gracious One has given you permission.”
SC 563Then the wanderer Subhadda approached the Gracious One, and after approaching, he exchanged greetings with the Gracious One, and after exchanging courteous talk and greetings, he sat down on one side.
SC 564While sitting on one side the wanderer Subhadda said this to the Gracious One: “Those ascetics and brahmins, dear Gotama, who have a community, a group, who teach a group, well-known, famous, religious founders, agreed upon as good for the people, such as: Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta, have they all understood, according to their own avowal? Have they all not understood? Or, have some understood? Or, have some not understood?”
SC 565“Enough, Subhadda, stop this: ‘Have they all understood, according to their own avowal? Have they all not understood? Or, have some understood? Or, have some not understood?’ I will teach the Teaching to you, Subhadda, listen to it, apply your mind well, and I will speak.”
SC 566“Very well, reverend Sir,” the wanderer Subhadda replied to the Gracious One, and the Gracious One said this: “Wherever, Subhadda, the Noble Eightfold Path is not found in a Teaching and Discipline there a true ascetic is not found, there a second true ascetic is not found, there a third true ascetic is not found, there a fourth true ascetic is not found.
SC 567But wherever, Subhadda, the Noble Eightfold Path is found in a Teaching and Discipline there a true ascetic is found, there a second true ascetic is found, there a third true ascetic is found, there a fourth true ascetic is found.
SC 568In this Teaching and Discipline, Subhadda, the Noble Eightfold Path is found, here a true ascetic is found, here a second true ascetic is found, here a third true ascetic is found, here a fourth true ascetic is found.
SC 569Void are the outside doctrines of these other ascetics, Subhadda, but if monks should live well, the world will not be void of Worthy Ones.
SC 570At twenty-nine years, Subhadda,
I went forth a seeker of what is good,
More than fifty years ago,
Wherefore I am truly gone forth, Subhadda.
SC 571Existing in the realm of the right Teaching
Outside of this there is no true ascetic,
SC 572a second true ascetic is not found, a third true ascetic is not found, a fourth true ascetic is not found. Void are the outside doctrines of these other ascetics, Subhadda, but if monks should live well, the world will not be void of Worthy Ones.”
SC 573After this was said, the wanderer Subhadda said this to the Gracious One: “Excellent, reverend Sir! Excellent, reverend Sir! Just as, reverend Sir, one might set upright what has been overturned, or open up what has been closed, or show a path to one who is lost, or bear an oil lamp in the darkness, so that one who has eyes can see forms, just so has the Teaching been made clear by the Gracious One in more than one way. I go to the Gracious One for refuge, reverend Sir, and to the Teaching, and to the Community of monks. May I receive the going-forth, reverend Sir, in the presence of the Gracious One, may I receive the full ordination.”
SC 574“Those who were formerly of another sect who in this Teaching and Discipline desire the going-forth, who desire full ordination, live on probation for four months, and at the end of four months, the minds of the monks being satisfied, they give the going-forth and the full ordination into the monkhood. But I understand there is a distinction between persons in this case.”
SC 575“If, reverend Sir, those who were formerly of another sect who in this Teaching and Discipline, desire the going-forth, who desire full ordination, live on probation for four months, and at the end of four months, the minds of the monks being satisfied, they give the going-forth and the full ordination into the monkhood, then I will live on probation for four years, and at the end of four years, the minds of the monks being satisfied, they can give the going-forth and the full ordination into the monkhood.”
SC 576Then the Gracious One said this to venerable Ānanda: “Then, Ānanda, give the going-forth to Subhadda.”
SC 577“Very well, reverend Sir,” venerable Ānanda replied to the Gracious One.
SC 578Then the wanderer Subhadda said this to venerable Ānanda: “There are certainly gains for you, friend Ānanda, it is certainly a good gain for you, friend Ānanda, that here, face to face with the Teacher, you have been consecrated with an attendant’s consecration.”
SC 579The wanderer Subhadda received the going forth in the presence of the Gracious One, received full ordination.
SC 580Then not long after ordination, venerable Subhadda, while dwelling solitary, secluded, heedful, ardent, and resolute, after no long time attained that good for which young gentlemen rightly go forth from the house to the houseless life, that unsurpassed conclusion to the spiritual life, and dwelt having known, experienced, and attained it himself in this very life.
SC 581Destroyed is rebirth, accomplished is the spiritual life, done is what ought to be done, there is no more of this mundane state—this he knew.
SC 582And venerable Subhadda became another of the Worthy Ones. He was the last direct disciple of the Gracious One.
The Fifth Chapter for Recital is Finished
The Sixth Chapter for Recitation
40: The Last Instructions of the Realised One
SC 583Then the Gracious One addressed venerable Ānanda, saying: “It may be, Ānanda, that some of you may think in this way: ‘Past is the Teacher’s word, there is now no Teacher for us.’ But it should not be seen like that, Ānanda, whatever Teaching and Discipline has been taught by me or laid down, Ānanda, that is your Teacher after my passing away.
SC 584At present, Ānanda, the monks address each other with the word ‘friend’, but after my passing away they are not to address one another thus. The elder monk, Ānanda, should address the younger monk by his name or by his clan name or by the word ‘friend’. But the younger monk should address the elder monk as reverend Sir or venerable Sir.
SC 585Desiring to do so, Ānanda, the Community after my passing away, can abolish the minor and subsidiary training rules.
SC 586The highest penalty, Ānanda, after my passing away, is to be handed out to the monk Channa.” “But what is the highest penalty, reverend Sir?” “The monk Channa, Ānanda, may say whatever he wishes but he is not to be spoken to or advised or instructed by the monks.”
SC 587Then the Gracious One addressed the monks, saying: “It may be, monks, that for one of the monks there is doubt or confusion about the Buddha, or about the Teaching, or about the Community, or about the Path, or about the practice. Ask, monks, do not be regretful later thinking: ‘The Teacher was face to face with us and we didn’t ask the Gracious One directly about the training.’” After this was said those monks were silent.
SC 588For a second time the Gracious One addressed the monks, saying: “It may be, monks, that for one of the monks there is doubt or confusion about the Buddha, or about the Teaching, or about the Community, or about the Path, or about the practice. Ask, monks, do not be regretful later thinking: ‘The Teacher was face to face with us and we didn’t ask the Gracious One directly about the training.’” For a second time those monks were silent.
SC 589For a third time the Gracious One addressed the monks, saying: “It may be, monks, that for one of the monks there is doubt or confusion about the Buddha, or about the Teaching, or about the Community, or about the Path, or about the practice. Ask, monks, do not be regretful later thinking: ‘The Teacher was face to face with us and we didn’t ask the Gracious One directly about the training.’” For a third time those monks were silent.
SC 590Then the Gracious One addressed the monks, saying: “It may be, monks, that out of respect for the Teacher you do not ask, then one friend, monks, can inform another friend about his doubts.” After this was said those monks were silent.
SC 591Then venerable Ānanda said this to the Gracious One: “It is wonderful, reverend Sir, it is marvellous, reverend Sir, I am confident, reverend Sir, that in this Community of monks there is not one of the monks in this Community of monks who has doubt or confusion about the Buddha, or about the Teaching, or about the Community, or about the Path, or about the practice.”
SC 592“Out of confidence, Ānanda, you speak, but the Realised One, Ānanda, has knowledge that there is not one of the monks in this Community of monks who has doubt or confusion about the Buddha, or about the Teaching, or about the Community, or about the Path, or about the practice. For amongst these five hundred monks, Ānanda, he who is the last monk, is a Stream-Enterer, no longer subject to falling into the lower realms, and has a fixed destiny ending in Final Awakening.”
SC 593Then the Gracious One addressed the monks, saying: “Come now, monks, for I tell you all conditioned things are subject to decay, strive on with heedfulness!” These were the last words of the Realised One.
41: The Final Emancipation
SC 594Then the Gracious One attained the first absorption, and after emerging from the first absorption he attained the second absorption, and after emerging from the second absorption he attained the third absorption, and after emerging from the third absorption he attained the fourth absorption, and after emerging from the fourth absorption he attained the sphere of endless space, and after emerging from the sphere of endless space he attained the sphere of endless consciousness, and after emerging from the sphere of endless consciousness he attained the sphere of nothingness, and after emerging from the sphere of nothingness, he attained the sphere of neither-perception-nor-non-perception, and after emerging from the sphere of neither-perception-nor-non-perception, he attained the cessation of perception and feeling.
SC 595Then venerable Ānanda said this to venerable Anuruddha: “Has the Gracious One, reverend Anuruddha, attained Final Emancipation?”
SC 596“The Gracious One, reverend Ānanda, has not attained Final Emancipation, he has attained the cessation of perception and feeling.”
SC 597Then the Gracious One, after emerging from the cessation of perception and feeling, attained the sphere of neither-perception-nor-non-perception, and after emerging from the sphere of neither-perception-nor-non-perception he attained the sphere of nothingness, and after emerging from the sphere of nothingness he attained the sphere of endless consciousness, and after emerging from the sphere of endless consciousness he attained the sphere of endless space, and after emerging from the sphere of endless space he attained the fourth absorption, and after emerging from the fourth absorption he attained the third absorption, and after emerging from the third absorption he attained the second absorption, and after emerging from the second absorption he attained the first absorption, and after emerging from the first absorption he attained the second absorption, and after emerging from the second absorption he attained the third absorption, and after emerging from the third absorption he attained the fourth absorption, and after emerging from the fourth absorption, immediately the Gracious One attained Final Emancipation.
SC 598When the Gracious One attained Final Emancipation along with the Emancipation, there was a great earthquake, and an awful, horrifying crash of the Divinities’ thunder drum.
SC 599When the Gracious One attained Final Emancipation along with the Emancipation, Brahmā Sahampati spoke this verse:
SC 600“All beings in the world will surely lay aside the body,
In the same way the Teacher, Such-like, unmatched in the world,
SC 601the Realised One, attained to the ten strengths, the Sambuddha, has attained Final Emancipation.”
SC 602When the Gracious One attained Final Emancipation along with the Emancipation, Sakka, the Lord of the Divinities, spoke this verse:
SC 603“Impermanent, indeed, are all processes, arisen they have the nature to decay,
After arising they come to cessation, the stilling of them is blissful.”
SC 604When the Gracious One attained Final Emancipation along with the Emancipation, venerable Anuruddha spoke these verses:
SC 605“There is no more breathing for that Such-like one of steady mind,
Freed from lust, the Sage who has died, has entered the peace of Nibbāna.
SC 606With an unshaken heart, he endured the painful feelings,
Like a flame when it goes out so his mind was liberated in Nibbāna.”
SC 607When the Gracious One attained Final Emancipation along with the Emancipation, venerable Ānanda spoke this verse:
SC 608“With that there was fear, with that there was horror,
When the Sambuddha, endowed with all noble qualities, attained Emancipation.”
SC 609When the Gracious One attained Final Emancipation those monks there who were not free from passion, throwing up their arms, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, were crying: ‘Too quickly the Gracious One has attained Final Emancipation, too quickly the Fortunate One has attained Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world has disappeared!’ But those monks who were free from passion, mindfully, with full awareness, endured, thinking: “Impermanent are all processes, how can it be otherwise?”
SC 610Then venerable Anuruddha said this to the monks: “Enough, friends, do not grieve, do not lament, were you not warned by the Gracious One when he declared: ‘There is alteration in, separation from, and changeability in all that is dear and appealing.’ How can it be otherwise, friends, for that which is obtained, born, become, in process, subject to dissolution? It is not possible to say this: ‘It should not dissolve’. The Divinities, friends, are complaining.”
SC 611“But what beings and Divinities is the venerable Anuruddha thinking of?”
SC 612“There are, friend Ānanda, Divinities in the sky, perceiving the Earth, who, having dishevelled hair, are weeping, throwing up their arms, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, crying: ‘Too quickly the Gracious One has attained Final Emancipation, too quickly the Fortunate One has attained Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world has disappeared!’
SC 613There are, friend Ānanda, Divinities on the Earth, perceiving the Earth, who, having dishevelled hair, are weeping, throwing up their arms, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, crying: ‘Too quickly the Gracious One has attained Final Emancipation, too quickly the Fortunate One has attained Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world has disappeared!’
SC 614But those Divinities, who have cut off passion, they mindfully, with full awareness, endure, thinking: ‘Impermanent are all processes, how can it be otherwise?’”
42: The Preparation of the Body
SC 615Then venerable Anuruddha and venerable Ānanda spent the rest of the night in talk about the Teaching. Then venerable Anuruddha addressed venerable Ānanda, saying: “Go, Ānanda, and after entering Kusinārā inform the Mallas of Kusinārā, saying: ‘The Gracious One has attained Emancipation, Vāseṭṭhas, now is the time for whatever you are thinking.’”
SC 616“Very well, reverend Sir,” said venerable Ānanda, and after replying to venerable Anuruddha, dressing in the morning time, and taking his robes and bowl, he entered Kusinārā with a companion.
SC 617Now at that time the Mallas from Kusinārā were assembled in the Council Hall having some business or other. Then venerable Ānanda approached the Mallas from Kusinārā in the Council Hall, and after approaching he informed the Mallas of Kusinārā saying: “The Gracious One has attained Emancipation, Vāseṭṭhas, now is the time for whatever you are thinking.”
SC 618After hearing this word from venerable Ānanda, the Mallas, the sons of the Mallas, the daughters-in-law of the Mallas, and the wives of the Mallas became miserable, depressed, with their minds given over to suffering. Some, having dishevelled hair, were weeping, throwing up their arms, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, they were crying: “Too quickly the Gracious One has attained Final Emancipation, too quickly the Fortunate One has attained Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world has disappeared!”
SC 619Then the Mallas from Kusinārā ordered their men, saying: “Now, friends, gather together perfume and flowers, and all the musicians in Kusinārā.”
SC 620Then the Mallas of Kusinārā, having taken perfumes and garlands, and all the musicians, and five-hundred pairs of clothes, approached the Mallas’ Sal Wood at Upavattana, and the Gracious One’s body, after approaching the Gracious One’s body, through honouring, respecting, revering, and worshipping the body, with dance, song, music, garlands, and perfumes, and making cloth canopies, and preparing circular pavillions, they made the day pass.
SC 621Then this occurred to the Mallas of Kusinārā: “Today it is too late to burn the Gracious One’s body, tomorrow we will burn the Gracious One’s body.”
SC 622Then the Mallas of Kusinārā, through honouring, respecting, revering, and worshipping the Gracious One’s body, with dance, song, music, garlands, and perfumes, and making cloth canopies, and preparing circular pavillions, they made the second day pass, they made the third day pass, they made the fourth day pass, they made the fifth day pass, they made the sixth day pass.
SC 623Then on the seventh day this occurred to the Mallas of Kusinārā: “While honouring, respecting, revering, and worshipping the Gracious One’s body, with dance, song, music, garlands, and perfumes, after taking it out of the city by the South, on the outside of the City to the South we will burn the Gracious One’s body.”
SC 624Now at that time eight leaders of the Mallas, having washed their heads and put on clean clothes, said: “Let us lift the Gracious One’s body,” but they were not able to lift it.
SC 625Then the Mallas of Kusinārā said this to venerable Anuruddha: “What is the reason, Anuruddha, what is the cause why eight leaders of the Mallas, having washed their heads and put on clean clothes, and saying: ‘Let us lift the Gracious One’s body,’ are not able to lift it?”
SC 626“You Vāseṭṭhas have one intention, and the Divinities have another intention.”
SC 627“But what is the Divinities’ intention, reverend Sir?”
SC 628“Your intention, Vāseṭṭhas, is: ‘We, while honouring, respecting, revering, and worshipping the Gracious One’s body, with dance, song, music, garlands, and perfumes, after taking it out of the City by the South, on the outside of the City to the South, will burn the Gracious One’s body.’
SC 629The Divinities’ intention, Vāseṭṭhas, is: ‘We, while honouring, respecting, revering, and worshipping the Gracious One’s body, with the Divinities’ dance, song, music, garlands, and perfumes, after carrying it to the North of the City by the North, and re-entering the City by the North Gate, and carrying it to the middle of the City by the middle, and going out by the Eastern Gate, to the East of the City, at the Mallas’ Shrine called the Bonded Coronet, there let us burn the Gracious One’s body.”
SC 630“Let us do according to the Divinities’ intention, reverend Sir.”
SC 631Now at that time the whole of Kusinārā, including the dirty rubbish heaps, was covered knee-deep with Divine Coral Tree flowers. Then the Divinities and the Mallas of Kusinārā while honouring, respecting, revering, and worshipping the Gracious One’s body with the Divinities’ and mens’ dance, song, music, garlands, and perfumes, after carrying it to the North of the City by the North, and re-entering the City by the North Gate, and carrying it to the middle of the City by the middle, and going out by the Eastern Gate, to the East of the City, at the Mallas’ Shrine called the Bonded Coronet there set down the Gracious One’s body.
SC 632Then the Mallas of Kusinārā said this to venerable Ānanda: “How do we act, reverend Ānanda, in regard to the Realised One’s body?”
SC 633“As you act, Vāseṭṭhas, in regard to the Universal Monarch’s body, so you should act in regard to the Realised One’s body.”
SC 634“But how do we act, reverend Ānanda, in regard to the Universal Monarch’s body?”
SC 635“They wrap the Universal Monarch’s body, Vāseṭṭhas, with clean cloth, and after wrapping with clean cloth, they wrap with carded cotton, and after wrapping with carded cotton, they wrap with clean cloth, by this means after wrapping the Universal Monarch’s body with five-hundred pairs of cloth and cotton, enclosing it in an oil tub made of iron, and enclosing it in another iron tub, and putting it on a scented funeral pyre, they burn the Universal Monarch’s body, and they build a Shrine for the Universal Monarch at the crossroads.
SC 636So they act, Vāseṭṭhas, in regard to a Universal Monarch’s body. Just as they act, Vāseṭṭhas, in regard to a Universal Monarch’s body, so should they act in regard to a Realised One’s body, and a Shrine should be made for the Realised One at the crossroads. Whoever there prepares flowers, incense, or powder, or worships or establishes confidence in his mind, that will be for their benefit and happiness for a long time.”
SC 637Then the Mallas of Kusinārā gave orders to their men, saying: “If it is so then wrap the body with the Mallas’ carded cloth, friends.”
SC 638Then the Mallas of Kusinārā wrapped the Gracious One’s body with clean cloth, and after wrapping with clean cloth, they wrapped with carded cotton, and after wrapping with carded cotton, they wrapped with clean cloth, and by this means, after wrapping the Gracious One’s body with five-hundred pairs of cloth and cotton, enclosing it in an oil tub made of iron, and enclosing it in another iron tub, and putting it on a scented funeral pyre, they put the Gracious One’s body on the funeral pyre.
43: The Story concerning Mahākassapa
SC 639Now at that time venerable Mahākassapa was travelling along the highway from Pāvā to Kusinārā, together with a great Community of monks, around five-hundred monks. Then venerable Mahākassapa, after descending from the path, sat down at the root of a certain tree.
SC 640Now at that time a certain Ājīvaka while holding a Mandārava flower from Kusinārā was travelling along the highway to Pāvā.
SC 641Venerable Mahākassapa saw that Ājīvaka approaching from afar, and after seeing him, he said this to that Ājīvaka: “Do you know our Teacher, friend?”
SC 642“Certainly, friend, I know. Today is seven days since the Final Emancipation of the ascetic Gotama, therefore I am holding this Mandārava flower.”
SC 643Then those monks there who were not free from passion, some, throwing up their arms, were weeping, falling down as though cut down, rolling backwards and forwards as though with their feet cut off, they were crying: ‘Too quickly the Gracious One has attained Final Emancipation, too quickly the Fortunate One has attained Final Emancipation, too quickly the Visionary in the world has disappeared!’
SC 644But those monks who were free from passion, mindfully, with full awareness, endured, thinking: “Impermanent are all processes, how can it be otherwise?”
SC 645Now at that time one who had gone forth in old age, named Subhadda was sitting in that group. Then Subhadda, who had gone forth in old age, said this to those monks: “Enough, friends, do not grieve, do not lament, we are now freed from that troublesome Great Ascetic, saying: ‘This is allowable for you, this is not allowable for you.’ But now we will do whatever we wish, and we will not do whatever we do not wish.”
SC 646Then venerable Mahākassapa addressed the monks, saying: “Enough, friends, do not grieve, do not lament, were you not warned by the Gracious One, friends, when he declared this: ‘There is alteration in, separation from, and changeability in all that is dear and appealing.’ How can it be otherwise, friends, for that which is obtained, born, become, in process, subject to dissolution? It is not possible to say this: ‘It should not dissolve’.
SC 647Now at that time four leaders of the Mallas, having washed their heads and put on clean clothes, said: “Let us burn the Gracious One’s funeral pyre,” but they were not able to burn it. Then the Mallas of Kusinārā said this to venerable Anuruddha: “What is the reason, venerable Anuruddha, what is the cause, why four leaders of the Mallas, having washed their heads and put on clean clothes, and saying: ‘Let us burn the Gracious One’s funeral pyre,’ are not able to burn it?”
SC 648“The Divinities have another intention, Vāseṭṭhas.”
SC 649“But what is the Divinities’ intention, reverend Sir?”
SC 650“The Divinities’ intention, Vāseṭṭhas, is: ‘The venerable Mahākassapa is travelling along the highway from Pāvā to Kusinārā together with a great Community of monks, around five-hundred monks, the Gracious One’s funeral pyre will not burn while venerable Mahākassapa has not worshipped the Gracious One’s feet with his head.’”
SC 651“Let us do according to the Divinities’ intention, reverend Sir.”
SC 652Then venerable Mahākassapa approached Kusinārā, and the Mallas’ Shrine called the Bonded Coronet, and the Gracious One’s funeral pyre, and after approaching and arranging his robe on one shoulder, extending his hands in respectful salutation, and circumambulating the funeral pyre three times, and uncovering the feet he worshipped the Gracious One’s feet with his head.
SC 653Also five-hundred monks, after arranging their robes on one shoulder, extending their hands in respectful salutation, and circumambulating the funeral pyre three times, worshipped the Gracious One’s feet with their heads. After the Gracious One’s feet had been worshipped by venerable Mahākassapa and by five-hundred monks the funeral pyre caught fire by itself.
SC 654Now while the Gracious One’s body was burning, of the outer skin, the inner skin, the flesh, the sinews, the synovial fluid, neither charcoal was evident, nor was ash of the body left over. Just as while ghee or oil is burning there is no charcoal and no ash evident, so when the Gracious One’s body was burning, of the outer skin, the inner skin, the flesh, the sinews, the synovial fluid, neither charcoal was evident, nor was ash of the body left over. Only two of those five-hundred pairs of clothes were not consumed, that on the inside and that on the outside.
SC 655When the Gracious One’s body was burnt a shower of water appeared in the sky, and the Gracious One’s funeral pyre was extinguished. Also after water rose from a well, the Gracious One’s funeral pyre was extinguished. Also the Mallas from Kusinārā extinguished the Gracious One’s funeral pyre with all types of fragrant water.
SC 656Then the Mallas of Kusinārā, after making an enclosure of spears in the Council Hall, and surrounding the Gracious One’s bodily relics with bows, honoured, respected, revered, and worshipped it with dance, song, music, garlands, and perfumes.
44: The Distribution of the Relics
SC 657The Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was a Noble, and I also am a Noble, I am worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, I will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 658Then the Licchavīs of Vesālī heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the Licchavīs of Vesālī sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was a Noble, and we also are Nobles, we are worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, we will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 659Then the Sakyas of Kapilavatthu heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the Sakyas of Kapilavatthu sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was our foremost relative, we are worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, we will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 660Then the Bulas of Allakappa heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the Bulas of Allakappa sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was a Noble, and we also are Nobles, we are worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, we will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 661Then the Koliyas of Rāmagāma heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the Koliyas of Rāmagāma sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was a Noble, and we also are Nobles, we are worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, we will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 662Then the brahmin Veṭhadīpaka heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the brahmin Veṭhadīpaka sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was a Noble, and I am a brahmin, I am worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, I will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 663Then the Mallas of Pāvā heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the Mallas of Pāvā sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was a Noble, and we also are Nobles, we are worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, we will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 664After this was said, the Mallas of Kusinārā said this to their community and group: “The Gracious One has attained Final Emancipation in the area of our village, but we will not see a share of the Gracious One’s bodily relics.”
SC 665After this was said, the brahmin Doṇa said this to their community and group:
SC 666“Listen, dear Sirs, to a sentence of mine:
Our Buddha was one who spoke about forebearance
It is not good that there should be a battle
About sharing the relics of the Best Man.
SC 667Let us united, in concord, dear Sirs,
With joyful minds, make eight shares of the relics,
And set up Shrines in every direction
So that many people may gain faith in the Visionary One.”
SC 668“Now, brahmin, you must divide the Gracious One’s bodily relics in eight equal divisions.”
SC 669“Certainly, dear Sir,” said Doṇa the brahmin, after replying to that community and group, and dividing the Gracious One’s bodily relics in eight equal divisions, he said this to that community and group: “Please give me this urn, dear Sirs, and I also will make a Shrine and hold a festival for the urn.” They gave the urn to Doṇa the brahmin.
SC 670Then the Moriyā of Pepper Wood heard: “The Gracious One, it seems, has attained Final Emancipation in Kusinārā.” Then the Moriyā of Pepper Wood sent a message to the Mallas of Kusinārā, saying: “The Gracious One was a Noble, and we also are Nobles, we are worthy of a share of the Gracious One’s bodily relics, we will make a Shrine and hold a festival for the bodily relics.”
SC 671“There are no more portions of the Gracious One’s relics, instead take the ashes from the Gracious One’s body.” Therefore they took away the ashes.
SC 672Then the Magadhan King Ajātasattu, the son of Lady Wisdom, made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Rājagaha and held a festival.
SC 673The Licchavīs from Vesālī made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Vesālī and held a festival.
SC 674The Sakyas from Kapilavatthu made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Kapilavatthu and held a festival.
SC 675The Bulas of Allakappa made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Allakappa and held a festival.
SC 676The Koliyas of Rāmagāma made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Rāmagāma and held a festival.
SC 677The Veṭhadīpaka brahmin made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Veṭṭhadīpa and held a festival.
SC 678The Mallas of Pāvā made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Pāvā and held a festival.
SC 679The Mallas of Kusinārā made a Shrine for the Gracious One’s bodily relics at Kusinārā and held a festival.
SC 680Doṇa the brahmin made a Shrine for the urn and held a festival.
SC 681The Moriyās of Pepper Wood made a Shrine for the ashes at Pepper Wood and held a festival.
SC 682Thus there were eight Shrines for the bodily relics, the Urn Shrine was the ninth, and the Ashes Shrine was the tenth, and so it was in former times.
SC 683There were eight measures of the Visionary’s relics,
Seven measures are honoured in Jambudīpa,
One measure of the most Noble Man,
The King of the Dragons honours in Rāmagāma.
SC 684One tooth is worshipped in the Heavens,
And one is honoured in the city of Gandhāra,
A further one in the realm of the Kaliṅga King,
And the King of the Dragons honours one more.
SC 685Through the power of these relics this Lovely Earth
Is decorated like a most excellent hall.
Thus this body of the Visionary One,
Is well esteemed by those who respect the respectable.
SC 686Honoured by Lords of Divinities, Lords of Dragons, and Kings,
The relics are honoured by true Lords of Men,
Worship those relics after holding up your hands,
A Buddha is rare even in a hundred aeons.
SC 687Altogether forty even teeth, the hair, and body hair relics were
Carried off successively by the Divinities to the various Universes.
SC 688The Discourse about the Great Emancipation,
The Third in the Mahāvagga section of the Long Discourses is Finished.
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajātasattu Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà), muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.
SC 2PTS cs 2~2 Rồi Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn Vassakāra (Vũ-xá), đại thần nước Magadha
SC 3—Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh; ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.
- Ðại vương, xin vâng!
SC 4PTS cs 3~3 Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Rājagaha (Vương Xá), đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha, bạch Thế Tôn
SC 5—Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vọng”.
SC 6PTS cs 4~4 Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đứng quạt sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 7—Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?
SC 8- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo.
SC 9- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?
SC 10- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết.
SC 11- Này Ānanda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này Ānanda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?
SC 12- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa.
SC 13- Này Ānanda khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này không?
SC 14- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này.
SC 15- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?
SC 16- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.
SC 17- Này Ānanda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?
SC 18- Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.
SC 19- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ānanda, Ngươi có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?
SC 20- Bạch Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.
SC 21- Này Ānanda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ānanda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 22PTS cs 5~5 Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha
SC 23—Này Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesālī tại tự miếu Sārandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này, thời Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 24Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakāra, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn
SC 25—Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối. Tôn giả Gotama, Ajātasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
SC 26- Này Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.
SC 27Bà-la-môn Vassakāra, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ, tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
SC 28PTS cs 6~6 Khi Bà-la-môn Vassakāra đi chưa bao lâu, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 29—Này Ānanda, hãy đi và tập họp tại giảng đường tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Rājagaha (Vương Xá).
SC 30- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 31Tôn giả Ānanda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập họp tất cả những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn
SC 32—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
SC 33Rồi Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường, ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các vị Tỷ-kheo
SC 34—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
SC 35- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 36Những vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau
SC 37—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 38Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 39Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 40Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 41Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 42Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 43Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 44Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 45PTS cs 7~7 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 46- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 47Những vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:
SC 48Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 49Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 50Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 51Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 52Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 53Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 54Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 55Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 56PTS cs 8~8 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 57- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 58Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 59—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 60Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 61PTS cs 9~9 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 62- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 63Chư Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói
SC 64—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 65Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 66PTS cs 10~10 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
SC 67- Xin vâng bạch Thế Tôn!
SC 68Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 69—Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 70Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 71PTS cs 11~11 Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
SC 72- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 73Những vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói
SC 74—Này các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 75Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn giữ khẩu nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 76Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn giữ ý nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 77Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân phối không thiên vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu, mọi lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ lãnh trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 78Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết, không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát, được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 79Này các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau cho những ai thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 80Này các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
SC 81PTS cs 12~12 Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh Thứu, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu”.
SC 82PTS cs 13~13 Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài gọi tôn giả Ānanda
SC 83—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.
SC 84- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 85Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.
SC 86PTS cs 14~14 Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ mát của vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
SC 87- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 88PTS cs 15~15 Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi Ngài bảo tôn giả Ānanda
SC 89—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.
SC 90- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 91Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở Pavārikambavana (Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).
SC 92PTS cs 16~16 Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn
SC 93—Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.
SC 94- Này Sāriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: “Con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”. Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 95- Này Sāriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã biết tâm những vị này với tâm của Ngươi: “Những Thế Tôn này ở tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 96- Này Sāriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm của Ngươi. “Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy”?
- Bạch Thế Tôn, không!
SC 97- Này Sāriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Như vậy, này Sāriputta, vì sao Ngươi lại thốt ra những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng rống con sư tử: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác”?
SC 98PTS cs 17~17 - Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối với các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại. Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa ra vào. Tại đây có một người gác cửa thông minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho vào các người lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy có thể không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho đến chỗ một con mèo có thể lọt ra được, nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn vào hay ra thành trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
SC 99PTS cs 18~18 Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng Pavārikamba, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
SC 100- Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 101PTS cs 19~19 Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi gọi tôn giả Ānanda
SC 102—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Pātaligāma.
SC 103- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 104Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pātaligāma.
SC 105PTS cs 20~20 Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pātaligāma được nghe Thế Tôn đã đến làng Pātaligāma. Các cư sĩ ở Pātaligāma đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các cư sĩ ở Pātaligāma bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của chúng con”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 106PTS cs 21~21 Các cư sĩ ở Pātaligāma được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi, đặt ghè nước, chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các cư sĩ ở Pātaligāma bạch Thế Tôn
SC 107—Bạch Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được rải cát, các chỗ ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là phải thời.
SC 108PTS cs 22~22 Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân bước vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường ở giữa, mặt hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước vào nhà ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường phía Ðông, hướng mặt phía Tây, đối diện Thế Tôn.
SC 109PTS cs 23~23 Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pātaligāma
SC 110—Này các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế nào là năm?
SC 111Ở đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 112Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 113Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 114Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 115Lại nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 116Này các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
SC 117PTS cs 24~24 Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới, sống theo giới luật. Thế nào là năm?
SC 118Ở đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 119Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 120Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 121Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 122Lại nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú, thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
SC 123PTS cs 25~25 Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở Pātaligāma cho đến khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi bảo các cư sĩ ấy
SC 124—Này các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy làm những gì các Ngươi nghĩ là phải thời.
SC 125- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 126Các người cư sĩ của Pātaligāma vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pātaligāma đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.
SC 127PTS cs 26~26 Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa ở Pātaligāma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.
SC 128PTS cs 27~27 Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pātaligāma, Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả Ānanda
SC 129—Này Ānanda, ai đang xây dựng thành trì ở Pātaligāma?
SC 130- Sunidha và Vassakāra, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha, đang xây dựng thành trì ở Pātaligāma để ngăn chận dân Vajjì.
SC 131PTS cs 28~28 Này Ānanda, thật giống như đã hỏi ý kiến các vị thiên thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha và Vassakāra đang xây thành trì ở Pātaligāma để ngăn chận dân Vajjì. Này Ānanda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân Ta thấy hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pātaligāma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần có đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này Ānanda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc nhất tên gọi là Pātaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng này Ānanda, Pātaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất hòa.
SC 132PTS cs 29~29 Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần nước Magadha, đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra bạch Thế Tôn: “Mong Thế Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm nay cùng với đại chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 133PTS cs 30~30 Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, rồi cử người đến tin Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 134Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakāra tự tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát, Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế thấp khác và ngồi xuống một bên.
SC 135PTS cs 31~31 Sau khi Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đã ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:
SC 136Tại chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ.
Hãy nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.
SC 137Và san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy.
Ðược tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.
Ðược trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.
SC 138Chúng sẽ mến thương người ấy như người mẹ thương mến con.
Và những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy may mắn.
SC 139Sau khi Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và ra về.
SC 140PTS cs 32~32 Sunidha và Vassakāra, hai vị đại thần xứ Magadha đi sau lưng Thế Tôn và nói
:
SC 141 “Hôm nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ được đặt tên là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến ấy sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được đặt tên là cửa Gotama”.
SC 142PTS cs 33~33 Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ, sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.
SC 143PTS cs 34~34 Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền, người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:
SC 144“Những ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm ao, trong khi người phàm phu đang cột bè.
Những người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát”
Tụng phẩm II
SC 145PTS cs 1~35 Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kotigāma”
SC 146: “Xin vâng, bạch Thế Tôn”. Tôn giả Ānanda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigāma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Kotigāma.
SC 147PTS cs 2~36 Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo
SC 148—Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
SC 149Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 150Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 151Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm, Ta và các Ngươi.
SC 152Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
SC 153Ta và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
SC 154PTS cs 3~37 Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm
SC 155—Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.
SC 156PTS cs 4~38 Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigāma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 157—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 158PTS cs 5~39 Thế Tôn, sau khi ở Kotigāma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 159—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Nādika.
SC 160- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 161Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến. Nādika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).
SC 162PTS cs 6~40 Rồi Tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 163—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Sālada mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Tỷ-kheo ni Nandà mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta mệnh chung tại Nādika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung tại Nādika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Nikāya … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kaṭissabha … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Tuṭṭḥa … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Santuṭṭha … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Bhadda … Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh chung tại Nādika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào?
SC 164PTS cs 7~41 Này Ānanda, Tỷ-kheo Sātha diệt tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay hiện tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ānanda, Tỷ-kheo ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt lai sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ānanda, nữ cư sĩ Sujāta diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác. Này Ānanda, cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, cư sĩ Kalinga … Này Ānanda, cư sĩ Nikāya … Này Ānanda, cư sĩ Kaṭissabha … Này Ānanda, cư sĩ Tuṭṭḥa … Này Ānanda, cư sĩ Santuṭṭha … Này Ānanda, cư sĩ Bhadda … Này Ānanda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, hơn năm mươi cư sĩ mệnh chung tại Nāgita, đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ānanda, hơn chín mươi chín nam nữ cư sĩ mệnh chung tại Nādika, diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng quả Nhứt lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ānanda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nādika, diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác.
SC 165PTS cs 8~42 Này Ānanda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ānanda, như vậy làm phiền nhiễu Như Lai. Này Ānanda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương chánh pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.
SC 166PTS cs 9~43 Này Ānanda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”. Này Ānanda, vị Thánh đệ tử có chánh tín đối với đức Phật: “Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu”. Vị ấy có chánh tín đối với chúng Tăng: “Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời sau, hướng dẫn đến thiền định”.
SC 167Này Ānanda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau: “Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác”.
SC 168PTS cs 10~44 Khi Thế Tôn ở Nādika, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 169—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 170PTS cs 11~45 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nādika cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 171—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Vesālī.
SC 172- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 173Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn trú tại vườn Ambapāli.
SC 174PTS cs 12~46 Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo
SC 175—Này các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
SC 176Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời, đối với các cảm thọ … đối với tâm … đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là chánh niệm.
SC 177PTS cs 13~47 Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác khi mang áo sanghati (tăng-già-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải sống an trú chánh niệm, tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
SC 178PTS cs 14~48 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli được nghe: “Thế Tôn đã đến Vesālī và ở tại vườn xoài của ta”. Dâm nữ Ambapāli liền cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng với các cỗ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesālī và đi đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapāli đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 179Dâm nữ Ambapāli sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn
SC 180—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
SC 181Thế Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapāli được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.
SC 182PTS cs 15~49 Các người Licchavi ở Vesālī được nghe: “Thế Tôn đến Vesālī hiện ở vườn Ambapāli”, liền cho thắng các cỗ xe thù thắng leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesālī với những cỗ xe ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang sức màu vàng. Có những vị Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ, mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có những vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng, mang đồ trang sức màu trắng.
SC 183PTS cs 16~50 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm nữ Ambapāli
SC 184—Này Ambapāli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với các thanh niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe?
SC 185- Này quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời Thế Tôn cùng chúng Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.
SC 186- Này Ambapāli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một trăm ngàn.
SC 187- Dầu quý Công tử có cho tôi cả thành Vesālī cùng với các đất phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.
SC 188Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói
SC 189—Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phỗng tay trên. Và các vị Licchavi này cùng đi đến vườn Ambapāli.
SC 190PTS cs 17~51 Thế Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống như chúng Tam thập tam thiên”.
SC 191PTS cs 18~52 Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên, giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 192Các vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch Thế Tôn
SC 193—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của chúng con với chúng Tỷ-kheo.
SC 194- Này các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng cơm của dâm nữ Ambapāli rồi.
SC 195Các vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: “Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ xoài này phỗng tay trên … ”
SC 196Rồi những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về đức Phật và từ biệt.
SC 197PTS cs 19~53 Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapāli, đêm vừa tàn canh, liền cho sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”. Thế Tôn buổi sáng đắp y, đem theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá của dâm nữ Ambapāli, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapāli tự tay thân hành mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, dùng các món ăn thượng vị loại cứng và loại mềm.
SC 198Khi Thế Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ Ambapāli lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, dâm nữ Ambapāli bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ”.
SC 199Thế Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ Ambapāli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, rồi đứng dậy ra về.
SC 200PTS cs 20~54 Trong thời gian Thế Tôn ở Vesālī, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 201—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 202PTS cs 21~55 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesālī cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 203—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.
SC 204- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 205Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú tại làng này.
SC 206PTS cs 22~56 Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 207—Này các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh Vesālī tại chỗ có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở đây, tại làng Baluvà.
SC 208- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 209Những Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung quanh Vesālī tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín. Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.
SC 210PTS cs 23~57 Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy, không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: “Thật không hợp lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng căn và tiếp tục sống”. Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp phục bệnh ấy duy trì mạng căn.
SC 211PTS cs 24~58 Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn, trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 212—Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
SC 213PTS cs 25~59 Này Ānanda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ānanda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ānanda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ānanda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ānanda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ānanda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời này Ānanda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo? Này Ānanda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ānanda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ānanda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
SC 214PTS cs 26~60 Vậy nên, này Ānanda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ānanda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
SC 215Này Ānanda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ … đối với tâm … đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ānanda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
SC 216Này Ānanda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ānanda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Tụng phẩm III
SC 217PTS cs 1~61 Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trên đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ānanda
SC 218—Này Ānanda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến điện thờ Cāpāla, để nghỉ trưa.
SC 219- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 220Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau lưng Thế Tôn.
SC 221PTS cs 2~62 Thế Tôn đi đến điện thờ Cāpāla, khi đến Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ānanda đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda đang ngồi một bên
SC 222—Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay điện thờ Cāpāla.
SC 223PTS cs 3~63 Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
SC 224PTS cs 4~64 Nhưng Tôn giả Ānanda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám ảnh.
SC 225PTS cs 5~65 Lần thứ hai Thế Tôn … lần thứ ba Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 226—Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka, khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay điện thờ Capala!” Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
SC 227Nhưng tôn giả Ānanda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Vì tâm của tôn giả bị Ác ma ám ảnh.
SC 228PTS cs 6~66 Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 229—Này Ānanda hãy đi và làm những gì Ngươi nghĩ là phải thời.
SC 230- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 231Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.
SC 232PTS cs 7~67 Tôn giả Ānanda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Thế Tôn.
SC 233- Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”.
SC 234PTS cs 8~68 Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn, đã trở thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!
SC 235Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật … khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy đủ Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, và có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 236Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá chánh pháp một cách thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 237Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 238PTS cs 9~69 Khi được nói vậy, Thế Tôn nói với Ác ma: “Này Ác ma hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 239PTS cs 10~70 Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa). Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:
SC 240Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như tháo áo giáp đang mang mặc.
SC 241PTS cs 11~71 Lúc bấy giờ, tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Thật là kỳ diệu! Thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?”.
SC 242PTS cs 12~72 Rồi tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 243—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?
SC 244PTS cs 13~73 - Này Ānanda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này Ānanda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này Ānanda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa chấn động.
SC 245PTS cs 14~74 Lại nữa này Ānanda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.
SC 246PTS cs 15~75 Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita (Ðâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.
SC 247PTS cs 16~76 Lại nữa, này Ānanda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ tư khiến đại địa chấn động.
SC 248PTS cs 17~77 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến đại địa chấn động.
SC 249PTS cs 18~78 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn động.
SC 250PTS cs 19~79 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy, duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
SC 251PTS cs 20~80 Lại nữa, này Ānanda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa chấn động. Này Ānanda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa chấn động.
SC 252PTS cs 21~81 Này Ānanda, có tám chúng. Thế nào là tám? Chúng Sát-đế-Lỵ, chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Bốn Thiên vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên.
SC 253PTS cs 22~82 Này Ānanda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát -đế-lỵ hơn một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung sắc của chúng Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta cũng như vậy; giọng nói chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng như vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Ngươi chăng?”.
SC 254PTS cs 23~83 Này Ānanda. Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Bà-la-môn hơn một trăm lần … chúng Cư sĩ … chúng Sa-môn … chúng Bốn Thiên vương … chúng Tam thập tam thiên … chúng Ma … chúng Phạm thiên hơn trăm lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói chuyện và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc của chúng Phạm thiên như thế nào, dung sắc của Ta cũng vậy; giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không biết: “Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết: “Kẻ biến mất đó là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?” Này Ānanda, như vậy là tám chúng.
SC 255PTS cs 24~84 Này Ānanda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?
SC 256PTS cs 25~85 Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc, có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ nhất.
SC 257PTS cs 26~86 Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ hai.
SC 258PTS cs 27~87 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ ba.
SC 259PTS cs 28~88 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tư.
SC 260PTS cs 29~89 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh—như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ năm.
SC 261PTS cs 30~90 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như bông Kaṇikāra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu vàng, tướng sắc vàng hình sắc vàng—như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ sáu.
SC 262PTS cs 31~91 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ bảy.
SC 263PTS cs 32~92 Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng—như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận thức rằng: “Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy”, đó là thắng xứ thứ tám. Này Ānanda như vậy là tám thắng xứ.
SC 264PTS cs 33~93 Này Ānanda, tám giải thoát. Thế nào là tám?
SC 265Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.
SC 266Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.
SC 267Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là sự giải thoát thứ ba.
SC 268Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư “hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ; đó là sự giải thoát thứ tư.
SC 269Vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư “thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát thứ năm.
SC 270Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư “không có vật gì”, chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát thứ sáu.
SC 271Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.
SC 272Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.
SC 273Này Ānanda, như vậy là tám giải thoát.
SC 274PTS cs 34~94 Này Ānanda, một thời Ta ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjara, dưới gốc cây Ajapālanigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ānanda, lúc bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền đứng một bên. Này Ānanda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
SC 275PTS cs 35~95 Này Ānanda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma
:
SC 276 “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của ta chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 277Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 278Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 279Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu.
SC 280Này Ác ma, Ta không diệt độ khi nào phạm hạnh mà Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.
SC 281PTS cs 36~96 Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Ác ma đến Ta, sau khi đến liền đứng một bên. Này Ānanda, Ác ma đứng một bên nói với Ta như sau:
SC 282“Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ. Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: “Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu”. Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo, đã có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
SC 283Bạch Thế Tôn đây là lời Thế Thôn đã nói: “Này Ác ma, ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta …; khi nào những cư sĩ của Ta …; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người”. Bạch Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ”.
SC 284PTS cs 37~97 Khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:
SC 285“Này Ác ma, hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 286Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Như Lai chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa).
SC 287PTS cs 38~98 Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 288—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.
SC 289- Thôi đi, này Ānanda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ānanda, nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.
SC 290PTS cs 39~99 Lần thứ hai, tôn giả Ānanda … Lần thứ ba, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 291—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
SC 292- Này Ānanda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?
SC 293- Bạch Thế Tôn, con có tin!
SC 294- Vậy, này Ānanda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.
SC 295PTS cs 40~100 - Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: “Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc … Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”.
SC 296- Này Ānanda, Ngươi có tin tưởng không?
SC 297- Bạch Thế Tôn, con có tin tưởng!
SC 298- Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 299PTS cs 41~101 Này Ānanda, một thời Ta ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu (Gijjha Kūṭa). Tại đấy Ta nói với ngươi: “Này Ānanda, khả ái thay thành Vương Xá! Khả ái thay núi Linh Thứu! Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.
SC 300PTS cs 42~102 Này Ānanda, một thời Ta ở thành Vương Xá, tại Nigrodhārāma … Ta cũng ở thành Vương Xá tại Corapapāta … Ta cũng ở thành Vương Xá, hang Sattapaṇṇi trên núi Vebhāra … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại hang đá Kāla, trên núi Isigili … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại khu rừng Sīta trong hang đá Sappasoṇḍikā … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại Tapodārāma … Ta cũng ở thành Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka … Ta cũng ở thành Vương Xá, tại rừng Jìvakambavana … Ta cũng ở thành Vương Xá tại Maddakucchi ở Lộc Uyển.
SC 301PTS cs 43~103 Này Ānanda, tại đấy Ta nói: “Này Ānanda, khả ái thay thành Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả ái thay Nigrodhārāma, khả ái thay Corapapāta, khả ái thay hang Sattapaṇṇi trên núi Vebhāra, khả ái thay hang đá Kāla trên núi Isigili, khả ái thay hang đá Sappasoṇḍikā trong rừng Sìta, khả ái thay suối nước nóng Tapodārāma, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả ái thay rừng Jìvakambavana, khả ái thay vườn Nai ở tại Maddakucchi”!
SC 302PTS cs 44~104 “Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi”.
SC 303PTS cs 45~105 Này Ānanda, một thời Ta ở Vesālī tại điện thờ Udena. Tại đấy, này Ānanda, Ta cũng nói. “Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena. Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Như Lai: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 304PTS cs 46~106 Này Ānanda, một thời Ta ở thành Vesālī tại điện thờ Gotamaka … ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Sattambaka … Ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Bahuputta … Ta cũng ở thành Vesālī tại điện thờ Sārandada …
SC 305PTS cs 47~107 Này Ānanda, hôm nay tại điện thờ Cāpāla, Ta nói với ngươi: “Này Ānanda, khả ái thay Vesālī, khả ái thay điện thờ Udena, khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattamba, khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sārandada, khả ái thay đền Cāpāla. Này Ānanda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ānanda, Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ānanda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại”. Dầu vậy, này Ānanda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người”. Này Ānanda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ānanda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
SC 306PTS cs 48~108 Này Ānanda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi, trở về hư không, biến dịch? Này Ānanda, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không có sự trạng ấy. Này Ānanda, những gì Như Lai đã từ bỏ, dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành. Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: “Không lâu, Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ”. Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy.
SC 307Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến giảng đường Kùtagàra tại rừng Ðại Lâm.
SC 308- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 309Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 310PTS cs 49~109 Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ānanda đi đến giảng đường Kùtagàra vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 311—Này Ānanda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo sống ở gần Vesālī tụ họp tại giảng đường này.
SC 312- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 313Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỷ-kheo sống ở gần Vesālī tụ họp tại giảng đường, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 314—Bạch Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
SC 315PTS cs 50~110 Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo
SC 316—Này các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
SC 317PTS cs 51~111 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 318—Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
SC 319Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
SC 320Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình,
Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Tụng phẩm IV
SC 321PTS cs 1~112 Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesālī để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesālī, ăn xong và trên đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesālī với cái nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ānanda
SC 322—Này Ānanda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesālī. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến làng Bhaṇḍagāma.
SC 323- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 324Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhaṇḍagāma. Tại đây, Thế Tôn ở tại Bhaṇḍagāma.
SC 325PTS cs 2~113 Rồi Thế Tôn nói với Tỷ-kheo
SC 326—Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống nào nữa.
SC 327PTS cs 3~114 Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
SC 328Giới, Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng
Gotama danh xưng đã chứng ngộ.
Ðấng Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỷ-kheo.
Ðạo Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.
SC 329PTS cs 4~115 Trong thời gian Thế Tôn ở tại Bhaṇḍagāma, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 330—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 331PTS cs 5~116 Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhaṇḍagāma cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền nói với tôn giả Ānanda
SC 332—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam … Ambagāma … Jambugāma…, hãy đi đến Bhoganagara.
SC 333PTS cs 6~117 - Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 334Tôn giả Ānanda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.
SC 335PTS cs 7~118 Tại đây, Thế Tôn ở Bhoganagara tại đền Ānanda, Ngài nói với các Tỷ-kheo
SC 336—Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 337- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 338Các Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau
SC 339PTS cs 8~119—Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Này Hiền giả, tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 340PTS cs 9~120 Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 341PTS cs 10~121 Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và, này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 342PTS cs 11~122 Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: “Tại trú xứ kia, có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư”. Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm”. Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các ngươi có thể kết luận: “Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh”. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 343Này các Tỷ-kheo, bốn Ðại giáo pháp này, các Ngươi hãy thọ trì.
SC 344PTS cs 12~123 Trong khi Thế Tôn ở tại Bhoganagara, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo
SC 345—Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.
SC 346PTS cs 13~124 Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ānanda
SC 347—Này Ānanda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.
SC 348- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 349Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt.
SC 350PTS cs 14~125 Thợ sắt Cunda nghe: “Nay Thế Tôn đã đến Pàvà và hiện đang ở trong vườn xoài của ta”. Rồi thợ sắt Cunda đến tại chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Và Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
SC 351PTS cs 15~126 Và thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”. Thế Tôn im lặng nhận lời.
SC 352PTS cs 16~127 Thợ sắt Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và từ biệt.
SC 353PTS cs 17~128 Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm và nhiều thứ Sùkara-maddava (một loại mộc nhĩ), và báo tin cho Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 354PTS cs 18~129 Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda
SC 355—Này Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy dọn cho chúng Tỷ-kheo.
SC 356- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 357Thợ sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác, loại cứng và loại mềm.
SC 358PTS cs 19~130 Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda
SC 359—Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
SC 360- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 361Thợ sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 362PTS cs 20~131 Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
SC 363Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 364—Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến Kusināra.
SC 365- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 366Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 367Tôi nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
“Ta đi đến thành Kusināra”.
SC 368PTS cs 21~132 Rồi Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói với Tôn giả Ānanda
SC 369—Này Ānanda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn ngồi nghỉ, này Ānanda.
SC 370- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 371Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.
SC 372PTS cs 22~133 Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả Ānanda
SC 373—Này Ānanda, hãy đem nước cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 374Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 375—Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
SC 376PTS cs 23~134 Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 377—Này Ānanda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 378Lần thứ hai tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 379—Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
SC 380PTS cs 24~135 Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 381—Này Ānanda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ānanda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
SC 382- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 383Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ānanda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng, không vẩn đục.
SC 384PTS cs 25~136 Tôn giả Ānanda tự nghĩ: “Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục”. Sau khi dùng bát lấy nước, tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn và bạch với Ngài
SC 385—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu. Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
Và Thế Tôn uống nước.
SC 386PTS cs 26~137 Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alāra Kālāma đang đi trên con đường từ Kusināra đến Pàvà.
SC 387Pukkusa, dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế Tôn
SC 388—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!
SC 389PTS cs 27~138 Bạch Thế Tôn, thuở xưa, ngài Alāra Kālāma đang đi trên đường. Rồi ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây, không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua gần ngài Alāra Kālāma. Bạch Thế Tôn, có một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy, đễn chỗ ngài Alāra Kālāma và nói với ngài: “Tôn giả có thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua không?”: “Này Hiền giả, ta không thấy”. “Tôn giả có nghe tiếng không?”: “Này Hiền giả, ta không nghe tiếng”. “Có phải Tôn giả đang ngủ không?”: “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. “Vậy có phải Tôn giả đang thức tỉnh?”: “Này Hiền giả, ta đang thức tỉnh”. “Tôn giả đang thức tỉnh nhưng không thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe thấy tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả cũng bị lấm bụi”. “Này Hiền giả, phải, áo ta bị lấm bụi”.
SC 390Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh, còn thức nhưng không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng”. Sau khi tỏ sự thâm tín đối với ngài Alāra Kālāma, vị ấy từ biệt.
SC 391PTS cs 28~139 - Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh, còn thức mà không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng?
SC 392PTS cs 29~140 - Bạch Thế Tôn, nói gì đến năm trăm cỗ xe này, cho đến hoặc sáu trăm, hoặc bảy trăm, hoặc tám trăm, hoặc chín trăm, hoặc một ngàn, cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng không thể so sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn, một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy cũng không nghe tiếng.
SC 393PTS cs 30~141 - Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà đập lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ Atumà đi ra đến tại chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết …
SC 394PTS cs 31~142 Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa, Này Pukkusa, có một người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chờ Ta, đảnh lễ và đứng một bên. Và Ta nói với người ấy đang đứng một bên:
SC 39532: “Này Hiền giả, vì sao có số đông người tụ họp như vậy?” —Bạch Thế Tôn vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy mà có số đông người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?”: “Này Hiền giả, lúc ấy Ta ở tại đây”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả sao?”: “Này Hiền giả, Ta không thấy gì”. “Bạch Thế Tôn, Ngài không nghe tiếng gì cả sao?”: “Này Hiền giả, Ta không nghe tiếng gì?”: “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ, phải không?”: “Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ”. “Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?”: “Này Hiền giả, phải”. “Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh thức, nhưng trong khi trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết, nhưng Ngài không thấy, cũng không nghe gì”.—Này Hiền giả, phải như vậy”.
SC 396PTS cs 33~143 Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ: “Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức tỉnh, dầu có mưa tầm tã ào ào, điện quang chói lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị sét đánh chết mà không thấy gì, không nghe gì hết”. Sau khi nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ Ta, thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt.
SC 397PTS cs 34~144 Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Mallà bạch Thế Tôn
SC 398—Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với ngài Alāra, Kālāma, nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 399PTS cs 35~145 Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: “Này bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc”. “Tôn giả, xin vâng”. Người ấy vâng lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.
SC 400Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói
SC 401—Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.
SC 402- Này Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ānanda một áo.
SC 403- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 404Pukkusa, dòng họ Mallà vâng lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và đắp một áo cho tôn giả Ānanda.
SC 405PTS cs 36~146 Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa, người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Thế Tôn và từ biệt.
SC 406PTS cs 37~147 Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả Ānanda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Và Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 407—Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ đi.
SC 408- Thật vậy, này Ānanda. Này Ānanda, có hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai? Này Ānanda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới, không còn dư y sanh tử nữa. Này Ānanda, đó là hai trường hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói.
SC 409PTS cs 38~148 Này Ānanda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà, trong rừng Sāla của dòng họ Mallà, giữa hai cây sāla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến sông Kakutthà.
SC 410- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 411Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn:
SC 412Cặp áo kim sắc này.
Pukkusa mang đến.
Ðắp áo kim sắc này,
Da Ðạo Sư sáng chói.
SC 413PTS cs 39~149 Rồi Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà, xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka
SC 414—Này Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
SC 415- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 416Ðại đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.
SC 417PTS cs 40~150 Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác, suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.
SC 418PTS cs 41~151
SC 419Ðức Phật tự đi đến
Con sông Kakutthà.
Con sông chảy trong sáng.
Mát lạnh và thanh tịnh.
Vị Ðạo Sư mỏi mệt
Ði dần xuống mé sông.
Như Lai đấng Vô Thượng
Ngự trị ở trên đời
Tắm xong, uống nước xong,
Lội qua bên kia sông.
Bậc Ðạo Sư đi trước,
Giữa Tăng chúng Tỷ-kheo,
Vừa đi vừa diễn giảng.
Chánh pháp thật vi diệu.
Rồi bậc Ðại Sĩ đến,
Tại khu vực rừng xoài.
Cho gọi vị Tỷ-kheo,
Tên họ Cundaka:
“Hãy gấp tư áo lại,
Trải áo cho ta nằm.
Nghe dạy, Cundaka
Lập tức vâng lời dạy,
Gấp tư và trải áo,
Một cách thật mau lẹ.
Bậc Ðạo Sư nằm xuống
Thân mình thật mệt mỏi.
Tại đây Cundaka,
Ngồi ngay phía trước mặt.
SC 420PTS cs 42~152 Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 421—Này Ānanda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận: “Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ Ngươi cúng dường, và nhập diệt”. Này Ānanda, cần phải làm tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: “Này Hiền giả, thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này của Thế Tôn: “Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai? Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng uy quyền”.
SC 422Này Ānanda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.
SC 423PTS cs 43~153 Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm khái như sau:
SC 424Công đức người bố thí,
Luôn luôn được tăng trưởng,
Trừ được tâm hận thù.
Không chất chứa, chế ngự,
Kẻ chí thiện từ bỏ.
Mọi ác hạnh bất thiện,
Diệt trừ tham, sân, si.
Tâm giải thoát thanh tịnh.
Tụng phẩm V
SC 425PTS cs 1~154 Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 426—Này Ānanda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hiraṇṇavatī, đến ở Kusinàrà—Upavattana—rừng Sālā của dòng họ Màllà.
SC 427- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 428Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 429Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông Hiraṇṇavatī, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sālā của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ānanda
SC 430—Này Ānanda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sālā song thọ: này Ānanda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
SC 431- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 432Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sālā song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.
SC 433PTS cs 2~155 Lúc bấy giờ, cây sālā song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandārava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
SC 434PTS cs 3~156 Rồi Như Lai nói với tôn giả Ānanda
SC 435—Này Ānanda, các cây sālā song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa Mandārava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
SC 436Nhưng, này Ānanda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ānanda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, này Ānanda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ānanda, các Người phải học tập như vậy.
SC 437PTS cs 4~157 Lúc bấy giờ, tôn giả Upavāna đứng trước mặt Thế Tôn và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.”
SC 438Tôn giả Ānanda, liền tự suy nghĩ: “Ðại đức Upavāna này là thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”. Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt ta”?
SC 439PTS cs 5~158 Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 440—Ðại đức Upavāna này là thị giả, sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta.” Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavāna: “Này Tỷ-kheo hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta”?
SC 441—Này Ānanda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ānanda, cho đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng Sālā thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy những Thiên thần có uy lực tụ họp. Này Ānanda, các vị Thiên Thần đang than phiền: “Chúng ta từ rất xa đến chiêm ngưỡng Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh cuối cùng, Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỷ-kheo có oai lực này lại đứng ngang trước Thế Tôn, khiến chúng ta không thể chiêm ngưỡng Như Lai trong giờ phút cuối cùng”. Này Ānanda, các chư Thiên than phiền như vậy.
SC 442PTS cs 6~159 —Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?
SC 443- Này Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than, với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 444Này Ānanda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại:
SC 445“Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 446Có chư Thiên đã diệt trừ ái dục, những vị này bình thản, tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao sự kiện có thể khác được?”
SC 447PTS cs 7~160 —Bạch Thế Tôn, thuở trước các Tỷ-kheo sau khi thọ an cư, từ các địa phương đến chiêm ngưỡng Như Lai, chúng con được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nhập diệt, chúng con sẽ không được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện.
SC 448PTS cs 8~161 - Này Ānanda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?
SC 449“Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”. Này Ānanda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 450“Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 451“Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 452“Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”, này Ānanda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
SC 453Này Ānanda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ānanda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy tư: “Ðây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”, “Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Ðây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”.
SC 454Này Ānanda, những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên.
SC 455PTS cs 9~162 —Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?
SC 456—Này Ānanda, chớ có thấy chúng.
SC 457—Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?
SC 458—Này Ānanda, chớ có nói chuyện với chúng.
SC 459—Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?
SC 460—Này Ānanda, phải an trú chánh niệm.
SC 461PTS cs 10~163 —Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự thân xá-lợi Như Lai như thế nào?
SC 462—Này Ānanda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề cung kính thân xá-lợi của Như Lai. Này Ānanda, các Người hãy nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần mẫn, chuyên hướng về tự độ. Này Ānanda, có những học giả Sát-đế-lỵ, những học giả Bà-la-môn, những học giả gia chủ thâm tín Như Lai, những vị này sẽ lo cho sự cung kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.
SC 463PTS cs 11~164 —Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai như thế nào?
SC 464—Này Ānanda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương như thế nào, hãy xử sự thân xá-lợi Như Lai như vậy.
SC 465—Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân chuyển luân Thánh vương như thế nào?
SC 466—Này Ānanda, thân của Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt vào trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân của vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này và tại ngã tư đường, tháp của vị Chuyển luân Thánh vương được xây dựng lên. Này Ānanda, đó là pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương.
SC 467Này Ānanda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp, hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
SC 468PTS cs 12~165 Này Ānanda, bốn hạng người sau này đáng được xây tháp. Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xứng đáng xây tháp. Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Ðệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
SC 469Này Ānanda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri. ” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ sanh lên thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây tháp.
SC 470Này Ānanda, vì lý do gì, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của Thế Tôn Ðộc Giác Phật”. ” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp.
SC 471Này Ānanda, vì lý do gì, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp đệ tử Thanh Văn của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp.
SC 472Này Ānanda, vì lý do gì, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp? Này Ānanda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: “Ðây là tháp của vị Pháp vương trị vì đúng pháp.” Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ānanda, vì lý do này, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
SC 473Này Ānanda, đó là bốn hạng người xứng đáng xây tháp.
SC 474PTS cs 13~166 Rồi tôn giả Ānanda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”
SC 475Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 476—Này các Tỷ-kheo, Ānanda ở tại đâu?
SC 477—Bạch Thế Tôn, tôn giả Ānanda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa và đứng khóc: “Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn ai thương tưởng ta nữa!”
SC 478Thế Tôn liền nói với một Tỷ-kheo
SC 479—Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với Ānanda: “Này Hiền giả Ānanda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”
SC 480—Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 481Vị Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tôn giả Ānanda, sau khi đến, liền nói với tôn giả: “Này Hiền giả Ānanda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả.”: “Thưa vâng, Hiền giả. ” Tôn giả Ānanda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
SC 482PTS cs 14~167 Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda đang ngồi một bên
SC 483—Thôi vừa rồi, Ānanda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than. Này Ānanda, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này Ānanda làm sao được có sự kiện này: “Các pháp sanh, trú, hữu vi, biến hoại đừng có bị tiêu diệt?” Không thể có sự kiện như vậy được. Này Ānanda, đã lâu ngày, ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với khẩu nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng. Này Ānanda, ngươi là người tác thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.
SC 484PTS cs 15~168 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 485—Này các Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, những bậc Thế Tôn này đều có những thị giả tối thắng như Ānanda của Ta. Này Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thời vị lai, những bậc Thế Tôn này cũng sẽ có những vị thị giả tối thắng như Ānanda của Ta vậy.
SC 486Này các Tỷ-kheo, Ānanda là người có trí và hiểu rõ: “Nay đúng thời để các Tỷ-kheo yết kiến Thế Tôn, nay đúng thời để các Tỷ-kheo ni, nay đúng thời để các nam cư sĩ, nay đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để các vua chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn!”
SC 487PTS cs 16~169 Này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ cựu, hy hữu. Thế nào là bốn?
SC 488Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Tỷ-kheo đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ānanda làm thinh thời, này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo ấy sẽ thất vọng.
SC 489Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo ni…, chúng nam cư sĩ … chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ, vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp và nếu Ānanda làm thinh thời này các Tỷ-kheo, chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.
SC 490Này các Tỷ-kheo, vị Chuyển luân Thánh vương có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu.
SC 491Này các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ … chúng Bà-la-môn … chúng gia chủ … chúng Sa-môn đến yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương, chúng sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến vị Chuyển luân Thánh vương và nếu vị Chuyển luân Thánh vương nói chuyện, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài nói chuyện, và nếu vị Chuyển luân Thánh vương làm thinh thời chúng Sa-môn ấy sẽ thất vọng.
SC 492Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu. Nếu có chúng Tỷ-kheo … chúng Tỷ-kheo ni … chúng nam cư sĩ … chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ānanda, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ānanda, và nếu Ānanda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp, và nếu Ānanda làm thinh, thời này các Tỷ-kheo chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất vọng.
SC 493Này các Tỷ-kheo, Ānanda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu như vậy.
SC 494PTS cs 17~170 Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 495—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Rājagaha (Vương Xá), Sāvatthi (Xá-vệ), Sāketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiều-thương-di), Bārānasī (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, có đại chúng Sát-đế-lỵ, có đại chúng Bà-la-môn, có đại chúng gia chủ rất tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.
SC 496—Này Ānanda, chớ có nói như vậy, này Ānanda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc.
SC 497PTS cs 18~171 Này Ānanda, thuở xưa có vị vua tên là Mahāsudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển luân vương, trị vì như pháp, là vị pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ānanda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Mahāsudassana, tên là Kusāvātī (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến bảy do tuần.
SC 498Này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, dân chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Này Ānanda, cũng như kinh đô Āḷakamandā của chư thiên rất phồn thịnh, phú cường dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú, cũng vậy này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, nhân chúng sung mãn.
SC 499Này Ānanda, kinh đô Kusāvātī này, ngày đêm vang dậy chín loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi”.
SC 500PTS cs 19~172 Này Ānanda, hãy đi vào Kusinàrà và nói với dân Mallà Kusinàrà: “Này các Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng, Như Lai sẽ diệt độ”.
SC 501- Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.
SC 502- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 503Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn, đắp y, đem theo y bát và cùng một vị khác làm bạn đồng hành đi vào Kusinàrà.
SC 504PTS cs 20~173 Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công sự. Tôn giả Ānanda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà. Sau khi đến, tôn giả liền nói vói dân Mallà ở Kusinàrà
SC 505—Này Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng Như Lai sẽ diệt độ, Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Về sau chớ có hối hận: “Như Lai đã diệt độ tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng Như Lai”.
SC 506PTS cs 21~174 Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ānanda nói như vậy, liền đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não. Kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 507Và dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ não, đi đến Upavattana, khu rừng Sālā của dòng họ Mallà và đến chỗ tôn giả Ānanda.
SC 508PTS cs 22~175 Tôn giả Ānanda tự nghĩ: “Nếu ta để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn từng người một, thời đêm sẽ tàn trước khi Thế Tôn được tất cả dân Mallà đảnh lễ. Vậy ta hãy để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ theo từng gia tộc”.
SC 509- Bạch Thế Tôn, gia tộc Mallà này với vợ con, đồ chúng, bạn bè đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 510Và tôn giả Ānanda, theo phương tiện này trong canh một, khiến dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn.
SC 511PTS cs 23~176 Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Subhadda ở tại Kusinàrà. Du sĩ ngoại đạo Subhadda được nghe: “Tối nay canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”.
SC 512Và du sĩ ngoại đạo Subhadda suy nghĩ: “Ta nghe các du sĩ ngoại đạo niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu. Và đêm nay, vào canh cuối cùng Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm ta. Ta tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp và giải được nghi vấn cho ta”.
SC 513PTS cs 24~177 Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana, khu rừng Sāla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ānanda và thưa với tôn giả
SC 514—Hiền giả Ānanda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ānanda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 515Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 516—Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
SC 517Lần thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda … Lần thứ ba, du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ānanda
SC 518—Hiền giả Ānanda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng: “Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay, vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ”. Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ānanda, hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
SC 519Lần thứ ba, tôn giả Ānanda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 520—Thôi đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn đang mệt.
SC 521PTS cs 25~178 Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả Ānanda với du sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ānanda
SC 522—Thôi Ānanda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ānanda, hãy để cho Subhadda được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi Ta là hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta. Và những gì Ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý nghĩa một cách mau lẹ.
SC 523Tôn giả Ānanda liền nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda
SC 524—Này Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã cho phép Hiền giả.
SC 525PTS cs 26~179 Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ Thế Tôn, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn
SC 526—Tôn giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng, như các ngài Pārana Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalì, Pakudha Kaccāyana, Sanjaya Bellaṭṭhiputta, Nigaṇṭha Nātaputta, tất cả những vị này có phải là giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ?
SC 527- Thôi Subhadda, hãy để vấn đề này yên một bên: “Tất cả những vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác ngộ và một số chưa giác ngộ”. Này Subhadda, Ta sẽ thuyết pháp cho Ngươi. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
SC 528- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
SC 529Du sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 530PTS cs 27~180—Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo, thời ở đây không có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng không có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát Thánh đạo, thời ở đây có đệ nhất Sa-môn, cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.
SC 531Này Subhadda, năm hai mươi chín,
Ta xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.
Trải năm mươi năm với thêm một năm
Từ khi xuất gia, này Subhadda,
Ta là du sĩ tu Trí, tu Ðức.
SC 532Ngoài lãnh vực này, không có Sa-môn đệ nhất cũng không có Sa-môn đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng không có Sa-môn đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì đời này không vắng những vị A-la-hán.
SC 533PTS cs 28~181 Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn
SC 534—Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con xin thọ đại giới.
SC 535- Này Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia muốn thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt nhau.
SC 536PTS cs 29~182 - Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm, sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các vị Tỷ-kheo đồng ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
SC 537Và Thế Tôn nói với tôn giả Ānanda
SC 538—Này Ānanda, hãy xuất gia cho Subhadda.
SC 539- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
SC 540Tôn giả Ānanda vâng lời Thế Tôn.
SC 541PTS cs 30~183 Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ānanda
SC 542—Thật là lợi ích, thưa Tôn giả Ānanda, thật là thiện lợi, thưa Tôn giả Ānanda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ tử trước mặt bậc Ðạo Sư!
SC 543Và du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia, được thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa.
SC 544Và đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại đức là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn tế độ.
Tụng phẩm VI
SC 545PTS cs 1~184 Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 546—Này Ānanda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: “Lời nói của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)”. Này Ānanda, chớ có những tư tưởng như vậy. Này Ānanda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi.
SC 547PTS cs 2~185 Này Ānanda, nay các vị Tỷ-kheo xưng hô với nhau là Hiền giả. Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ānanda, vị Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa (Bhante) hay Ðại đức.
SC 548PTS cs 3~186 Này Ānanda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.
SC 549PTS cs 4~187 Này Ānanda, sau khi Ta diệt độ, hãy hành tội Phạm đàn (Brahmadaṇḍa) đối với Tỷ-kheo Channa.
SC 550- Bạch Thế Tôn, thế nào là Phạm đàn?
SC 551- Này Ānanda, Tỷ-kheo Channa muốn nói gì thì nói. Chúng Tỷ-kheo sẽ không nói, sẽ không giảng dạy, sẽ không giáo giới Tỷ-kheo Channa.
SC 552PTS cs 5~188 Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 553—Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo các Người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.
SC 554Khi được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy im lặng. Một lần thứ hai, Thế Tôn … Một lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 555—Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo có nghi ngờ hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc: “Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn”.
SC 556Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
SC 557Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 558—Này các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng tu, hãy hỏi nhau.
SC 559Khi được nói vậy, những vị Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
SC 560PTS cs 6~189 Rồi tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 561—Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp.
SC 562- Này Ānanda, ngươi có tín nhiệm nên nói vậy. Nhưng ở đây, này Ānanda, Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp. Này Ānanda, trong năm trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh giác.
SC 563PTS cs 7~190 Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo
SC 564—Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”.
SC 565Ðó là lời cuối cùng Như Lai.
SC 566PTS cs 8~191 Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
SC 567Khi ấy tôn giả Ānanda nói với tôn giả Anuruddha
SC 568—Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.
SC 569- Này Hiền giả Ānanda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.
SC 570PTS cs 9~192 Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định. Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
SC 571PTS cs 10~193 Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời vang động.
SC 572Khi Thế Tôn diệt độ, Phạm thiên Sahampati, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 573Chúng sanh ở trên đời,
Từ bỏ thân ngũ uẩn
Bậc đạo sư cũng vậy,
Ðấng Tuyệt luân trên đời.
Bậc Ðại hùng Giác ngộ
Như Lai đã diệt độ.
SC 574Khi Thế Tôn diệt độ, Thiên chủ Sakka, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 575Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt
Ðã sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp chúng là an lạc.
SC 576Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Anuruddha, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 577Không phải thở ra vào
Chính tâm trú chánh định
Không tham ái tịch tịnh
Tu sĩ hướng diệt độ
Chính tâm tịnh bất động
Nhẫn chịu mọi cảm thọ
Như đèn sáng bị tắt
Tâm giải thoát hoàn toàn.
SC 578Khi Thế Tôn diệt độ, tôn giả Ānanda, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt lên bài kệ này:
SC 579Thật kinh khủng bàng hoàng,
Thật râu tóc dựng ngược,
Khi Bậc Toàn thiện năng,
Bậc Giác ngộ nhập diệt.
SC 580Khi Thế Tôn diệt độ, những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệt nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại, suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”
SC 581PTS cs 11~194 Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo
SC 582—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: “Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy”. Này các Hiền giả, chính chư Thiên đang trách đó.
SC 583- Thưa Tôn giả Anuruddha, Tôn giả đang nghĩ đến hạng chư Thiên nào?
SC 584- Hiền giả Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 585Hiền giả Ānanda, có hạng chư Thiên ở trên đất với tâm tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những chư Thiên diệt trừ ái dục, những vị này chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng với tâm suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao có thể khác được?”
SC 586PTS cs 12~195 Tôn giả Anuruddha và tôn giả Ānanda luận bàn về Chánh pháp suốt cả đêm còn lại. Rồi tôn giả Anuruddha nói với tôn giả Ānanda
SC 587—Hiền giả Ānanda, hãy vào thành Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.
- Tôn giả, xin vâng!
SC 588Tôn giả Ānanda vâng lời tôn giả Anuruddha, buổi sáng đắp y, đem theo y bát cùng một thị giả, vào thành Kusinàrà.
SC 589Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng đường vì một vài công vụ. Tôn giả Ānanda đến tại giảng đường của dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đến liền nói với dân Mallà ở Kusinàrà: “Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm”.
SC 590Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ānanda nói như vậy liền đau đớn sầu muộn, tâm tư khổ não, kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”.
SC 591PTS cs 13~196 Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những người làm: “Các người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí ở Kusinàrà”.
SC 592Rồi dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả nhạc khí và năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sālā của dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn, rồi chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Maṇḍala.
SC 593Rồi dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Hôm nay, nếu thiêu thân xá lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ làm lễ thiêu thân xá lợi của Thế Tôn”. Rồi dân Mallà ở Kusinàrà, cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Maṇḍala, ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư cũng như vậy, ngày thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy.
SC 594PTS cs 14~197 Ðến ngày thứ bảy, dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa hát, nhạc, tràng hoa, hương, nay chúng ta hãy chở thân xác xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.
SC 595Lúc bấy giờ tám vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai nhưng khiêng không nổi được. Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch Tôn giả Anuruddha
SC 596—Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì tám vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai, nhưng không khiêng nổi được?
SC 597- Này Vàsetthà, vì ý định của các Ngươi khác, ý định của chư Thiên khác.
SC 598PTS cs 15~198 - Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên là gì?
SC 599- Này các Vàsetthà, ý định của các Ngươi như sau:
SC 600“Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương. Nay chúng ta hãy chở thân xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy”.
SC 601Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Chúng ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của Chư thiên, nay chúng ta hãy khiêng thân xá lợi Thế Tôn về hướng Bắc phía Bắc của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, hãy khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, hãy khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuṭa-bandhana và chúng ta sẽ thiêu thân Thế Tôn tại chỗ ấy”.
SC 602- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên thế nào, ý định của chúng con cũng vậy.
SC 603PTS cs 16~199 Lúc ấy, khắp cả Kusinàrà cho đến đống bụi, đống rác, được rải la liệt lên đến đầu gối toàn hoa Mandārava. Rồi chư Thiên và các dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của chư Thiên và loài Người, liền khiêng thân xá lợi Thế Tôn về phía Bắc của Thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, liền khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Ðông, liền khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của dân Mallà tên là Makuṭa-bandhana và đặt thân xá lợi của Thế Tôn tại chỗ ấy.
SC 604PTS cs 17~200 Rồi dân Mallà bạch tôn giả Ānanda
SC 605—Bạch Tôn giả Ānanda, chúng con nay phải xử sự như thế nào đối với thân xá lợi Như Lai?
SC 606- Này các Vàsetthà, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương như thế nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như vậy.
SC 607- Bạch Tôn giả Ānanda, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương phải như thế nào?
SC 608- Này các Vàsetthà, thân Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn vải mới, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện, lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này, và tại ngã tư đường, tháp vị Chuyển luân Thánh vương này được xây dựng lên. Này các Vàsetthà, đó là pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương.
SC 609Này các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân của Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem đến tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu dài.
SC 610PTS cs 18~201 Và các người Mallà ở Kusinàrà sai những người làm công
SC 611—Hãy đem lại tất cả vải gai bện của Mallà.
SC 612Rồi những người Mallà ở Kusinàrà vấn tròn thân Thế Tôn với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện lại vấn thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải. Rồi đặt thân Như Lai vào trong một hòm dầu bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác, dựng lên một giàn hỏa gồm mọi loại hương và đặt thân Thế Tôn trên giàn hỏa.
SC 613PTS cs 19~202 Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa đang đi giữa đường từ Pàvà đến Kusinàrà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Rồi Tôn giả Mahà Kassapa bước xuống đường và đến ngồi tại một gốc cây.
SC 614Lúc bấy giờ có một tà mạng ngoại đạo lấy một hoa Mandārava ở Kusinàrà và đang đi trên một con đường đến Pàvà.
SC 615Tôn giả Mahà Kassapa thấy tà mạng ngoại đạo đi từ đàng xa đến. Thấy vậy, tôn giả liền hỏi tà mạng ngoại đạo ấy
SC 616—Này Hiền giả, Hiền giả có biết bậc Ðạo sư chúng tôi không?
SC 617- Này Hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã diệt độ cách hôm nay một tuần. Từ chỗ ấy, tôi được hoa Mandārava này.
SC 618Lúc ấy những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: “Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm”. Còn những Tỷ-kheo đã diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại suy tư: “Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi sự kiện ấy?”
SC 619PTS cs 20~203 Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi đang ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi nói với những Tỷ-kheo ấy
SC 620—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa-môn ấy, chúng ta đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: “Làm như thế này không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp với các Ngươi”. Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm, những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm.
SC 621Tôn giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỷ-kheo
SC 622—Thôi các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt, tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được như vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có sự trạng ấy.
SC 623PTS cs 21~204 Lúc bấy giờ bốn vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn nhưng châm lửa không cháy.
SC 624Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch tôn giả Anuruddha
SC 625—Bạch Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, bốn vị tộc trưởng Mallà này gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn, nhưng châm lửa không cháy?
SC 626- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên khác.
SC 627- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên như thế nào?
SC 628- Này các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: “Tôn giả Mahà Kassapa nay đang đi giữa đường giữa Pàvà và Kusinàrà cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Giàn hỏa Thế Tôn chỉ được đốt cháy khi tôn giả Mahà Kassapa cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn”.
SC 629- Bạch Tôn giả, ý định chư Thiên như thế nào, hãy làm y như vậy.
SC 630PTS cs 22~205 Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đến tại đền Makuṭa Bandhana của những vị Mallà tại giàn hỏa Thế Tôn, khi đến xong liền choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần, cởi mở chân ra và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 631Năm trăm vị Tỷ-kheo ấy choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu qua phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần và cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
SC 632Và khi tôn giả Mahà Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo đảnh lễ xong, thời giàn hỏa Thế Tôn tự bắt lửa cháy.
SC 633PTS cs 23~206 Khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa các khớp xương, thảy đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại.
SC 634Như sanh tô hay dầu bị cháy, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, cũng vậy khi thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương, tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại. Và năm trăm tầng lớp vải gai bện, cả hai lớp trong nhất và lớp ngoài nhất đều bị cháy thiêu.
SC 635Khi thân Thế Tôn bị thiêu cháy xong, một dòng nước từ hư không chảy xuống tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và một dòng nước từ kho nước (hay từ cây sālā) phun lên tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và các người Mallà ở Kusinàrà dùng nước với mọi loại hương tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn.
SC 636Rồi các người Mallà xứ Kusinàrà đặt xá lợi Thế Tôn trong giảng đường, dùng cây thương làm hàng rào, dùng cây cung làm bức thành xung quanh và trong bảy ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường với các điệu múa, hát, nhạc, vòng hoa, hương.
SC 637PTS cs 24~207 Vua nước Magadha tên là Ajātasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà. Vua liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.
SC 638Những người Licchavì ở Vesālī nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 639Các người Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 640Những người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn”.
SC 641Những người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn.”
SC 642Bà-la-môn Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người Bà-la-môn. Tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 643Các người Mallà ở Pàvà nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gửi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”.
SC 644PTS cs 25~208 Khi được nói vậy, các người Mallà ở Kusinàrà liền tuyên bố giữa đại chúng
SC 645—Thế Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi sẽ không cho phần xá lợi nào của Thế Tôn.
SC 646Khi nghe vậy, Bà-la-môn Doṇa nói với chúng:
SC 647Tôn giả, hãy nghe lời tôi nói!
Phật dạy chúng ta phải kham nhẫn.
Thật không tốt nếu có tranh giành.
Khi chia xá lợi bậc Thượng nhân.
Chúng ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan hỷ chia xá lợi tám phần.
Chúng ta hãy dựng tháp mọi phương,
Ðại chúng mười phương tin Pháp nhãn …
SC 648- Này Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia xá lợi ra tám phần đồng đều.
SC 649- Xin vâng, các Tôn giả.
SC 650Bà-la-môn Doṇa vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi Thế Tôn thành tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng
SC 651—Các Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đong chia xá-lợi này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.
SC 652Và hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Doṇa cái bình.
SC 653PTS cs 26~209 Và người Moriyà ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: “Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn”. “Nay không còn phần xá-lợi Thế Tôn nào. Xá-lợi Thế Tôn đã được phân chia, hãy lấy tro còn lại”. Rồi các vị nầy lấy than tro còn lại.
SC 654PTS cs 27~210 Và vua nước Magadha tên là Ajātasattu, con bà Videhi xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ cúng dường.
SC 655Những người Licchavi ở Vesālī cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vesālī và tổ chức lễ cúng dường.
SC 656Những người Sakya ở Kapilavatthu cũng xây dựng trên xá-lợi Thế Tôn tại Kapilavatthu và tổ chức lễ cúng dường.
SC 657Những người Buli ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên xá lợi Thế Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.
SC 658Những người Koli ở Rāmagāma cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Rāmagāma và tổ chức lễ cúng dường.
SC 659Bà-la-môn Vethadìpaka cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vethadìpa và tổ chức lễ cúng dường.
SC 660Những người Mallà ở Pàvà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Pàvà và tổ chức lễ cúng dường.
SC 661Những người Màllà ở Kusinàrà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Kusinàrà và tổ chức lễ cúng dường.
SC 662Bà-la-môn Doṇa cũng xây dựng tháp trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tổ chức lễ cúng dường.
SC 663Những người Moriyà ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những than tro và tổ chức lễ cúng dường.
SC 664Như vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín trên bình (dùng để đong chia xá-lợi) và tháp thứ mười trên tro (xá-lợi).
SC 665Ðó là truyền thống thời xưa như vậy.
SC 666PTS cs 28~211
SC 667Ðấng Pháp Nhãn Vô Thượng
Xá-lợi phân tám phần.
Bảy phần được cúng dường.
Tại Jambudìpa.
Một phần Long vương cúng.
Tại Ràmagàma.
Một răng Phật được cúng,
Tại cõi Tam Thiên giới,
Một tại Gandhāra,
Một tại Kalinga.
Một răng, vua Long vương.
Tự mình riêng cúng dường.
Quả đất được chói sáng,
Với hào quang xá-lợi,
Với lễ vật cúng dường.
Hạng thượng phẩm, thượng đẳng.
Xá-lợi đấng Pháp Nhãn.
Như vậy được cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường,
Bởi những bậc tôn trọng
Cúng kính lễ cúng dường.
Bởi Thiên, Long, Nhơn chủ,
Bởi bậc Tối thượng nhơn.
Các người hãy chắp tay,
Cung kính lễ cúng dường.
Khó thay sự chiêm ngưỡng.
Tôn nhan bậc Như Lai.
Trải nhiều nhiều trăm kiếp,
May lắm được một lần.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate.
Tena kho pana samayena rājā māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo hoti.
So evamāha:
“ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī”ti.
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto vassakāraṁ brāhmaṇaṁ magadhamahāmattaṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, brāhmaṇa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha:
‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti.
Evañca vadehi:
‘rājā, bhante, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo.
So evamāha:
“ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī”’ti.
Yathā te bhagavā byākaroti, taṁ sādhukaṁ uggahetvā mama āroceyyāsi.
Na hi tathāgatā vitathaṁ bhaṇantī”ti.
1. Vassakārabrāhmaṇa
“Evaṁ, bho”ti kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto rañño māgadhassa ajātasattussa vedehiputtassa paṭissutvā bhaddāni bhaddāni yānāni yojetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi rājagahamhā niyyāsi, yena gijjhakūṭo pabbato tena pāyāsi.
Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikova yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca:
“rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto bhoto gotamassa pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati.
Rājā, bho gotama, māgadho ajātasattu vedehiputto vajjī abhiyātukāmo.
So evamāha:
‘ahaṁ hime vajjī evaṁmahiddhike evaṁmahānubhāve ucchecchāmi vajjī, vināsessāmi vajjī, anayabyasanaṁ āpādessāmī’”ti.
2. Rājaaparihāniyadhamma
Tena kho pana samayena āyasmā ānando bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā bhavissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī samaggā sannipatanti, samaggā vuṭṭhahanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karontī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā vajjikaraṇīyāni karissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī apaññattaṁ na paññapenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī apaññattaṁ na paññapenti, paññattaṁ na samucchindanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī apaññattaṁ na paññapessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññatte porāṇe vajjidhamme samādāya vattissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca sotabbaṁ maññantī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī ye te vajjīnaṁ vajjimahallakā, te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo, tā na okkassa pasayha vāsentī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo tā na okkassa pasayha vāsentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yā tā kulitthiyo kulakumāriyo, tā na okkassa pasayha vāsessanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante: ‘vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkaronti garuṁ karonti mānenti pūjenti tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpentī’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjī yāni tāni vajjīnaṁ vajjicetiyāni abbhantarāni ceva bāhirāni ca, tāni sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca dinnapubbaṁ katapubbaṁ dhammikaṁ baliṁ no parihāpessanti, vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Kinti te, ānanda, sutaṁ, ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā, kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyun’”ti?
“Sutaṁ metaṁ, bhante ‘vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyun’”ti.
“Yāvakīvañca, ānanda, vajjīnaṁ arahantesu dhammikā rakkhāvaraṇagutti susaṁvihitā bhavissati, kinti anāgatā ca arahanto vijitaṁ āgaccheyyuṁ, āgatā ca arahanto vijite phāsu vihareyyunti. Vuddhiyeva, ānanda, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Atha kho bhagavā vassakāraṁ brāhmaṇaṁ magadhamahāmattaṁ āmantesi:
“ekamidāhaṁ, brāhmaṇa, samayaṁ vesāliyaṁ viharāmi sārandade cetiye.
Tatrāhaṁ vajjīnaṁ ime satta aparihāniye dhamme desesiṁ.
Yāvakīvañca, brāhmaṇa, ime satta aparihāniyā dhammā vajjīsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu vajjī sandississanti, vuddhiyeva, brāhmaṇa, vajjīnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
Evaṁ vutte, vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavantaṁ etadavoca:
“ekamekenapi, bho gotama, aparihāniyena dhammena samannāgatānaṁ vajjīnaṁ vuddhiyeva pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Ko pana vādo sattahi aparihāniyehi dhammehi.
Akaraṇīyāva, bho gotama, vajjī raññā māgadhena ajātasattunā vedehiputtena yadidaṁ yuddhassa, aññatra upalāpanāya aññatra mithubhedā.
Handa ca dāni mayaṁ, bho gotama, gacchāma, bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
“Yassadāni tvaṁ, brāhmaṇa, kālaṁ maññasī”ti.
Atha kho vassakāro brāhmaṇo magadhamahāmatto bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
3. Bhikkhuaparihāniyadhamma
Atha kho bhagavā acirapakkante vassakāre brāhmaṇe magadhamahāmatte āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaccha tvaṁ, ānanda, yāvatikā bhikkhū rājagahaṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū rājagahaṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho, yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā yena upaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“satta vo, bhikkhave, aparihāniye dhamme desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū abhiṇhaṁ sannipātā sannipātabahulā bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū samaggā sannipatissanti, samaggā vuṭṭhahissanti, samaggā saṅghakaraṇīyāni karissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū apaññattaṁ na paññapessanti, paññattaṁ na samucchindissanti, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vattissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū ye te bhikkhū therā rattaññū cirapabbajitā saṅghapitaro saṅghapariṇāyakā, te sakkarissanti garuṁ karissanti mānessanti pūjessanti, tesañca sotabbaṁ maññissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū uppannāya taṇhāya ponobbhavikāya na vasaṁ gacchissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū āraññakesu senāsanesu sāpekkhā bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū paccattaññeva satiṁ upaṭṭhapessanti: ‘kinti anāgatā ca pesalā sabrahmacārī āgaccheyyuṁ, āgatā ca pesalā sabrahmacārī phāsu vihareyyun’ti. Vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na kammārāmā bhavissanti na kammaratā na kammārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na bhassārāmā bhavissanti na bhassaratā na bhassārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na niddārāmā bhavissanti na niddāratā na niddārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na saṅgaṇikārāmā bhavissanti na saṅgaṇikaratā na saṅgaṇikārāmatamanuyuttā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na pāpicchā bhavissanti na pāpikānaṁ icchānaṁ vasaṁ gatā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na pāpamittā bhavissanti na pāpasahāyā na pāpasampavaṅkā, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū na oramattakena visesādhigamena antarāvosānaṁ āpajjissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi …pe….
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū saddhā bhavissanti …pe…
hirimanā bhavissanti …
ottappī bhavissanti …
bahussutā bhavissanti …
āraddhavīriyā bhavissanti …
upaṭṭhitassatī bhavissanti …
paññavanto bhavissanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …pe…
dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
pītisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
samādhisambojjhaṅgaṁ bhāvessanti …
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāvessanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā no parihāni.
Aparepi vo, bhikkhave, satta aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū aniccasaññaṁ bhāvessanti …pe…
anattasaññaṁ bhāvessanti …
asubhasaññaṁ bhāvessanti …
ādīnavasaññaṁ bhāvessanti …
pahānasaññaṁ bhāvessanti …
virāgasaññaṁ bhāvessanti …
nirodhasaññaṁ bhāvessanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime satta aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca sattasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Cha vo, bhikkhave, aparihāniye dhamme desessāmi, taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhāpessanti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhāpessanti …pe…
mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhāpessanti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū, ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī bhavissanti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññūpasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpesu sīlesu sīlasāmaññagatā viharissanti sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā, niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya, tathārūpāya diṭṭhiyā diṭṭhisāmaññagatā viharissanti sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
Yāvakīvañca, bhikkhave, ime cha aparihāniyā dhammā bhikkhūsu ṭhassanti, imesu ca chasu aparihāniyesu dhammesu bhikkhū sandississanti, vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṁ pāṭikaṅkhā, no parihānī”ti.
(…)
Tatra sudaṁ bhagavā rājagahe viharanto gijjhakūṭe pabbate etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena ambalaṭṭhikā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena ambalaṭṭhikā tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ viharati rājāgārake.
Tatrāpi sudaṁ bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ viharanto rājāgārake etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ iti samādhi iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
Atha kho bhagavā ambalaṭṭhikāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena nāḷandā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nāḷandā tadavasari,
tatra sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharati pāvārikambavane.
4. Sāriputtasīhanāda
Atha kho āyasmā sāriputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati;
na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan”ti.
“Uḷārā kho te ayaṁ, sāriputta, āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito:
‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati;
na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’ti.
Kiṁ te, sāriputta, ye te ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā:
‘evaṁsīlā te bhagavanto ahesuṁ itipi, evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto ahesuṁ itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kiṁ pana te, sāriputta, ye te bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto cetasā ceto paricca viditā:
‘evaṁsīlā te bhagavanto bhavissanti itipi, evaṁdhammā evaṁpaññā evaṁvihārī evaṁvimuttā te bhagavanto bhavissanti itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Kiṁ pana te, sāriputta, ahaṁ etarahi arahaṁ sammāsambuddho cetasā ceto paricca vidito:
‘evaṁsīlo bhagavā itipi, evaṁdhammo evaṁpañño evaṁvihārī evaṁvimutto bhagavā itipī’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Ettha ca hi te, sāriputta, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ natthi.
Atha kiñcarahi te ayaṁ, sāriputta, uḷārā āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito:
‘evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati; na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan’”ti?
“Na kho me, bhante, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ atthi,
api ca me dhammanvayo vidito.
Seyyathāpi, bhante, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ ekadvāraṁ,
tatrassa dovāriko paṇḍito viyatto medhāvī aññātānaṁ nivāretā ñātānaṁ pavesetā.
So tassa nagarassa samantā anupariyāyapathaṁ anukkamamāno na passeyya pākārasandhiṁ vā pākāravivaraṁ vā, antamaso biḷāranikkhamanamattampi.
Tassa evamassa:
‘ye kho keci oḷārikā pāṇā imaṁ nagaraṁ pavisanti vā nikkhamanti vā, sabbe te imināva dvārena pavisanti vā nikkhamanti vā’ti.
Evameva kho me, bhante, dhammanvayo vidito:
‘ye te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā sattabojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhiṁsu.
Yepi te, bhante, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacittā satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhissanti.
Bhagavāpi, bhante, etarahi arahaṁ sammāsambuddho pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu supatiṭṭhitacitto satta bojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā nāḷandāyaṁ viharanto pāvārikambavane etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
5. Dussīlaādīnava
Atha kho bhagavā nāḷandāyaṁ yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pāṭaligāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāṭaligāmo tadavasari.
Assosuṁ kho pāṭaligāmikā upāsakā: “bhagavā kira pāṭaligāmaṁ anuppatto”ti.
Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“adhivāsetu no, bhante, bhagavā āvasathāgāran”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ āvasathāgāraṁ santharitvā āsanāni paññapetvā udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpetvā telapadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“sabbasantharisanthataṁ, bhante, āvasathāgāraṁ, āsanāni paññattāni, udakamaṇiko patiṭṭhāpito, telapadīpo āropito;
yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena āvasathāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi.
Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi bhagavantameva purakkhatvā.
Pāṭaligāmikāpi kho upāsakā pāde pakkhāletvā āvasathāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu bhagavantameva purakkhatvā.
(…)
Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake āmantesi:
“pañcime, gahapatayo, ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā.
Katame pañca?
Idha, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno pamādādhikaraṇaṁ mahatiṁ bhogajāniṁ nigacchati.
Ayaṁ paṭhamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlassa sīlavipannassa pāpako kittisaddo abbhuggacchati.
Ayaṁ dutiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ—avisārado upasaṅkamati maṅkubhūto.
Ayaṁ tatiyo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno sammūḷho kālaṁ karoti.
Ayaṁ catuttho ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Puna caparaṁ, gahapatayo, dussīlo sīlavipanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ nirayaṁ upapajjati.
Ayaṁ pañcamo ādīnavo dussīlassa sīlavipattiyā.
Ime kho, gahapatayo, pañca ādīnavā dussīlassa sīlavipattiyā.
6. Sīlavantaānisaṁsa
Pañcime, gahapatayo, ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāya.
Katame pañca?
Idha, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno appamādādhikaraṇaṁ mahantaṁ bhogakkhandhaṁ adhigacchati.
Ayaṁ paṭhamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavato sīlasampannassa kalyāṇo kittisaddo abbhuggacchati.
Ayaṁ dutiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno yaññadeva parisaṁ upasaṅkamati—yadi khattiyaparisaṁ yadi brāhmaṇaparisaṁ yadi gahapatiparisaṁ yadi samaṇaparisaṁ visārado upasaṅkamati amaṅkubhūto.
Ayaṁ tatiyo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno asammūḷho kālaṁ karoti.
Ayaṁ catuttho ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Puna caparaṁ, gahapatayo, sīlavā sīlasampanno kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjati.
Ayaṁ pañcamo ānisaṁso sīlavato sīlasampadāya.
Ime kho, gahapatayo, pañca ānisaṁsā sīlavato sīlasampadāyā”ti.
Atha kho bhagavā pāṭaligāmike upāsake bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uyyojesi:
“abhikkantā kho, gahapatayo, ratti, yassadāni tumhe kālaṁ maññathā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho pāṭaligāmikā upāsakā bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho bhagavā acirapakkantesu pāṭaligāmikesu upāsakesu suññāgāraṁ pāvisi.
7. Pāṭaliputtanagaramāpana
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya.
Tena samayena sambahulā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhanti.
Yasmiṁ padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Addasā kho bhagavā dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena tā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo.
Atha kho bhagavā rattiyā paccūsasamayaṁ paccuṭṭhāya āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“Ke nu kho, ānanda, pāṭaligāme nagaraṁ māpentī”ti?
“Sunidhavassakārā, bhante, magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāyā”ti.
“Seyyathāpi, ānanda, devehi tāvatiṁsehi saddhiṁ mantetvā;
evameva kho, ānanda, sunidhavassakārā magadhamahāmattā pāṭaligāme nagaraṁ māpenti vajjīnaṁ paṭibāhāya.
Idhāhaṁ, ānanda, addasaṁ dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena sambahulā devatāyo sahasseva pāṭaligāme vatthūni pariggaṇhantiyo.
Yasmiṁ, ānanda, padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggaṇhanti, mahesakkhānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese majjhimā devatā vatthūni pariggaṇhanti, majjhimānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yasmiṁ padese nīcā devatā vatthūni pariggaṇhanti, nīcānaṁ tattha raññaṁ rājamahāmattānaṁ cittāni namanti nivesanāni māpetuṁ.
Yāvatā, ānanda, ariyaṁ āyatanaṁ yāvatā vaṇippatho idaṁ agganagaraṁ bhavissati pāṭaliputtaṁ puṭabhedanaṁ.
Pāṭaliputtassa kho, ānanda, tayo antarāyā bhavissanti—
aggito vā udakato vā mithubhedā vā”ti.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu,
sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu, ekamantaṁ ṭhitā kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“adhivāsetu no bhavaṁ gotamo ajjatanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā yena sako āvasatho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sake āvasathe paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesuṁ:
“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena sunidhavassakārānaṁ magadhamahāmattānaṁ āvasatho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesuṁ sampavāresuṁ.
Atha kho sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinne kho sunidhavassakāre magadhamahāmatte bhagavā imāhi gāthāhi anumodi:
“Yasmiṁ padese kappeti,
vāsaṁ paṇḍitajātiyo;
Sīlavantettha bhojetvā,
saññate brahmacārayo.
Yā tattha devatā āsuṁ,
tāsaṁ dakkhiṇamādise;
Tā pūjitā pūjayanti,
mānitā mānayanti naṁ.
Tato naṁ anukampanti,
mātā puttaṁva orasaṁ;
Devatānukampito poso,
sadā bhadrāni passatī”ti.
Atha kho bhagavā sunidhavassakāre magadhamahāmatte imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Tena kho pana samayena sunidhavassakārā magadhamahāmattā bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhā honti:
“yenajja samaṇo gotamo dvārena nikkhamissati, taṁ gotamadvāraṁ nāma bhavissati.
Yena titthena gaṅgaṁ nadiṁ tarissati, taṁ gotamatitthaṁ nāma bhavissatī”ti.
Atha kho bhagavā yena dvārena nikkhami, taṁ gotamadvāraṁ nāma ahosi.
Atha kho bhagavā yena gaṅgā nadī tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena gaṅgā nadī pūrā hoti samatittikā kākapeyyā.
Appekacce manussā nāvaṁ pariyesanti, appekacce uḷumpaṁ pariyesanti, appekacce kullaṁ bandhanti apārā, pāraṁ gantukāmā.
Atha kho bhagavā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—gaṅgāya nadiyā orimatīre antarahito pārimatīre paccuṭṭhāsi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Addasā kho bhagavā te manusse appekacce nāvaṁ pariyesante appekacce uḷumpaṁ pariyesante appekacce kullaṁ bandhante apārā pāraṁ gantukāme.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Ye taranti aṇṇavaṁ saraṁ,
Setuṁ katvāna visajja pallalāni;
Kullañhi jano bandhati,
Tiṇṇā medhāvino janā”ti.
Paṭhamabhāṇavāro.
8. Ariyasaccakathā
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena koṭigāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena koṭigāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā koṭigāme viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Catunnaṁ, bhikkhave, ariyasaccānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Dukkhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Dukkhasamudayassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Dukkhanirodhassa, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya, bhikkhave, ariyasaccassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Tayidaṁ, bhikkhave, dukkhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhasamudayaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhaṁ ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Catunnaṁ ariyasaccānaṁ,
yathābhūtaṁ adassanā;
Saṁsitaṁ dīghamaddhānaṁ,
tāsu tāsveva jātisu.
Tāni etāni diṭṭhāni,
bhavanetti samūhatā;
Ucchinnaṁ mūlaṁ dukkhassa,
natthi dāni punabbhavo”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā koṭigāme viharanto etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
9. Anāvattidhammasambodhiparāyaṇa
Atha kho bhagavā koṭigāme yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena nātikā tenupaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nātikā tadavasari.
Tatrapi sudaṁ bhagavā nātike viharati giñjakāvasathe.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sāḷho nāma, bhante, bhikkhu nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo?
Nandā nāma, bhante, bhikkhunī nātike kālaṅkatā, tassā kā gati, ko abhisamparāyo?
Sudatto nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo?
Sujātā nāma, bhante, upāsikā nātike kālaṅkatā, tassā kā gati, ko abhisamparāyo?
Kukkuṭo nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo?
Kāḷimbo nāma, bhante, upāsako …pe…
nikaṭo nāma, bhante, upāsako …
kaṭissaho nāma, bhante, upāsako …
tuṭṭho nāma, bhante, upāsako …
santuṭṭho nāma, bhante, upāsako …
bhaddo nāma, bhante, upāsako …
subhaddo nāma, bhante, upāsako nātike kālaṅkato, tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
“Sāḷho, ānanda, bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
Nandā, ānanda, bhikkhunī pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyinī anāvattidhammā tasmā lokā.
Sudatto, ānanda, upāsako tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissati.
Sujātā, ānanda, upāsikā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
Kukkuṭo, ānanda, upāsako pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Kāḷimbo, ānanda, upāsako …pe…
nikaṭo, ānanda, upāsako …
kaṭissaho, ānanda, upāsako …
tuṭṭho, ānanda, upāsako …
santuṭṭho, ānanda, upāsako …
bhaddo, ānanda, upāsako …
subhaddo, ānanda, upāsako pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Paropaññāsaṁ, ānanda, nātike upāsakā kālaṅkatā, pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātikā tattha parinibbāyino anāvattidhammā tasmā lokā.
Sādhikā navuti, ānanda, nātike upāsakā kālaṅkatā tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmino sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karissanti.
Sātirekāni, ānanda, pañcasatāni nātike upāsakā kālaṅkatā, tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā.
10. Dhammādāsadhammapariyāya
Anacchariyaṁ kho panetaṁ, ānanda, yaṁ manussabhūto kālaṁ kareyya.
Tasmiṁyeva kālaṅkate tathāgataṁ upasaṅkamitvā etamatthaṁ pucchissatha, vihesā hesā, ānanda, tathāgatassa.
Tasmātihānanda, dhammādāsaṁ nāma dhammapariyāyaṁ desessāmi, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Katamo ca so, ānanda, dhammādāso dhammapariyāyo, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti?
Idhānanda, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
Dhamme aveccappasādena samannāgato hoti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti.
Saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti:
‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassā’ti.
Ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññūpasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṁvattanikehi.
Ayaṁ kho so, ānanda, dhammādāso dhammapariyāyo, yena samannāgato ariyasāvako ākaṅkhamāno attanāva attānaṁ byākareyya:
‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā nātike viharanto giñjakāvasathe etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“Iti sīlaṁ iti samādhi iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
(…)
Atha kho bhagavā nātike yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena vesālī tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena vesālī tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati ambapālivane.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno,
ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sato hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu vedanānupassī …pe…
citte cittānupassī …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sato hoti.
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti?
Idha, bhikkhave, bhikkhu abhikkante paṭikkante sampajānakārī hoti, ālokite vilokite sampajānakārī hoti, samiñjite pasārite sampajānakārī hoti, saṅghāṭipattacīvaradhāraṇe sampajānakārī hoti, asite pīte khāyite sāyite sampajānakārī hoti, uccārapassāvakamme sampajānakārī hoti, gate ṭhite nisinne sutte jāgarite bhāsite tuṇhībhāve sampajānakārī hoti.
Evaṁ kho, bhikkhave, bhikkhu sampajāno hoti.
Sato, bhikkhave, bhikkhu vihareyya sampajāno,
ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
11. Ambapālīgaṇikā
Assosi kho ambapālī gaṇikā: “bhagavā kira vesāliṁ anuppatto vesāliyaṁ viharati mayhaṁ ambavane”ti.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhaddāni bhaddāni yānāni yojāpetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi vesāliyā niyyāsi. Yena sako ārāmo tena pāyāsi.
Yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ambapāliṁ gaṇikaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavoca:
“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Assosuṁ kho vesālikā licchavī: “bhagavā kira vesāliṁ anuppatto vesāliyaṁ viharati ambapālivane”ti.
Atha kho te licchavī bhaddāni bhaddāni yānāni yojāpetvā bhaddaṁ bhaddaṁ yānaṁ abhiruhitvā bhaddehi bhaddehi yānehi vesāliyā niyyiṁsu.
Tatra ekacce licchavī nīlā honti nīlavaṇṇā nīlavatthā nīlālaṅkārā, ekacce licchavī pītā honti pītavaṇṇā pītavatthā pītālaṅkārā, ekacce licchavī lohitā honti lohitavaṇṇā lohitavatthā lohitālaṅkārā, ekacce licchavī odātā honti odātavaṇṇā odātavatthā odātālaṅkārā.
Atha kho ambapālī gaṇikā daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ akkhena akkhaṁ cakkena cakkaṁ yugena yugaṁ paṭivaṭṭesi.
Atha kho te licchavī ambapāliṁ gaṇikaṁ etadavocuṁ:
“kiṁ, je ambapāli, daharānaṁ daharānaṁ licchavīnaṁ akkhena akkhaṁ cakkena cakkaṁ yugena yugaṁ paṭivaṭṭesī”ti?
“Tathā hi pana me, ayyaputtā, bhagavā nimantito svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Dehi, je ambapāli, etaṁ bhattaṁ satasahassenā”ti.
“Sacepi me, ayyaputtā, vesāliṁ sāhāraṁ dassatha, evamahaṁ taṁ bhattaṁ na dassāmī”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ:
“jitamha vata bho ambakāya, jitamha vata bho ambakāyā”ti.
Atha kho te licchavī yena ambapālivanaṁ tena pāyiṁsu.
Addasā kho bhagavā te licchavī dūratova āgacchante.
Disvāna bhikkhū āmantesi:
“yesaṁ, bhikkhave, bhikkhūnaṁ devā tāvatiṁsā adiṭṭhapubbā, oloketha, bhikkhave, licchaviparisaṁ;
apaloketha, bhikkhave, licchaviparisaṁ;
upasaṁharatha, bhikkhave, licchaviparisaṁ—
tāvatiṁsasadisan”ti.
Atha kho te licchavī yāvatikā yānassa bhūmi, yānena gantvā, yānā paccorohitvā pattikāva yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Ekamantaṁ nisinne kho te licchavī bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho te licchavī bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“adhivāsetu no, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Atha kho bhagavā te licchavī etadavoca:
“adhivutthaṁ kho me, licchavī, svātanāya ambapāliyā gaṇikāya bhattan”ti.
Atha kho te licchavī aṅguliṁ phoṭesuṁ:
“jitamha vata bho ambakāya, jitamha vata bho ambakāyā”ti.
Atha kho te licchavī bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho ambapālī gaṇikā tassā rattiyā accayena sake ārāme paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi:
“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena ambapāliyā gaṇikāya nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Atha kho ambapālī gaṇikā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho ambapālī gaṇikā bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnā kho ambapālī gaṇikā bhagavantaṁ etadavoca:
“imāhaṁ, bhante, ārāmaṁ buddhappamukhassa bhikkhusaṅghassa dammī”ti.
Paṭiggahesi bhagavā ārāmaṁ.
Atha kho bhagavā ambapāliṁ gaṇikaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Tatrapi sudaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharanto ambapālivane etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
12. Veḷuvagāmavassūpagamana
Atha kho bhagavā ambapālivane yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena veḷuvagāmako tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena veḷuvagāmako tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā veḷuvagāmake viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“etha tumhe, bhikkhave, samantā vesāliṁ yathāmittaṁ yathāsandiṭṭhaṁ yathāsambhattaṁ vassaṁ upetha.
Ahaṁ pana idheva veḷuvagāmake vassaṁ upagacchāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā samantā vesāliṁ yathāmittaṁ yathāsandiṭṭhaṁ yathāsambhattaṁ vassaṁ upagacchiṁsu.
Bhagavā pana tattheva veḷuvagāmake vassaṁ upagacchi.
Atha kho bhagavato vassūpagatassa kharo ābādho uppajji, bāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā.
Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“na kho metaṁ patirūpaṁ, yvāhaṁ anāmantetvā upaṭṭhāke anapaloketvā bhikkhusaṅghaṁ parinibbāyeyyaṁ.
Yannūnāhaṁ imaṁ ābādhaṁ vīriyena paṭipaṇāmetvā jīvitasaṅkhāraṁ adhiṭṭhāya vihareyyan”ti.
Atha kho bhagavā taṁ ābādhaṁ vīriyena paṭipaṇāmetvā jīvitasaṅkhāraṁ adhiṭṭhāya vihāsi.
Atha kho bhagavato so ābādho paṭippassambhi.
Atha kho bhagavā gilānā vuṭṭhito aciravuṭṭhito gelaññā vihārā nikkhamma vihārapacchāyāyaṁ paññatte āsane nisīdi.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“diṭṭho me, bhante, bhagavato phāsu; diṭṭhaṁ me, bhante, bhagavato khamanīyaṁ, api ca me, bhante, madhurakajāto viya kāyo, disāpi me na pakkhāyanti, dhammāpi maṁ na paṭibhanti bhagavato gelaññena.
Api ca me, bhante, ahosi kācideva assāsamattā:
‘na tāva bhagavā parinibbāyissati, na yāva bhagavā bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāharatī’”ti.
“Kiṁ panānanda, bhikkhusaṅgho mayi paccāsīsati?
Desito, ānanda, mayā dhammo anantaraṁ abāhiraṁ karitvā.
Natthānanda, tathāgatassa dhammesu ācariyamuṭṭhi.
Yassa nūna, ānanda, evamassa:
‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti vā ‘mamuddesiko bhikkhusaṅgho’ti vā, so nūna, ānanda, bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāhareyya.
Tathāgatassa kho, ānanda, na evaṁ hoti:
‘ahaṁ bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmī’ti vā ‘mamuddesiko bhikkhusaṅgho’ti vā.
Sakiṁ, ānanda, tathāgato bhikkhusaṅghaṁ ārabbha kiñcideva udāharissati.
Ahaṁ kho panānanda, etarahi jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayo anuppatto.
Āsītiko me vayo vattati.
Seyyathāpi, ānanda, jajjarasakaṭaṁ veṭhamissakena yāpeti;
evameva kho, ānanda, veṭhamissakena maññe tathāgatassa kāyo yāpeti.
Yasmiṁ, ānanda, samaye tathāgato sabbanimittānaṁ amanasikārā ekaccānaṁ vedanānaṁ nirodhā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati, phāsutaro, ānanda, tasmiṁ samaye tathāgatassa kāyo hoti.
Tasmātihānanda, attadīpā viharatha attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā.
Kathañcānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo?
Idhānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati atāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu attadīpo viharati attasaraṇo anaññasaraṇo, dhammadīpo dhammasaraṇo anaññasaraṇo.
Ye hi keci, ānanda, etarahi vā mama vā accayena attadīpā viharissanti attasaraṇā anaññasaraṇā, dhammadīpā dhammasaraṇā anaññasaraṇā, tamatagge me te, ānanda, bhikkhū bhavissanti ye keci sikkhākāmā”ti.
Dutiyabhāṇavāro.
13. Nimittobhāsakathā
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaṇhāhi, ānanda, nisīdanaṁ,
yena cāpālaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkamissāma divā vihārāyā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā nisīdanaṁ ādāya bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
Atha kho bhagavā yena cāpālaṁ cetiyaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Āyasmāpi kho ānando bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ;
na bhagavantaṁ yāci:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto.
Dutiyampi kho bhagavā …pe…
tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā”ti.
Evampi kho āyasmā ānando bhagavatā oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ;
na bhagavantaṁ yāci:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti, yathā taṁ mārena pariyuṭṭhitacitto.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaccha tvaṁ, ānanda,
yassadāni kālaṁ maññasī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
14. Mārayācanakathā
Atha kho māro pāpimā acirapakkante āyasmante ānande yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho māro pāpimā bhagavantaṁ etadavoca:
“parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhikkhū bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhikkhuniyo bhagavato sāvikā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, upāsakā bhagavato sāvakā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessantī’ti.
Etarahi kho pana, bhante, upāsikā bhagavato sāvikā viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhanti desenti paññapenti paṭṭhapenti vivaranti vibhajanti uttānīkaronti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desenti.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
‘na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan’ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhagavato brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā māraṁ pāpimantaṁ etadavoca:
“appossukko tvaṁ, pāpima, hohi, na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī”ti.
15. Āyusaṅkhāraossajjana
Atha kho bhagavā cāpāle cetiye sato sampajāno āyusaṅkhāraṁ ossaji.
Ossaṭṭhe ca bhagavatā āyusaṅkhāre mahābhūmicālo ahosi bhiṁsanako salomahaṁso, devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Tulamatulañca sambhavaṁ,
Bhavasaṅkhāramavassaji muni;
Ajjhattarato samāhito,
Abhindi kavacamivattasambhavan”ti.
16. Mahābhūmicālahetu
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, mahā vatāyaṁ bhūmicālo;
sumahā vatāyaṁ bhūmicālo bhiṁsanako salomahaṁso; devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Ko nu kho hetu ko paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā”ti?
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami,
upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi,
ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Mahā vatāyaṁ, bhante, bhūmicālo;
sumahā vatāyaṁ, bhante, bhūmicālo bhiṁsanako salomahaṁso; devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāyā”ti?
“Aṭṭha kho ime, ānanda, hetū, aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Katame aṭṭha?
Ayaṁ, ānanda, mahāpathavī udake patiṭṭhitā, udakaṁ vāte patiṭṭhitaṁ, vāto ākāsaṭṭho. Hoti kho so, ānanda, samayo, yaṁ mahāvātā vāyanti. Mahāvātā vāyantā udakaṁ kampenti. Udakaṁ kampitaṁ pathaviṁ kampeti.
Ayaṁ paṭhamo hetu paṭhamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, samaṇo vā hoti brāhmaṇo vā iddhimā cetovasippatto, devo vā mahiddhiko mahānubhāvo, tassa parittā pathavīsaññā bhāvitā hoti, appamāṇā āposaññā. So imaṁ pathaviṁ kampeti saṅkampeti sampakampeti sampavedheti.
Ayaṁ dutiyo hetu dutiyo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā bodhisatto tusitakāyā cavitvā sato sampajāno mātukucchiṁ okkamati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ tatiyo hetu tatiyo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā bodhisatto sato sampajāno mātukucchismā nikkhamati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ catuttho hetu catuttho paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ pañcamo hetu pañcamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavatteti, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ chaṭṭho hetu chaṭṭho paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato sato sampajāno āyusaṅkhāraṁ ossajjati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ sattamo hetu sattamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Puna caparaṁ, ānanda, yadā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati, tadāyaṁ pathavī kampati saṅkampati sampakampati sampavedhati.
Ayaṁ aṭṭhamo hetu aṭṭhamo paccayo mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
Ime kho, ānanda, aṭṭha hetū, aṭṭha paccayā mahato bhūmicālassa pātubhāvāya.
17. Aṭṭhaparisā
Aṭṭha kho imā, ānanda, parisā.
Katamā aṭṭha?
Khattiyaparisā, brāhmaṇaparisā, gahapatiparisā, samaṇaparisā, cātumahārājikaparisā, tāvatiṁsaparisā, māraparisā, brahmaparisā.
Abhijānāmi kho panāhaṁ, ānanda, anekasataṁ khattiyaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti, tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti. Yādisako tesaṁ saro hoti, tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti?
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti?
Abhijānāmi kho panāhaṁ, ānanda, anekasataṁ brāhmaṇaparisaṁ …pe…
gahapatiparisaṁ …
samaṇaparisaṁ …
cātumahārājikaparisaṁ …
tāvatiṁsaparisaṁ …
māraparisaṁ …
brahmaparisaṁ upasaṅkamitā.
Tatrapi mayā sannisinnapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā.
Tattha yādisako tesaṁ vaṇṇo hoti, tādisako mayhaṁ vaṇṇo hoti.
Yādisako tesaṁ saro hoti, tādisako mayhaṁ saro hoti.
Dhammiyā kathāya sandassemi samādapemi samuttejemi sampahaṁsemi.
Bhāsamānañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ bhāsati devo vā manusso vā’ti?
Dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā antaradhāyāmi.
Antarahitañca maṁ na jānanti:
‘ko nu kho ayaṁ antarahito devo vā manusso vā’ti?
Imā kho, ānanda, aṭṭha parisā.
18. Aṭṭhaabhibhāyatana
Aṭṭha kho imāni, ānanda, abhibhāyatanāni.
Katamāni aṭṭha?
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ paṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ rūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ dutiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati parittāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ tatiyaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati appamāṇāni suvaṇṇadubbaṇṇāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ catutthaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma umāpupphaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ nīlaṁ nīlavaṇṇaṁ nīlanidassanaṁ nīlanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati nīlāni nīlavaṇṇāni nīlanidassanāni nīlanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ pañcamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma kaṇikārapupphaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ pītaṁ pītavaṇṇaṁ pītanidassanaṁ pītanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati pītāni pītavaṇṇāni pītanidassanāni pītanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ chaṭṭhaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma bandhujīvakapupphaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ lohitakaṁ lohitakavaṇṇaṁ lohitakanidassanaṁ lohitakanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati lohitakāni lohitakavaṇṇāni lohitakanidassanāni lohitakanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ sattamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni.
Seyyathāpi nāma osadhitārakā odātā odātavaṇṇā odātanidassanā odātanibhāsā. Seyyathā vā pana taṁ vatthaṁ bārāṇaseyyakaṁ ubhatobhāgavimaṭṭhaṁ odātaṁ odātavaṇṇaṁ odātanidassanaṁ odātanibhāsaṁ.
Evameva ajjhattaṁ arūpasaññī eko bahiddhā rūpāni passati odātāni odātavaṇṇāni odātanidassanāni odātanibhāsāni.
‘Tāni abhibhuyya jānāmi passāmī’ti evaṁsaññī hoti.
Idaṁ aṭṭhamaṁ abhibhāyatanaṁ.
Imāni kho, ānanda, aṭṭha abhibhāyatanāni.
19. Aṭṭhavimokkha
Aṭṭha kho ime, ānanda, vimokkhā.
Katame aṭṭha?
Rūpī rūpāni passati,
ayaṁ paṭhamo vimokkho.
Ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati,
ayaṁ dutiyo vimokkho.
Subhanteva adhimutto hoti,
ayaṁ tatiyo vimokkho.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ catuttho vimokkho.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ pañcamo vimokkho.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ sattamo vimokkho.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati,
ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
Ime kho, ānanda, aṭṭha vimokkhā.
(…)
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ uruvelāyaṁ viharāmi najjā nerañjarāya tīre ajapālanigrodhe paṭhamābhisambuddho.
Atha kho, ānanda, māro pāpimā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, ānanda, māro pāpimā maṁ etadavoca:
‘parinibbātu dāni, bhante, bhagavā; parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, ānanda, māraṁ pāpimantaṁ etadavocaṁ:
‘Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacārino, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti viyattā vinītā visāradā bahussutā dhammadharā dhammānudhammappaṭipannā sāmīcippaṭipannā anudhammacāriniyo, sakaṁ ācariyakaṁ uggahetvā ācikkhissanti desessanti paññapessanti paṭṭhapessanti vivarissanti vibhajissanti uttānīkarissanti, uppannaṁ parappavādaṁ sahadhammena suniggahitaṁ niggahetvā sappāṭihāriyaṁ dhammaṁ desessanti.
Na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ yāva devamanussehi suppakāsitan’ti.
Idāneva kho, ānanda, ajja cāpāle cetiye māro pāpimā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, ānanda, māro pāpimā maṁ etadavoca:
‘parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato.
Bhāsitā kho panesā, bhante, bhagavatā vācā:
“na tāvāhaṁ, pāpima, parinibbāyissāmi, yāva me bhikkhū na sāvakā bhavissanti …pe…
yāva me bhikkhuniyo na sāvikā bhavissanti …pe…
yāva me upāsakā na sāvakā bhavissanti …pe…
yāva me upāsikā na sāvikā bhavissanti …pe…
yāva me idaṁ brahmacariyaṁ na iddhañceva bhavissati phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitan”ti.
Etarahi kho pana, bhante, bhagavato brahmacariyaṁ iddhañceva phītañca vitthārikaṁ bāhujaññaṁ puthubhūtaṁ, yāva devamanussehi suppakāsitaṁ.
Parinibbātu dāni, bhante, bhagavā, parinibbātu sugato, parinibbānakālo dāni, bhante, bhagavato’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, ānanda, māraṁ pāpimantaṁ etadavocaṁ:
‘appossukko tvaṁ, pāpima, hohi, na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti.
Idāneva kho, ānanda, ajja cāpāle cetiye tathāgatena satena sampajānena āyusaṅkhāro ossaṭṭho”ti.
20. Ānandayācanakathā
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
“Alaṁ dāni, ānanda.
Mā tathāgataṁ yāci, akālo dāni, ānanda, tathāgataṁ yācanāyā”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando …pe…
tatiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
“Saddahasi tvaṁ, ānanda, tathāgatassa bodhin”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Atha kiñcarahi tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāvatatiyakaṁ abhinippīḷesī”ti?
“Sammukhā metaṁ, bhante, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
‘yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā. So ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’”ti.
“Saddahasi tvaṁ, ānandā”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ, yaṁ tvaṁ tathāgatena evaṁ oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ rājagahe viharāmi gijjhakūṭe pabbate.
Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ:
‘ramaṇīyaṁ, ānanda, rājagahaṁ, ramaṇīyo, ānanda, gijjhakūṭo pabbato.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ tattheva rājagahe viharāmi gotamanigrodhe …pe…
tattheva rājagahe viharāmi corapapāte …
tattheva rājagahe viharāmi vebhārapasse sattapaṇṇiguhāyaṁ …
tattheva rājagahe viharāmi isigilipasse kāḷasilāyaṁ …
tattheva rājagahe viharāmi sītavane sappasoṇḍikapabbhāre …
tattheva rājagahe viharāmi tapodārāme …
tattheva rājagahe viharāmi veḷuvane kalandakanivāpe …
tattheva rājagahe viharāmi jīvakambavane …
tattheva rājagahe viharāmi maddakucchismiṁ migadāye.
Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ:
‘ramaṇīyaṁ, ānanda, rājagahaṁ, ramaṇīyo gijjhakūṭo pabbato, ramaṇīyo gotamanigrodho, ramaṇīyo corapapāto, ramaṇīyā vebhārapasse sattapaṇṇiguhā, ramaṇīyā isigilipasse kāḷasilā, ramaṇīyo sītavane sappasoṇḍikapabbhāro, ramaṇīyo tapodārāmo, ramaṇīyo veḷuvane kalandakanivāpo, ramaṇīyaṁ jīvakambavanaṁ, ramaṇīyo maddakucchismiṁ migadāyo.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā …pe…
ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ idheva vesāliyaṁ viharāmi udene cetiye.
Tatrāpi kho tāhaṁ, ānanda, āmantesiṁ:
‘ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu, bhante, bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya, tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Ekamidāhaṁ, ānanda, samayaṁ idheva vesāliyaṁ viharāmi gotamake cetiye …pe…
idheva vesāliyaṁ viharāmi sattambe cetiye …
idheva vesāliyaṁ viharāmi bahuputte cetiye …
idheva vesāliyaṁ viharāmi sārandade cetiye …
idāneva kho tāhaṁ, ānanda, ajja cāpāle cetiye āmantesiṁ:
‘ramaṇīyā, ānanda, vesālī, ramaṇīyaṁ udenaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ gotamakaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sattambaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ bahuputtaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ sārandadaṁ cetiyaṁ, ramaṇīyaṁ cāpālaṁ cetiyaṁ.
Yassa kassaci, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā.
Tathāgatassa kho, ānanda, cattāro iddhipādā bhāvitā bahulīkatā yānīkatā vatthukatā anuṭṭhitā paricitā susamāraddhā, so ākaṅkhamāno, ānanda, tathāgato kappaṁ vā tiṭṭheyya kappāvasesaṁ vā’ti.
Evampi kho tvaṁ, ānanda, tathāgatena oḷārike nimitte kayiramāne oḷārike obhāse kayiramāne nāsakkhi paṭivijjhituṁ, na tathāgataṁ yāci:
‘tiṭṭhatu bhagavā kappaṁ, tiṭṭhatu sugato kappaṁ bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan’ti.
Sace tvaṁ, ānanda, tathāgataṁ yāceyyāsi, dveva te vācā tathāgato paṭikkhipeyya, atha tatiyakaṁ adhivāseyya.
Tasmātihānanda, tuyhevetaṁ dukkaṭaṁ, tuyhevetaṁ aparaddhaṁ.
Nanu etaṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo.
Taṁ kutettha, ānanda, labbhā, yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati’.
Yaṁ kho panetaṁ, ānanda, tathāgatena cattaṁ vantaṁ muttaṁ pahīnaṁ paṭinissaṭṭhaṁ ossaṭṭho āyusaṅkhāro, ekaṁsena vācā bhāsitā:
‘na ciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī’ti.
Tañca tathāgato jīvitahetu puna paccāvamissatīti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Āyāmānanda, yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā āyasmatā ānandena saddhiṁ yena mahāvanaṁ kūṭāgārasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gaccha tvaṁ, ānanda, yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yāvatikā bhikkhū vesāliṁ upanissāya viharanti, te sabbe upaṭṭhānasālāyaṁ sannipātetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“sannipatito, bhante, bhikkhusaṅgho, yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
(…)
Atha kho bhagavā yenupaṭṭhānasālā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“tasmātiha, bhikkhave, ye te mayā dhammā abhiññā desitā, te vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Katame ca te, bhikkhave, dhammā mayā abhiññā desitā, ye vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānaṁ.
Seyyathidaṁ—cattāro satipaṭṭhānā, cattāro sammappadhānā, cattāro iddhipādā, pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Ime kho te, bhikkhave, dhammā mayā abhiññā desitā, ye vo sādhukaṁ uggahetvā āsevitabbā bhāvetabbā bahulīkātabbā, yathayidaṁ brahmacariyaṁ addhaniyaṁ assa ciraṭṭhitikaṁ, tadassa bahujanahitāya bahujanasukhāya lokānukampāya atthāya hitāya sukhāya devamanussānan”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo,
vayadhammā saṅkhārā, appamādena sampādetha.
Naciraṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ito tiṇṇaṁ māsānaṁ accayena tathāgato parinibbāyissatī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Paripakko vayo mayhaṁ,
parittaṁ mama jīvitaṁ;
Pahāya vo gamissāmi,
kataṁ me saraṇamattano.
Appamattā satīmanto,
susīlā hotha bhikkhavo;
Susamāhitasaṅkappā,
sacittamanurakkhatha.
Yo imasmiṁ dhammavinaye,
appamatto vihassati;
Pahāya jātisaṁsāraṁ,
dukkhassantaṁ karissatī”ti.
Tatiyo bhāṇavāro.
21. Nāgāpalokita
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto nāgāpalokitaṁ vesāliṁ apaloketvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“idaṁ pacchimakaṁ, ānanda, tathāgatassa vesāliyā dassanaṁ bhavissati.
Āyāmānanda, yena bhaṇḍagāmo tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena bhaṇḍagāmo tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā bhaṇḍagāme viharati.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“catunnaṁ, bhikkhave, dhammānaṁ ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Katamesaṁ catunnaṁ?
Ariyassa, bhikkhave, sīlassa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Ariyassa, bhikkhave, samādhissa ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Ariyāya, bhikkhave, paññāya ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Ariyāya, bhikkhave, vimuttiyā ananubodhā appaṭivedhā evamidaṁ dīghamaddhānaṁ sandhāvitaṁ saṁsaritaṁ mamañceva tumhākañca.
Tayidaṁ, bhikkhave, ariyaṁ sīlaṁ anubuddhaṁ paṭividdhaṁ, ariyo samādhi anubuddho paṭividdho, ariyā paññā anubuddhā paṭividdhā, ariyā vimutti anubuddhā paṭividdhā, ucchinnā bhavataṇhā, khīṇā bhavanetti, natthi dāni punabbhavo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Sīlaṁ samādhi paññā ca,
vimutti ca anuttarā;
Anubuddhā ime dhammā,
gotamena yasassinā.
Iti buddho abhiññāya,
dhammamakkhāsi bhikkhunaṁ;
Dukkhassantakaro satthā,
cakkhumā parinibbuto”ti.
Tatrāpi sudaṁ bhagavā bhaṇḍagāme viharanto etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
22. Catumahāpadesakathā
Atha kho bhagavā bhaṇḍagāme yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena hatthigāmo,
yena ambagāmo,
yena jambugāmo,
yena bhoganagaraṁ tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena bhoganagaraṁ tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā bhoganagare viharati ānande cetiye.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“cattārome, bhikkhave, mahāpadese desessāmi,
taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasikarotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Idha, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘sammukhā metaṁ, āvuso, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ,
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
imassa ca bhikkhuno duggahitan’ti.
Iti hetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
imassa ca bhikkhuno suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, paṭhamaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘amukasmiṁ nāma āvāse saṅgho viharati sathero sapāmokkho.
Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ,
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca saṅghassa duggahitan’ti.
Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca saṅghassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, dutiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘amukasmiṁ nāma āvāse sambahulā therā bhikkhū viharanti bahussutā āgatāgamā dhammadharā vinayadharā mātikādharā.
Tesaṁ me therānaṁ sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ …
pe…
na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
tesañca therānaṁ duggahitan’ti.
Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ce sutte osāriyamānāni …pe…
vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
tesañca therānaṁ suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, tatiyaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Idha pana, bhikkhave, bhikkhu evaṁ vadeyya:
‘amukasmiṁ nāma āvāse eko thero bhikkhu viharati bahussuto āgatāgamo dhammadharo vinayadharo mātikādharo.
Tassa me therassa sammukhā sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ—
ayaṁ dhammo ayaṁ vinayo idaṁ satthusāsanan’ti.
Tassa, bhikkhave, bhikkhuno bhāsitaṁ neva abhinanditabbaṁ nappaṭikkositabbaṁ.
Anabhinanditvā appaṭikkositvā tāni padabyañjanāni sādhukaṁ uggahetvā sutte osāretabbāni, vinaye sandassetabbāni.
Tāni ce sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni na ceva sutte osaranti, na ca vinaye sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ na ceva tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca therassa duggahitan’ti.
Itihetaṁ, bhikkhave, chaḍḍeyyātha.
Tāni ca sutte osāriyamānāni vinaye sandassiyamānāni sutte ceva osaranti, vinaye ca sandissanti, niṭṭhamettha gantabbaṁ:
‘addhā idaṁ tassa bhagavato vacanaṁ;
tassa ca therassa suggahitan’ti.
Idaṁ, bhikkhave, catutthaṁ mahāpadesaṁ dhāreyyātha.
Ime kho, bhikkhave, cattāro mahāpadese dhāreyyāthā”ti.
Tatrapi sudaṁ bhagavā bhoganagare viharanto ānande cetiye etadeva bahulaṁ bhikkhūnaṁ dhammiṁ kathaṁ karoti:
“iti sīlaṁ, iti samādhi, iti paññā.
Sīlaparibhāvito samādhi mahapphalo hoti mahānisaṁso.
Samādhiparibhāvitā paññā mahapphalā hoti mahānisaṁsā.
Paññāparibhāvitaṁ cittaṁ sammadeva āsavehi vimuccati, seyyathidaṁ—
kāmāsavā, bhavāsavā, avijjāsavā”ti.
23. Kammāraputtacundavatthu
Atha kho bhagavā bhoganagare yathābhirantaṁ viharitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena pāvā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena pāvā tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā pāvāyaṁ viharati cundassa kammāraputtassa ambavane.
Assosi kho cundo kammāraputto: “bhagavā kira pāvaṁ anuppatto, pāvāyaṁ viharati mayhaṁ ambavane”ti.
Atha kho cundo kammāraputto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho cundo kammāraputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca:
“adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho cundo kammāraputto bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho cundo kammāraputto tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā pahūtañca sūkaramaddavaṁ bhagavato kālaṁ ārocāpesi:
“kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena cundassa kammāraputtassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Nisajja kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi:
“yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ, tena maṁ parivisa.
Yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ, tena bhikkhusaṅghaṁ parivisā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ paṭiyattaṁ, tena bhagavantaṁ parivisi.
Yaṁ panaññaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ, tena bhikkhusaṅghaṁ parivisi.
Atha kho bhagavā cundaṁ kammāraputtaṁ āmantesi:
“yaṁ te, cunda, sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ, taṁ sobbhe nikhaṇāhi.
Nāhaṁ taṁ, cunda, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yassa taṁ paribhuttaṁ sammā pariṇāmaṁ gaccheyya aññatra tathāgatassā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo kammāraputto bhagavato paṭissutvā yaṁ ahosi sūkaramaddavaṁ avasiṭṭhaṁ, taṁ sobbhe nikhaṇitvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho cundaṁ kammāraputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
(…)
Atha kho bhagavato cundassa kammāraputtassa bhattaṁ bhuttāvissa kharo ābādho uppajji, lohitapakkhandikā pabāḷhā vedanā vattanti māraṇantikā.
Tā sudaṁ bhagavā sato sampajāno adhivāsesi avihaññamāno.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena kusinārā tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Cundassa bhattaṁ bhuñjitvā,
kammārassāti me sutaṁ;
Ābādhaṁ samphusī dhīro,
pabāḷhaṁ māraṇantikaṁ.
Bhuttassa ca sūkaramaddavena,
Byādhippabāḷho udapādi satthuno;
Virecamāno bhagavā avoca,
“Gacchāmahaṁ kusināraṁ nagaran”ti.
24. Pānīyāharaṇa
Atha kho bhagavā maggā okkamma yena aññataraṁ rukkhamūlaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapehi, kilantosmi, ānanda, nisīdissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapesi.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idāni, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni, taṁ cakkacchinnaṁ udakaṁ parittaṁ luḷitaṁ āvilaṁ sandati.
Ayaṁ, bhante, kakudhā nadī avidūre acchodakā sātodakā sītodakā setodakā suppatitthā ramaṇīyā.
Ettha bhagavā pānīyañca pivissati, gattāni ca sītī karissatī”ti.
Dutiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
Dutiyampi kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idāni, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni, taṁ cakkacchinnaṁ udakaṁ parittaṁ luḷitaṁ āvilaṁ sandati.
Ayaṁ, bhante, kakudhā nadī avidūre acchodakā sātodakā sītodakā setodakā suppatitthā ramaṇīyā.
Ettha bhagavā pānīyañca pivissati, gattāni ca sītīkarissatī”ti.
Tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, pānīyaṁ āhara, pipāsitosmi, ānanda, pivissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā pattaṁ gahetvā yena sā nadikā tenupasaṅkami.
Atha kho sā nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā, āyasmante ānande upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandittha.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā.
Ayañhi sā nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandatī”ti.
Pattena pānīyaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, tathāgatassa mahiddhikatā mahānubhāvatā.
Idāni sā bhante nadikā cakkacchinnā parittā luḷitā āvilā sandamānā mayi upasaṅkamante acchā vippasannā anāvilā sandittha.
Pivatu bhagavā pānīyaṁ pivatu sugato pānīyan”ti.
Atha kho bhagavā pānīyaṁ apāyi.
25. Pukkusamallaputtavatthu
Tena kho pana samayena pukkuso mallaputto āḷārassa kālāmassa sāvako kusinārāya pāvaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Addasā kho pukkuso mallaputto bhagavantaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle nisinnaṁ.
Disvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pukkuso mallaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, santena vata, bhante, pabbajitā vihārena viharanti.
Bhūtapubbaṁ, bhante, āḷāro kālāmo addhānamaggappaṭipanno maggā okkamma avidūre aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni āḷāraṁ kālāmaṁ nissāya nissāya atikkamiṁsu.
Atha kho, bhante, aññataro puriso tassa sakaṭasatthassa piṭṭhito piṭṭhito āgacchanto yena āḷāro kālāmo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āḷāraṁ kālāmaṁ etadavoca:
‘api, bhante, pañcamattāni sakaṭasatāni atikkantāni addasā’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, addasan’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saddaṁ assosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, saddaṁ assosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, sutto ahosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, sutto ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saññī ahosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
‘So tvaṁ, bhante, saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva addasa, na pana saddaṁ assosi;
apisu te, bhante, saṅghāṭi rajena okiṇṇā’ti?
‘Evamāvuso’ti.
Atha kho, bhante, tassa purisassa etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, santena vata bho pabbajitā vihārena viharanti.
Yatra hi nāma saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva dakkhati, na pana saddaṁ sossatī’ti.
Āḷāre kālāme uḷāraṁ pasādaṁ pavedetvā pakkāmī”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, pukkusa,
katamaṁ nu kho dukkarataraṁ vā durabhisambhavataraṁ vā—
yo vā saññī samāno jāgaro pañcamattāni sakaṭasatāni nissāya nissāya atikkantāni neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyya;
yo vā saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyyā”ti?
“Kiñhi, bhante, karissanti pañca vā sakaṭasatāni cha vā sakaṭasatāni satta vā sakaṭasatāni aṭṭha vā sakaṭasatāni nava vā sakaṭasatāni, sakaṭasahassaṁ vā sakaṭasatasahassaṁ vā.
Atha kho etadeva dukkaratarañceva durabhisambhavatarañca yo saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva passeyya, na pana saddaṁ suṇeyyā”ti.
“Ekamidāhaṁ, pukkusa, samayaṁ ātumāyaṁ viharāmi bhusāgāre.
Tena kho pana samayena deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā avidūre bhusāgārassa dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā.
Atha kho, pukkusa, ātumāya mahājanakāyo nikkhamitvā yena te dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā tenupasaṅkami.
Tena kho panāhaṁ, pukkusa, samayena bhusāgārā nikkhamitvā bhusāgāradvāre abbhokāse caṅkamāmi.
Atha kho, pukkusa, aññataro puriso tamhā mahājanakāyā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho ahaṁ, pukkusa, taṁ purisaṁ etadavocaṁ:
‘kiṁ nu kho eso, āvuso, mahājanakāyo sannipatito’ti?
‘Idāni, bhante, deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā dve kassakā bhātaro hatā cattāro ca balibaddā.
Ettheso mahājanakāyo sannipatito.
Tvaṁ pana, bhante, kva ahosī’ti?
‘Idheva kho ahaṁ, āvuso, ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, addasā’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, addasan’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saddaṁ assosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, saddaṁ assosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, sutto ahosī’ti?
‘Na kho ahaṁ, āvuso, sutto ahosin’ti.
‘Kiṁ pana, bhante, saññī ahosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
‘So tvaṁ, bhante, saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva addasa, na pana saddaṁ assosī’ti?
‘Evamāvuso’ti.
Atha kho, pukkusa, tassa purisassa etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho, santena vata bho pabbajitā vihārena viharanti.
Yatra hi nāma saññī samāno jāgaro deve vassante deve gaḷagaḷāyante vijjullatāsu niccharantīsu asaniyā phalantiyā neva dakkhati, na pana saddaṁ sossatī’ti.
Mayi uḷāraṁ pasādaṁ pavedetvā maṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmī”ti.
Evaṁ vutte, pukkuso mallaputto bhagavantaṁ etadavoca:
“esāhaṁ, bhante, yo me āḷāre kālāme pasādo taṁ mahāvāte vā ophuṇāmi sīghasotāya vā nadiyā pavāhemi.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Atha kho pukkuso mallaputto aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, bhaṇe, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ āharā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so puriso pukkusassa mallaputtassa paṭissutvā taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ āhari.
Atha kho pukkuso mallaputto taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato upanāmesi:
“idaṁ, bhante, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ, taṁ me bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Tena hi, pukkusa, ekena maṁ acchādehi, ekena ānandan”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho pukkuso mallaputto bhagavato paṭissutvā ekena bhagavantaṁ acchādeti, ekena āyasmantaṁ ānandaṁ.
Atha kho bhagavā pukkusaṁ mallaputtaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho pukkuso mallaputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho āyasmā ānando acirapakkante pukkuse mallaputte taṁ siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato kāyaṁ upanāmesi.
Taṁ bhagavato kāyaṁ upanāmitaṁ hataccikaṁ viya khāyati.
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, yāva parisuddho, bhante, tathāgatassa chavivaṇṇo pariyodāto.
Idaṁ, bhante, siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ dhāraṇīyaṁ bhagavato kāyaṁ upanāmitaṁ hataccikaṁ viya khāyatī”ti.
“Evametaṁ, ānanda, evametaṁ, ānanda, dvīsu kālesu ativiya tathāgatassa kāyo parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto.
Katamesu dvīsu?
Yañca, ānanda, rattiṁ tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca rattiṁ anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati.
Imesu kho, ānanda, dvīsu kālesu ativiya tathāgatassa kāyo parisuddho hoti chavivaṇṇo pariyodāto.
Ajja kho panānanda, rattiyā pacchime yāme kusinārāyaṁ upavattane mallānaṁ sālavane antarena yamakasālānaṁ tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Āyāmānanda, yena kakudhā nadī tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Siṅgīvaṇṇaṁ yugamaṭṭhaṁ,
pukkuso abhihārayi;
Tena acchādito satthā,
hemavaṇṇo asobhathāti.
(…)
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena kakudhā nadī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kakudhaṁ nadiṁ ajjhogāhetvā nhatvā ca pivitvā ca paccuttaritvā yena ambavanaṁ tenupasaṅkami.
Upasaṅkamitvā āyasmantaṁ cundakaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, cundaka, catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapehi, kilantosmi, cundaka, nipajjissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā cundako bhagavato paṭissutvā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapesi.
Atha kho bhagavā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno uṭṭhānasaññaṁ manasikaritvā.
Āyasmā pana cundako tattheva bhagavato purato nisīdi.
Gantvāna buddho nadikaṁ kakudhaṁ,
Acchodakaṁ sātudakaṁ vippasannaṁ;
Ogāhi satthā akilantarūpo,
Tathāgato appaṭimo ca loke.
Nhatvā ca pivitvā cudatāri satthā,
Purakkhato bhikkhugaṇassa majjhe;
Vattā pavattā bhagavā idha dhamme,
Upāgami ambavanaṁ mahesi.
Āmantayi cundakaṁ nāma bhikkhuṁ,
Catugguṇaṁ santhara me nipajjaṁ;
So codito bhāvitattena cundo,
Catugguṇaṁ santhari khippameva;
Nipajji satthā akilantarūpo,
Cundopi tattha pamukhe nisīdīti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“siyā kho panānanda, cundassa kammāraputtassa koci vippaṭisāraṁ uppādeyya:
‘tassa te, āvuso cunda, alābhā tassa te dulladdhaṁ, yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto’ti.
Cundassa, ānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinetabbo:
‘tassa te, āvuso cunda, lābhā tassa te suladdhaṁ,
yassa te tathāgato pacchimaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā parinibbuto.
Sammukhā metaṁ, āvuso cunda, bhagavato sutaṁ sammukhā paṭiggahitaṁ:
dveme piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca.
Katame dve?
Yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhati, yañca piṇḍapātaṁ paribhuñjitvā tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbāyati.
Ime dve piṇḍapātā samasamaphalā samavipākā, ativiya aññehi piṇḍapātehi mahapphalatarā ca mahānisaṁsatarā ca.
Āyusaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, vaṇṇasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, sukhasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, yasasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, saggasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitaṁ, ādhipateyyasaṁvattanikaṁ āyasmatā cundena kammāraputtena kammaṁ upacitan’ti.
Cundassa, ānanda, kammāraputtassa evaṁ vippaṭisāro paṭivinetabbo”ti.
Atha kho bhagavā etamatthaṁ viditvā tāyaṁ velāyaṁ imaṁ udānaṁ udānesi:
“Dadato puññaṁ pavaḍḍhati,
Saṁyamato veraṁ na cīyati;
Kusalo ca jahāti pāpakaṁ,
Rāgadosamohakkhayā sanibbuto”ti.
Catuttho bhāṇavāro.
26. Yamakasālā
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“āyāmānanda, yena hiraññavatiyā nadiyā pārimaṁ tīraṁ, yena kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ tenupasaṅkamissāmā”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho bhagavā mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena hiraññavatiyā nadiyā pārimaṁ tīraṁ, yena kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“iṅgha me tvaṁ, ānanda, antarena yamakasālānaṁ uttarasīsakaṁ mañcakaṁ paññapehi, kilantosmi, ānanda, nipajjissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā antarena yamakasālānaṁ uttarasīsakaṁ mañcakaṁ paññapesi.
Atha kho bhagavā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno.
Tena kho pana samayena yamakasālā sabbaphāliphullā honti akālapupphehi.
Te tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi mandāravapupphāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi candanacuṇṇāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi tūriyāni antalikkhe vajjanti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi saṅgītāni antalikkhe vattanti tathāgatassa pūjāya.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“sabbaphāliphullā kho, ānanda, yamakasālā akālapupphehi.
Te tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi mandāravapupphāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi candanacuṇṇāni antalikkhā papatanti, tāni tathāgatassa sarīraṁ okiranti ajjhokiranti abhippakiranti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi tūriyāni antalikkhe vajjanti tathāgatassa pūjāya.
Dibbānipi saṅgītāni antalikkhe vattanti tathāgatassa pūjāya.
Na kho, ānanda, ettāvatā tathāgato sakkato vā hoti garukato vā mānito vā pūjito vā apacito vā.
Yo kho, ānanda, bhikkhu vā bhikkhunī vā upāsako vā upāsikā vā dhammānudhammappaṭipanno viharati sāmīcippaṭipanno anudhammacārī, so tathāgataṁ sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti apaciyati, paramāya pūjāya.
Tasmātihānanda, dhammānudhammappaṭipannā viharissāma sāmīcippaṭipannā anudhammacārinoti.
Evañhi vo, ānanda, sikkhitabban”ti.
27. Upavāṇatthera
Tena kho pana samayena āyasmā upavāṇo bhagavato purato ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāresi:
“apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī”ti.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“ayaṁ kho āyasmā upavāṇo dīgharattaṁ bhagavato upaṭṭhāko santikāvacaro samīpacārī.
Atha ca pana bhagavā pacchime kāle āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’ti.
Ko nu kho hetu, ko paccayo, yaṁ bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’”ti?
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“ayaṁ, bhante, āyasmā upavāṇo dīgharattaṁ bhagavato upaṭṭhāko santikāvacaro samīpacārī.
Atha ca pana bhagavā pacchime kāle āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’ti.
Ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yaṁ bhagavā āyasmantaṁ upavāṇaṁ apasāreti:
‘apehi, bhikkhu, mā me purato aṭṭhāsī’”ti?
“Yebhuyyena, ānanda, dasasu lokadhātūsu devatā sannipatitā tathāgataṁ dassanāya.
Yāvatā, ānanda, kusinārā upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ samantato dvādasa yojanāni, natthi so padeso vālaggakoṭinittudanamattopi mahesakkhāhi devatāhi apphuṭo.
Devatā, ānanda, ujjhāyanti:
‘dūrā ca vatamha āgatā tathāgataṁ dassanāya.
Kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Ayañca mahesakkho bhikkhu bhagavato purato ṭhito ovārento, na mayaṁ labhāma pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
“Kathaṁbhūtā pana, bhante, bhagavā devatā manasikarotī”ti?
“Santānanda, devatā ākāse pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī’ti.
Santānanda, devatā pathaviyaṁ pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī’ti.
Yā pana tā devatā vītarāgā, tā satā sampajānā adhivāsenti:
‘aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā’”ti.
28. Catusaṁvejanīyaṭhāna
“Pubbe, bhante, disāsu vassaṁvuṭṭhā bhikkhū āgacchanti tathāgataṁ dassanāya.
Te mayaṁ labhāma manobhāvanīye bhikkhū dassanāya, labhāma payirupāsanāya.
Bhagavato pana mayaṁ, bhante, accayena na labhissāma manobhāvanīye bhikkhū dassanāya, na labhissāma payirupāsanāyā”ti.
“Cattārimāni, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyāni saṁvejanīyāni ṭhānāni.
Katamāni cattāri?
‘Idha tathāgato jāto’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
‘Idha tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
‘Idha tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitan’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
‘Idha tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto’ti, ānanda, saddhassa kulaputtassa dassanīyaṁ saṁvejanīyaṁ ṭhānaṁ.
Imāni kho, ānanda, cattāri saddhassa kulaputtassa dassanīyāni saṁvejanīyāni ṭhānāni.
Āgamissanti kho, ānanda, saddhā bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo:
‘idha tathāgato jāto’tipi, ‘idha tathāgato anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambuddho’tipi, ‘idha tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitan’tipi, ‘idha tathāgato anupādisesāya nibbānadhātuyā parinibbuto’tipi.
Ye hi keci, ānanda, cetiyacārikaṁ āhiṇḍantā pasannacittā kālaṁ karissanti, sabbe te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjissantī”ti.
29. Ānandapucchākathā
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, mātugāme paṭipajjāmā”ti?
“Adassanaṁ, ānandā”ti.
“Dassane, bhagavā, sati kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Anālāpo, ānandā”ti.
“Ālapantena pana, bhante, kathaṁ paṭipajjitabban”ti?
“Sati, ānanda, upaṭṭhāpetabbā”ti.
“Kathaṁ mayaṁ, bhante, tathāgatassa sarīre paṭipajjāmā”ti?
“Abyāvaṭā tumhe, ānanda, hotha tathāgatassa sarīrapūjāya.
Iṅgha tumhe, ānanda, sāratthe ghaṭatha anuyuñjatha, sāratthe appamattā ātāpino pahitattā viharatha.
Santānanda, khattiyapaṇḍitāpi brāhmaṇapaṇḍitāpi gahapatipaṇḍitāpi tathāgate abhippasannā, te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti?
“Yathā kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjantī”ti?
“Rañño, ānanda, cakkavattissa sarīraṁ ahatena vatthena veṭhenti, ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhenti, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhenti.
Etenupāyena pañcahi yugasatehi rañño cakkavattissa sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā rañño cakkavattissa sarīraṁ jhāpenti.
Cātumahāpathe rañño cakkavattissa thūpaṁ karonti.
Evaṁ kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti.
Yathā kho, ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabbaṁ.
Cātumahāpathe tathāgatassa thūpo kātabbo.
Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
30. Thūpārahapuggala
Cattārome, ānanda, thūpārahā.
Katame cattāro?
Tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho, paccekasambuddho thūpāraho, tathāgatassa sāvako thūpāraho, rājā cakkavattī thūpārahoti.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgato arahaṁ sammāsambuddho thūpāraho.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca paccekasambuddho thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa bhagavato paccekasambuddhassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca paccekasambuddho thūpāraho.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgatassa sāvako thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa sāvakassa thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca tathāgatassa sāvako thūpāraho.
Kiñcānanda, atthavasaṁ paṭicca rājā cakkavattī thūpāraho?
‘Ayaṁ tassa dhammikassa dhammarañño thūpo’ti, ānanda, bahujanā cittaṁ pasādenti.
Te tattha cittaṁ pasādetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjanti.
Idaṁ kho, ānanda, atthavasaṁ paṭicca rājā cakkavattī thūpāraho.
Ime kho, ānanda, cattāro thūpārahā”ti.
31. Ānandaacchariyadhamma
Atha kho āyasmā ānando vihāraṁ pavisitvā kapisīsaṁ ālambitvā rodamāno aṭṭhāsi:
“ahañca vatamhi sekho sakaraṇīyo, satthu ca me parinibbānaṁ bhavissati, yo mama anukampako”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“kahaṁ nu kho, bhikkhave, ānando”ti?
“Eso, bhante, āyasmā ānando vihāraṁ pavisitvā kapisīsaṁ ālambitvā rodamāno ṭhito:
‘ahañca vatamhi sekho sakaraṇīyo, satthu ca me parinibbānaṁ bhavissati, yo mama anukampako’”ti.
Atha kho bhagavā aññataraṁ bhikkhuṁ āmantesi:
“ehi tvaṁ, bhikkhu, mama vacanena ānandaṁ āmantehi:
‘satthā taṁ, āvuso ānanda, āmantetī’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho so bhikkhu bhagavato paṭissutvā yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“satthā taṁ, āvuso ānanda, āmantetī”ti.
“Evamāvuso”ti kho āyasmā ānando tassa bhikkhuno paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ ānandaṁ bhagavā etadavoca:
“alaṁ, ānanda, mā soci mā paridevi, nanu etaṁ, ānanda, mayā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’;
taṁ kutettha, ānanda, labbhā. Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, ‘taṁ vata tathāgatassāpi sarīraṁ mā palujjī’ti netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Dīgharattaṁ kho te, ānanda, tathāgato paccupaṭṭhito mettena kāyakammena hitena sukhena advayena appamāṇena, mettena vacīkammena hitena sukhena advayena appamāṇena, mettena manokammena hitena sukhena advayena appamāṇena.
Katapuññosi tvaṁ, ānanda, padhānamanuyuñja, khippaṁ hohisi anāsavo”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“yepi te, bhikkhave, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva upaṭṭhākā ahesuṁ, seyyathāpi mayhaṁ ānando.
Yepi te, bhikkhave, bhavissanti anāgatamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, tesampi bhagavantānaṁ etapparamāyeva upaṭṭhākā bhavissanti, seyyathāpi mayhaṁ ānando.
Paṇḍito, bhikkhave, ānando;
medhāvī, bhikkhave, ānando.
Jānāti ‘ayaṁ kālo tathāgataṁ dassanāya upasaṅkamituṁ bhikkhūnaṁ, ayaṁ kālo bhikkhunīnaṁ, ayaṁ kālo upāsakānaṁ, ayaṁ kālo upāsikānaṁ, ayaṁ kālo rañño rājamahāmattānaṁ titthiyānaṁ titthiyasāvakānan’ti.
Cattārome, bhikkhave, acchariyā abbhutā dhammā ānande.
Katame cattāro?
Sace, bhikkhave, bhikkhuparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, bhikkhuparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave, bhikkhunīparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, bhikkhunīparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave, upāsakaparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, upāsakaparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave, upāsikāparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, upāsikāparisā hoti, atha kho ānando tuṇhī hoti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro acchariyā abbhutā dhammā ānande.
Cattārome, bhikkhave, acchariyā abbhutā dhammā raññe cakkavattimhi.
Katame cattāro?
Sace, bhikkhave, khattiyaparisā rājānaṁ cakkavattiṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce rājā cakkavattī bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, khattiyaparisā hoti. Atha kho rājā cakkavattī tuṇhī hoti.
Sace bhikkhave, brāhmaṇaparisā …pe…
gahapatiparisā …pe…
samaṇaparisā rājānaṁ cakkavattiṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce rājā cakkavattī bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, samaṇaparisā hoti. Atha kho rājā cakkavattī tuṇhī hoti.
Evameva kho, bhikkhave, cattārome acchariyā abbhutā dhammā ānande.
Sace, bhikkhave, bhikkhuparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, bhikkhuparisā hoti.
Atha kho ānando tuṇhī hoti.
Sace, bhikkhave bhikkhunīparisā …pe…
upāsakaparisā …pe…
upāsikāparisā ānandaṁ dassanāya upasaṅkamati, dassanena sā attamanā hoti.
Tatra ce ānando dhammaṁ bhāsati, bhāsitenapi sā attamanā hoti.
Atittāva, bhikkhave, upāsikāparisā hoti.
Atha kho ānando tuṇhī hoti.
Ime kho, bhikkhave, cattāro acchariyā abbhutā dhammā ānande”ti.
32. Mahāsudassanasuttadesanā
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“mā, bhante, bhagavā imasmiṁ khuddakanagarake ujjaṅgalanagarake sākhānagarake parinibbāyi.
Santi, bhante, aññāni mahānagarāni, seyyathidaṁ—
campā rājagahaṁ sāvatthī sāketaṁ kosambī bārāṇasī;
ettha bhagavā parinibbāyatu.
Ettha bahū khattiyamahāsālā, brāhmaṇamahāsālā gahapatimahāsālā tathāgate abhippasannā.
Te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti
“mā hevaṁ, ānanda, avaca, mā hevaṁ, ānanda, avaca:
‘khuddakanagarakaṁ ujjaṅgalanagarakaṁ sākhānagarakan’ti.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano nāma ahosi cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa ayaṁ kusinārā kusāvatī nāma rājadhānī ahosi.
puratthimena ca pacchimena ca dvādasayojanāni āyāmena; uttarena ca dakkhiṇena ca sattayojanāni vitthārena.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Seyyathāpi, ānanda, devānaṁ āḷakamandā nāma rājadhānī iddhā ceva hoti phītā ca bahujanā ca ākiṇṇayakkhā ca subhikkhā ca;
evameva kho, ānanda, kusāvatī rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī dasahi saddehi avivittā ahosi divā ceva rattiñca, seyyathidaṁ—
hatthisaddena assasaddena rathasaddena bherisaddena mudiṅgasaddena vīṇāsaddena gītasaddena saṅkhasaddena sammasaddena pāṇitāḷasaddena ‘asnātha pivatha khādathā’ti dasamena saddena.
Gaccha tvaṁ, ānanda, kusināraṁ pavisitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocehi:
‘ajja kho, vāseṭṭhā, rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Abhikkamatha, vāseṭṭhā, abhikkamatha, vāseṭṭhā.
Mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha—
amhākañca no gāmakkhette tathāgatassa parinibbānaṁ ahosi, na mayaṁ labhimhā pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā nivāsetvā pattacīvaramādāya attadutiyo kusināraṁ pāvisi.
33. Mallānaṁvandanā
Tena kho pana samayena kosinārakā mallā sandhāgāre sannipatitā honti kenacideva karaṇīyena.
Atha kho āyasmā ānando yena kosinārakānaṁ mallānaṁ sandhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocesi:
“ajja kho, vāseṭṭhā, rattiyā pacchime yāme tathāgatassa parinibbānaṁ bhavissati.
Abhikkamatha, vāseṭṭhā, abhikkamatha, vāseṭṭhā.
Mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha:
‘amhākañca no gāmakkhette tathāgatassa parinibbānaṁ ahosi, na mayaṁ labhimhā pacchime kāle tathāgataṁ dassanāyā’”ti.
Idamāyasmato ānandassa vacanaṁ sutvā mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā appekacce kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti vivaṭṭanti:
“atikhippaṁ bhagavā parinibbāyissati, atikhippaṁ sugato parinibbāyissati, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antaradhāyissatī”ti.
Atha kho mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ yenāyasmā ānando tenupasaṅkamiṁsu.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“sace kho ahaṁ kosinārake malle ekamekaṁ bhagavantaṁ vandāpessāmi, avandito bhagavā kosinārakehi mallehi bhavissati, athāyaṁ ratti vibhāyissati.
Yannūnāhaṁ kosinārake malle kulaparivattaso kulaparivattaso ṭhapetvā bhagavantaṁ vandāpeyyaṁ:
‘itthannāmo, bhante, mallo saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhagavato pāde sirasā vandatī’”ti.
Atha kho āyasmā ānando kosinārake malle kulaparivattaso kulaparivattaso ṭhapetvā bhagavantaṁ vandāpesi:
“itthannāmo, bhante, mallo saputto sabhariyo sapariso sāmacco bhagavato pāde sirasā vandatī”ti.
Atha kho āyasmā ānando etena upāyena paṭhameneva yāmena kosinārake malle bhagavantaṁ vandāpesi.
34. Subhaddaparibbājakavatthu
Tena kho pana samayena subhaddo nāma paribbājako kusinārāyaṁ paṭivasati.
Assosi kho subhaddo paribbājako:
“ajja kira rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissatī”ti.
Atha kho subhaddassa paribbājakassa etadahosi:
“sutaṁ kho pana metaṁ paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati.
Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno,
evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame, ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’”ti.
Atha kho subhaddo paribbājako yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ, yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bho ānanda, paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati.
Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno—
evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’ti.
Sādhāhaṁ, bho ānanda, labheyyaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“alaṁ, āvuso subhadda, mā tathāgataṁ viheṭhesi, kilanto bhagavā”ti.
Dutiyampi kho subhaddo paribbājako …pe…
tatiyampi kho subhaddo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bho ānanda, paribbājakānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘kadāci karahaci tathāgatā loke uppajjanti arahanto sammāsambuddhā’ti.
Ajjeva rattiyā pacchime yāme samaṇassa gotamassa parinibbānaṁ bhavissati.
Atthi ca me ayaṁ kaṅkhādhammo uppanno—
evaṁ pasanno ahaṁ samaṇe gotame, ‘pahoti me samaṇo gotamo tathā dhammaṁ desetuṁ, yathāhaṁ imaṁ kaṅkhādhammaṁ pajaheyyan’ti.
Sādhāhaṁ, bho ānanda, labheyyaṁ samaṇaṁ gotamaṁ dassanāyā”ti.
Tatiyampi kho āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“alaṁ, āvuso subhadda, mā tathāgataṁ viheṭhesi, kilanto bhagavā”ti.
Assosi kho bhagavā āyasmato ānandassa subhaddena paribbājakena saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“alaṁ, ānanda, mā subhaddaṁ vāresi, labhataṁ, ānanda, subhaddo tathāgataṁ dassanāya.
Yaṁ kiñci maṁ subhaddo pucchissati, sabbaṁ taṁ aññāpekkhova pucchissati, no vihesāpekkho.
Yañcassāhaṁ puṭṭho byākarissāmi, taṁ khippameva ājānissatī”ti.
Atha kho āyasmā ānando subhaddaṁ paribbājakaṁ etadavoca:
“gacchāvuso subhadda, karoti te bhagavā okāsan”ti.
Atha kho subhaddo paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho subhaddo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“yeme, bho gotama, samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa,
seyyathidaṁ—pūraṇo kassapo, makkhali gosālo, ajito kesakambalo, pakudho kaccāyano, sañcayo belaṭṭhaputto, nigaṇṭho nāṭaputto,
sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññiṁsu, sabbeva na abbhaññiṁsu, udāhu ekacce abbhaññiṁsu, ekacce na abbhaññiṁsū”ti?
“Alaṁ, subhadda, tiṭṭhatetaṁ:
‘sabbete sakāya paṭiññāya abbhaññiṁsu, sabbeva na abbhaññiṁsu, udāhu ekacce abbhaññiṁsu, ekacce na abbhaññiṁsū’ti.
Dhammaṁ te, subhadda, desessāmi;
taṁ suṇāhi sādhukaṁ manasikarohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho subhaddo paribbājako bhagavato paccassosi.
Bhagavā etadavoca:
“Yasmiṁ kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo na upalabbhati, samaṇopi tattha na upalabbhati. Dutiyopi tattha samaṇo na upalabbhati. Tatiyopi tattha samaṇo na upalabbhati. Catutthopi tattha samaṇo na upalabbhati.
Yasmiñca kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo upalabbhati, samaṇopi tattha upalabbhati, dutiyopi tattha samaṇo upalabbhati, tatiyopi tattha samaṇo upalabbhati, catutthopi tattha samaṇo upalabbhati.
Imasmiṁ kho, subhadda, dhammavinaye ariyo aṭṭhaṅgiko maggo upalabbhati, idheva, subhadda, samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo, suññā parappavādā samaṇebhi aññehi.
Ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṁ, asuñño loko arahantehi assāti.
Ekūnatiṁso vayasā subhadda,
Yaṁ pabbajiṁ kiṅkusalānuesī;
Vassāni paññāsa samādhikāni,
Yato ahaṁ pabbajito subhadda;
Ñāyassa dhammassa padesavattī,
Ito bahiddhā samaṇopi natthi.
Dutiyopi samaṇo natthi.
Tatiyopi samaṇo natthi.
Catutthopi samaṇo natthi.
Suññā parappavādā samaṇebhi aññehi.
Ime ca, subhadda, bhikkhū sammā vihareyyuṁ, asuñño loko arahantehi assā”ti.
Evaṁ vutte, subhaddo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
“Yo kho, subhadda, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ, so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya.
Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ cattāro māse parivasanti, catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya. Ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi, catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“tenahānanda, subhaddaṁ pabbājehī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
Atha kho subhaddo paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“lābhā vo, āvuso ānanda; suladdhaṁ vo, āvuso ānanda,
ye ettha satthu sammukhā antevāsikābhisekena abhisittā”ti.
Alattha kho subhaddo paribbājako bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā subhaddo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti—tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā subhaddo arahataṁ ahosi.
So bhagavato pacchimo sakkhisāvako ahosīti.
Pañcamo bhāṇavāro.
35. Tathāgatapacchimavācā
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“siyā kho panānanda, tumhākaṁ evamassa:
‘atītasatthukaṁ pāvacanaṁ, natthi no satthā’ti.
Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Yo vo, ānanda, mayā dhammo ca vinayo ca desito paññatto, so vo mamaccayena satthā.
Yathā kho panānanda, etarahi bhikkhū aññamaññaṁ āvusovādena samudācaranti, na kho mamaccayena evaṁ samudācaritabbaṁ.
Theratarena, ānanda, bhikkhunā navakataro bhikkhu nāmena vā gottena vā āvusovādena vā samudācaritabbo.
Navakatarena bhikkhunā therataro bhikkhu ‘bhante’ti vā ‘āyasmā’ti vā samudācaritabbo.
Ākaṅkhamāno, ānanda, saṅgho mamaccayena khuddānukhuddakāni sikkhāpadāni samūhanatu.
Channassa, ānanda, bhikkhuno mamaccayena brahmadaṇḍo dātabbo”ti.
“Katamo pana, bhante, brahmadaṇḍo”ti?
“Channo, ānanda, bhikkhu yaṁ iccheyya, taṁ vadeyya.
So bhikkhūhi neva vattabbo, na ovaditabbo, na anusāsitabbo”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“siyā kho pana, bhikkhave, ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā, pucchatha, bhikkhave, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha:
‘sammukhībhūto no satthā ahosi, na mayaṁ sakkhimhā bhagavantaṁ sammukhā paṭipucchitun’”ti.
Evaṁ vutte, te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Dutiyampi kho bhagavā …pe…
tatiyampi kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“siyā kho pana, bhikkhave, ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā, pucchatha, bhikkhave, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha:
‘sammukhībhūto no satthā ahosi, na mayaṁ sakkhimhā bhagavantaṁ sammukhā paṭipucchitun’”ti.
Tatiyampi kho te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“siyā kho pana, bhikkhave, satthugāravenapi na puccheyyātha. Sahāyakopi, bhikkhave, sahāyakassa ārocetū”ti.
Evaṁ vutte, te bhikkhū tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, imasmiṁ bhikkhusaṅghe, ‘natthi ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā’”ti.
“Pasādā kho tvaṁ, ānanda, vadesi, ñāṇameva hettha, ānanda, tathāgatassa. Natthi imasmiṁ bhikkhusaṅghe ekabhikkhussāpi kaṅkhā vā vimati vā buddhe vā dhamme vā saṅghe vā magge vā paṭipadāya vā.
Imesañhi, ānanda, pañcannaṁ bhikkhusatānaṁ yo pacchimako bhikkhu, so sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“handa dāni, bhikkhave, āmantayāmi vo,
vayadhammā saṅkhārā appamādena sampādethā”ti.
Ayaṁ tathāgatassa pacchimā vācā.
36. Parinibbutakathā
Atha kho bhagavā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā saññāvedayitanirodhaṁ samāpajji.
Atha kho āyasmā ānando āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavoca:
“parinibbuto, bhante anuruddha, bhagavā”ti.
“Nāvuso ānanda, bhagavā parinibbuto, saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno”ti.
Atha kho bhagavā saññāvedayitanirodhasamāpattiyā vuṭṭhahitvā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajji, nevasaññānāsaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajji, ākiñcaññāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā viññāṇañcāyatanaṁ samāpajji, viññāṇañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā ākāsānañcāyatanaṁ samāpajji, ākāsānañcāyatanasamāpattiyā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā paṭhamaṁ jhānaṁ samāpajji, paṭhamajjhānā vuṭṭhahitvā dutiyaṁ jhānaṁ samāpajji, dutiyajjhānā vuṭṭhahitvā tatiyaṁ jhānaṁ samāpajji, tatiyajjhānā vuṭṭhahitvā catutthaṁ jhānaṁ samāpajji, catutthajjhānā vuṭṭhahitvā samanantarā bhagavā parinibbāyi.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā mahābhūmicālo ahosi bhiṁsanako salomahaṁso. Devadundubhiyo ca phaliṁsu.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā brahmāsahampati imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Sabbeva nikkhipissanti,
bhūtā loke samussayaṁ;
Yattha etādiso satthā,
loke appaṭipuggalo;
Tathāgato balappatto,
sambuddho parinibbuto”ti.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā sakko devānamindo imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Aniccā vata saṅkhārā,
uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti,
tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā anuruddho imā gāthāyo abhāsi:
“Nāhu assāsapassāso,
ṭhitacittassa tādino;
Anejo santimārabbha,
yaṁ kālamakarī muni.
Asallīnena cittena,
vedanaṁ ajjhavāsayi;
Pajjotasseva nibbānaṁ,
vimokkho cetaso ahū”ti.
Parinibbute bhagavati saha parinibbānā āyasmā ānando imaṁ gāthaṁ abhāsi:
“Tadāsi yaṁ bhiṁsanakaṁ,
tadāsi lomahaṁsanaṁ;
Sabbākāravarūpete,
sambuddhe parinibbute”ti.
Parinibbute bhagavati ye te tattha bhikkhū avītarāgā appekacce bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti vivaṭṭanti, “atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti.
Ye pana te bhikkhū vītarāgā, te satā sampajānā adhivāsenti:
“aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā”ti.
Atha kho āyasmā anuruddho bhikkhū āmantesi:
“alaṁ, āvuso, mā socittha mā paridevittha.
Nanu etaṁ, āvuso, bhagavatā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’.
Taṁ kutettha, āvuso, labbhā. ‘Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ vata mā palujjī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Devatā, āvuso, ujjhāyantī”ti.
“Kathaṁbhūtā pana, bhante, āyasmā anuruddho devatā manasi karotī”ti?
“Santāvuso ānanda, devatā ākāse pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito’ti.
Santāvuso ānanda, devatā pathaviyā pathavīsaññiniyo kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
‘atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito’ti.
Yā pana tā devatā vītarāgā, tā satā sampajānā adhivāsenti:
‘aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā’”ti.
Atha kho āyasmā ca anuruddho āyasmā ca ānando taṁ rattāvasesaṁ dhammiyā kathāya vītināmesuṁ.
Atha kho āyasmā anuruddho āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“gacchāvuso ānanda, kusināraṁ pavisitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocehi:
‘parinibbuto, vāseṭṭhā, bhagavā,
yassadāni kālaṁ maññathā’”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando āyasmato anuruddhassa paṭissutvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya attadutiyo kusināraṁ pāvisi.
Tena kho pana samayena kosinārakā mallā sandhāgāre sannipatitā honti teneva karaṇīyena.
Atha kho āyasmā ānando yena kosinārakānaṁ mallānaṁ sandhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kosinārakānaṁ mallānaṁ ārocesi:
“parinibbuto, vāseṭṭhā, bhagavā,
yassadāni kālaṁ maññathā”ti.
Idamāyasmato ānandassa vacanaṁ sutvā mallā ca mallaputtā ca mallasuṇisā ca mallapajāpatiyo ca aghāvino dummanā cetodukkhasamappitā appekacce kese pakiriya kandanti, bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
“atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti.
37. Buddhasarīrapūjā
Atha kho kosinārakā mallā purise āṇāpesuṁ:
“tena hi, bhaṇe, kusinārāyaṁ gandhamālañca sabbañca tāḷāvacaraṁ sannipātethā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā gandhamālañca sabbañca tāḷāvacaraṁ pañca ca dussayugasatāni ādāya yena upavattanaṁ mallānaṁ sālavanaṁ, yena bhagavato sarīraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā celavitānāni karontā maṇḍalamāḷe paṭiyādentā ekadivasaṁ vītināmesuṁ.
Atha kho kosinārakānaṁ mallānaṁ etadahosi:
“ativikālo kho ajja bhagavato sarīraṁ jhāpetuṁ, sve dāni mayaṁ bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā celavitānāni karontā maṇḍalamāḷe paṭiyādentā dutiyampi divasaṁ vītināmesuṁ, tatiyampi divasaṁ vītināmesuṁ, catutthampi divasaṁ vītināmesuṁ, pañcamampi divasaṁ vītināmesuṁ, chaṭṭhampi divasaṁ vītināmesuṁ.
Atha kho sattamaṁ divasaṁ kosinārakānaṁ mallānaṁ etadahosi:
“mayaṁ bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā dakkhiṇena dakkhiṇaṁ nagarassa haritvā bāhirena bāhiraṁ dakkhiṇato nagarassa bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā”ti.
Tena kho pana samayena aṭṭha mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
“mayaṁ bhagavato sarīraṁ uccāressāmā”ti na sakkonti uccāretuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ:
“ko nu kho, bhante anuruddha, hetu ko paccayo, yenime aṭṭha mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ uccāressāmā’ti na sakkonti uccāretun”ti?
“Aññathā kho, vāseṭṭhā, tumhākaṁ adhippāyo, aññathā devatānaṁ adhippāyo”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, devatānaṁ adhippāyo”ti?
“Tumhākaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo:
‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā dakkhiṇena dakkhiṇaṁ nagarassa haritvā bāhirena bāhiraṁ dakkhiṇato nagarassa bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā’ti;
devatānaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo:
‘mayaṁ bhagavato sarīraṁ dibbehi naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā uttarena uttaraṁ nagarassa haritvā uttarena dvārena nagaraṁ pavesetvā majjhena majjhaṁ nagarassa haritvā puratthimena dvārena nikkhamitvā puratthimato nagarassa makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ ettha bhagavato sarīraṁ jhāpessāmā’”ti.
“Yathā, bhante, devatānaṁ adhippāyo, tathā hotū”ti.
Tena kho pana samayena kusinārā yāva sandhisamalasaṅkaṭīrā jaṇṇumattena odhinā mandāravapupphehi santhatā hoti.
Atha kho devatā ca kosinārakā ca mallā bhagavato sarīraṁ dibbehi ca mānusakehi ca naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkarontā garuṁ karontā mānentā pūjentā uttarena uttaraṁ nagarassa haritvā uttarena dvārena nagaraṁ pavesetvā majjhena majjhaṁ nagarassa haritvā puratthimena dvārena nikkhamitvā puratthimato nagarassa makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ ettha ca bhagavato sarīraṁ nikkhipiṁsu.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavocuṁ:
“kathaṁ mayaṁ, bhante ānanda, tathāgatassa sarīre paṭipajjāmā”ti?
“Yathā kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabban”ti.
“Kathaṁ pana, bhante ānanda, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjantī”ti?
“Rañño, vāseṭṭhā, cakkavattissa sarīraṁ ahatena vatthena veṭhenti, ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhenti, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhenti.
Etena upāyena pañcahi yugasatehi rañño cakkavattissa sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā rañño cakkavattissa sarīraṁ jhāpenti.
Cātumahāpathe rañño cakkavattissa thūpaṁ karonti.
Evaṁ kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti.
Yathā kho, vāseṭṭhā, rañño cakkavattissa sarīre paṭipajjanti, evaṁ tathāgatassa sarīre paṭipajjitabbaṁ.
Cātumahāpathe tathāgatassa thūpo kātabbo.
Tattha ye mālaṁ vā gandhaṁ vā cuṇṇakaṁ vā āropessanti vā abhivādessanti vā cittaṁ vā pasādessanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā purise āṇāpesuṁ:
“tena hi, bhaṇe, mallānaṁ vihataṁ kappāsaṁ sannipātethā”ti.
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīraṁ ahatena vatthena veṭhetvā vihatena kappāsena veṭhesuṁ, vihatena kappāsena veṭhetvā ahatena vatthena veṭhesuṁ.
Etena upāyena pañcahi yugasatehi bhagavato sarīraṁ veṭhetvā āyasāya teladoṇiyā pakkhipitvā aññissā āyasāya doṇiyā paṭikujjitvā sabbagandhānaṁ citakaṁ karitvā bhagavato sarīraṁ citakaṁ āropesuṁ.
38. Mahākassapattheravatthu
Tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo pāvāya kusināraṁ addhānamaggappaṭipanno hoti mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
Atha kho āyasmā mahākassapo maggā okkamma aññatarasmiṁ rukkhamūle nisīdi.
Tena kho pana samayena aññataro ājīvako kusinārāya mandāravapupphaṁ gahetvā pāvaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti.
Addasā kho āyasmā mahākassapo taṁ ājīvakaṁ dūratova āgacchantaṁ, disvā taṁ ājīvakaṁ etadavoca:
“apāvuso, amhākaṁ satthāraṁ jānāsī”ti?
“Āmāvuso, jānāmi, ajja sattāhaparinibbuto samaṇo gotamo.
Tato me idaṁ mandāravapupphaṁ gahitan”ti.
Tattha ye te bhikkhū avītarāgā appekacce bāhā paggayha kandanti, chinnapātaṁ papatanti, āvaṭṭanti, vivaṭṭanti:
“atikhippaṁ bhagavā parinibbuto, atikhippaṁ sugato parinibbuto, atikhippaṁ cakkhuṁ loke antarahito”ti.
Ye pana te bhikkhū vītarāgā, te satā sampajānā adhivāsenti:
“aniccā saṅkhārā, taṁ kutettha labbhā”ti.
Tena kho pana samayena subhaddo nāma vuddhapabbajito tassaṁ parisāyaṁ nisinno hoti.
Atha kho subhaddo vuddhapabbajito te bhikkhū etadavoca:
“alaṁ, āvuso, mā socittha, mā paridevittha, sumuttā mayaṁ tena mahāsamaṇena. Upaddutā ca homa:
‘idaṁ vo kappati, idaṁ vo na kappatī’ti.
Idāni pana mayaṁ yaṁ icchissāma, taṁ karissāma, yaṁ na icchissāma, na taṁ karissāmā”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo bhikkhū āmantesi:
“alaṁ, āvuso, mā socittha, mā paridevittha.
Nanu etaṁ, āvuso, bhagavatā paṭikacceva akkhātaṁ:
‘sabbeheva piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo’.
Taṁ kutettha, āvuso, labbhā. ‘Yaṁ taṁ jātaṁ bhūtaṁ saṅkhataṁ palokadhammaṁ, taṁ tathāgatassāpi sarīraṁ mā palujjī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
Tena kho pana samayena cattāro mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
“mayaṁ bhagavato citakaṁ āḷimpessāmā”ti na sakkonti āḷimpetuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā āyasmantaṁ anuruddhaṁ etadavocuṁ:
“ko nu kho, bhante anuruddha, hetu ko paccayo, yenime cattāro mallapāmokkhā sīsaṁnhātā ahatāni vatthāni nivatthā:
‘mayaṁ bhagavato citakaṁ āḷimpessāmā’ti na sakkonti āḷimpetun”ti?
“Aññathā kho, vāseṭṭhā, devatānaṁ adhippāyo”ti.
“Kathaṁ pana, bhante, devatānaṁ adhippāyo”ti?
“Devatānaṁ kho, vāseṭṭhā, adhippāyo:
‘ayaṁ āyasmā mahākassapo pāvāya kusināraṁ addhānamaggappaṭipanno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
Na tāva bhagavato citako pajjalissati, yāvāyasmā mahākassapo bhagavato pāde sirasā na vandissatī’”ti.
“Yathā, bhante, devatānaṁ adhippāyo, tathā hotū”ti.
Atha kho āyasmā mahākassapo yena kusinārā makuṭabandhanaṁ nāma mallānaṁ cetiyaṁ, yena bhagavato citako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ katvā bhagavato pāde sirasā vandi.
Tānipi kho pañcabhikkhusatāni ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ citakaṁ padakkhiṇaṁ katvā bhagavato pāde sirasā vandiṁsu.
Vandite ca panāyasmatā mahākassapena tehi ca pañcahi bhikkhusatehi sayameva bhagavato citako pajjali.
Jhāyamānassa kho pana bhagavato sarīrassa yaṁ ahosi chavīti vā cammanti vā maṁsanti vā nhārūti vā lasikāti vā, tassa neva chārikā paññāyittha, na masi;
sarīrāneva avasissiṁsu.
Seyyathāpi nāma sappissa vā telassa vā jhāyamānassa neva chārikā paññāyati, na masi;
evameva bhagavato sarīrassa jhāyamānassa yaṁ ahosi chavīti vā cammanti vā maṁsanti vā nhārūti vā lasikāti vā, tassa neva chārikā paññāyittha, na masi;
sarīrāneva avasissiṁsu.
Tesañca pañcannaṁ dussayugasatānaṁ dveva dussāni na ḍayhiṁsu yañca sabbaabbhantarimaṁ yañca bāhiraṁ.
Daḍḍhe ca kho pana bhagavato sarīre antalikkhā udakadhārā pātubhavitvā bhagavato citakaṁ nibbāpesi.
Udakasālatopi abbhunnamitvā bhagavato citakaṁ nibbāpesi.
Kosinārakāpi mallā sabbagandhodakena bhagavato citakaṁ nibbāpesuṁ.
Atha kho kosinārakā mallā bhagavato sarīrāni sattāhaṁ sandhāgāre sattipañjaraṁ karitvā dhanupākāraṁ parikkhipāpetvā naccehi gītehi vāditehi mālehi gandhehi sakkariṁsu garuṁ kariṁsu mānesuṁ pūjesuṁ.
39. Sarīradhātuvibhajana
Assosi kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesi:
“bhagavāpi khattiyo ahampi khattiyo, ahampi arahāmi bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, ahampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmī”ti.
Assosuṁ kho vesālikā licchavī:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho vesālikā licchavī kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosuṁ kho kapilavatthuvāsī sakyā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho kapilavatthuvāsī sakyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavā amhākaṁ ñātiseṭṭho, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosuṁ kho allakappakā bulayo:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho allakappakā bulayo kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosuṁ kho rāmagāmakā koḷiyā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho rāmagāmakā koḷiyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Assosi kho veṭṭhadīpako brāhmaṇo:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho veṭṭhadīpako brāhmaṇo kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesi:
“bhagavāpi khattiyo ahampismi brāhmaṇo, ahampi arahāmi bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, ahampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmī”ti.
Assosuṁ kho pāveyyakā mallā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho pāveyyakā mallā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
Evaṁ vutte, kosinārakā mallā te saṅghe gaṇe etadavocuṁ:
“bhagavā amhākaṁ gāmakkhette parinibbuto, na mayaṁ dassāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgan”ti.
Evaṁ vutte, doṇo brāhmaṇo te saṅghe gaṇe etadavoca:
“Suṇantu bhonto mama ekavācaṁ,
Amhāka buddho ahu khantivādo;
Na hi sādhu yaṁ uttamapuggalassa,
Sarīrabhāge siyā sampahāro.
Sabbeva bhonto sahitā samaggā,
Sammodamānā karomaṭṭhabhāge;
Vitthārikā hontu disāsu thūpā,
Bahū janā cakkhumato pasannā”ti.
“Tena hi, brāhmaṇa, tvaññeva bhagavato sarīrāni aṭṭhadhā samaṁ savibhattaṁ vibhajāhī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho doṇo brāhmaṇo tesaṁ saṅghānaṁ gaṇānaṁ paṭissutvā bhagavato sarīrāni aṭṭhadhā samaṁ suvibhattaṁ vibhajitvā te saṅghe gaṇe etadavoca:
“imaṁ me bhonto tumbaṁ dadantu ahampi tumbassa thūpañca mahañca karissāmī”ti.
Adaṁsu kho te doṇassa brāhmaṇassa tumbaṁ.
Assosuṁ kho pippalivaniyā moriyā:
“bhagavā kira kusinārāyaṁ parinibbuto”ti.
Atha kho pippalivaniyā moriyā kosinārakānaṁ mallānaṁ dūtaṁ pāhesuṁ:
“bhagavāpi khattiyo mayampi khattiyā, mayampi arahāma bhagavato sarīrānaṁ bhāgaṁ, mayampi bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca karissāmā”ti.
“Natthi bhagavato sarīrānaṁ bhāgo, vibhattāni bhagavato sarīrāni.
Ito aṅgāraṁ harathā”ti.
Te tato aṅgāraṁ hariṁsu.
40. Dhātuthūpapūjā
Atha kho rājā māgadho ajātasattu vedehiputto rājagahe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akāsi.
Vesālikāpi licchavī vesāliyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Kapilavatthuvāsīpi sakyā kapilavatthusmiṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Allakappakāpi bulayo allakappe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Rāmagāmakāpi koḷiyā rāmagāme bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Veṭṭhadīpakopi brāhmaṇo veṭṭhadīpe bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akāsi.
Pāveyyakāpi mallā pāvāyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Kosinārakāpi mallā kusinārāyaṁ bhagavato sarīrānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Doṇopi brāhmaṇo tumbassa thūpañca mahañca akāsi.
Pippalivaniyāpi moriyā pippalivane aṅgārānaṁ thūpañca mahañca akaṁsu.
Iti aṭṭha sarīrathūpā navamo tumbathūpo dasamo aṅgārathūpo.
Evametaṁ bhūtapubbanti.
Aṭṭhadoṇaṁ cakkhumato sarīraṁ,
Sattadoṇaṁ jambudīpe mahenti;
Ekañca doṇaṁ purisavaruttamassa,
Rāmagāme nāgarājā maheti.
Ekāhi dāṭhā tidivehi pūjitā,
Ekā pana gandhārapure mahīyati;
Kāliṅgarañño vijite punekaṁ,
Ekaṁ pana nāgarājā maheti.
Tasseva tejena ayaṁ vasundharā,
Āyāgaseṭṭhehi mahī alaṅkatā;
Evaṁ imaṁ cakkhumato sarīraṁ,
Susakkataṁ sakkatasakkatehi.
Devindanāgindanarindapūjito,
Manussindaseṭṭhehi tatheva pūjito;
Taṁ vandatha pañjalikā labhitvā,
Buddho have kappasatehi dullabhoti.
Cattālīsa samā dantā,
kesā lomā ca sabbaso;
Devā hariṁsu ekekaṁ,
cakkavāḷaparamparāti.
Mahāparinibbānasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.