SC 1PTS cs 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá-vệ), rừng Jetavana (Kỳ viên), vườn Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda (Bố-sá-bà-lâu) cùng với đại chúng du sĩ ngoại đạo khoảng ba trăm vị, ở tại vườn của hoàng hậu Mallikā (Mạt-lê-viên) tên là Ekasālaka có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn về chánh kiến, tà kiến.
SC 2PTS cs 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y cầm bát vào Sāvatthi khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực tại Sāvatthi, Ta hãy đi đến vườn của hoàng hậu Mallikā tên là Ekasālaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn chánh kiến, tà kiến, để gặp du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda”. Và Thế Tôn đi đến vườn của hoàng hậu Mallikā, tên là Ekasālaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận về chánh kiến, tà kiến.
SC 3PTS cs 3 Lúc bấy giờ du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda ngồi với đại chúng du sĩ ngoại đạo, đang ồn ào, la lối, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa; câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần; câu chuyện về binh lính; các câu chuyện về hãi hùng; câu chuyện về chiến tranh; câu chuyện về đồ ăn; câu chuyện về đồ uống; câu chuyện về đồ mặc; câu chuyện về giường nằm; câu chuyện về vòng hoa; câu chuyện về hương liệu; câu chuyện về bà con; câu chuyện về xe cộ; câu chuyện về làng xóm; câu chuyện về thị trấn; câu chuyện về thành phố; câu chuyện về quốc độ; câu chuyện về đàn bà; câu chuyện về đàn ông; câu chuyện về vị anh hùng; câu chuyện bên lề đường; câu chuyện tại chỗ lấy nước; câu chuyện về người đã chết; các câu chuyện tạp thoại; câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương; câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu.
SC 4PTS cs 4 Du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: “Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Ðại đức này tán thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé đến đây”. Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng.
SC 5PTS cs 5 Rồi Thế Tôn đến du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda. Và du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn: “Thiện tai Thế Tôn! Hoan nghênh Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn không quá bộ đến đây. Mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn”.
SC 6Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với du sĩ Poṭṭhapāda đã ngồi một bên: “Này Poṭṭhapāda, vấn đề gì các vị đang ngồi thảo luận? Vấn đề gì đang nói mà bị gián đoạn?”
SC 7PTS cs 6 Khi nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên câu chuyện chúng tôi đang ngồi bàn luận, bạch Thế Tôn, lát nữa Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, thuở xưa xưa lắm, nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo tụ họp, ngồi hội thảo trong giảng đường nêu lên vấn đề sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 9“Này Tôn giả, tăng thượng tưởng diệt tận như thế nào?” Một vài vị trả lời: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt! Khi tưởng sanh con người có tưởng, khi tưởng diệt con người không có tưởng”. Như vậy, một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 10Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, tưởng là tự ngã của con người, chính tưởng ấy đến và đi. Khi tưởng ấy đến thì con người có tưởng, khi tưởng ấy đi thì con người không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 11Vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn có đại thần thông và đại oai lực. Chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và cũng kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 12Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những vị thiên thần có đại thần thông, có đại oai lực, chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng. Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ con tưởng niệm đến Thế Tôn: “Mong Thế Tôn có mặt ở đây! Mong Thiện thệ có mặt ở đây! Ngài rất tinh thông những pháp này. Chắc chắn Thế Tôn biết rõ sự diệt tận các tăng thượng tưởng”. Bạch Thế Tôn, sự diệt tận các tăng thượng tưởng như thế nào?
SC 13PTS cs 7 Này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt”. Những vị này đã sai lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy? Này Poṭṭhapāda, chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người sinh và diệt. Chính do sự học tập, một loại tưởng sanh, chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.
Và Thế Tôn nói
SC 14—Sự học tập ấy là gì? Này Poṭṭhapāda, nay ở đời Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40–43 trừ đoạn kết của mỗi đoạn) thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc. Này Poṭṭhapāda, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh đầy đủ? Ở đây này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43–62) … như dùng ảo thuật để yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa … ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên … như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 15PTS cs 8 Này Poṭṭhapāda, và như vậy Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Này Poṭṭhapāda, như một Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.
SC 16PTS cs 9 Này Poṭṭhapāda, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Poṭṭhapāda, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo hộ trì các căn … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 65–74) …
SC 17PTS cs 10 Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan, nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ. Dục tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật do ly dục sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật, do ly dục sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 18PTS cs 11 Lại nữa, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do ly dục sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 19PTS cs 12 “Lại nữa này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và trú thiền thứ ba. Tưởng hỷ lạc chơn thật vi diệu do định sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên và cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 20PTS cs 13 Lại nữa này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy xả lạc chơn thật vi diệu xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 21PTS cs 14 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi sắc tưởng, với sự diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, với sự không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy sắc tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do sự học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 22PTS cs 15 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi Không vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Như vậy tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 23PTS cs 16 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 24PTS cs 17 Lại nữa này Poṭṭhapāda, khi Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng”. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Poṭṭhapāda, là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
SC 25PTS cs 18 Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Trước đây ngươi đã nghe sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng này không?
SC 26- Bạch Thế Tôn, con không có nghe. Bạch Thế Tôn, nhưng nay con hiểu lời nói của Thế Tôn.
SC 27- Này Poṭṭhapāda, khi Tỷ-kheo ở đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này, khi đứng lại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng, có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên. Vậy ta hãy đừng có suy tưởng”. Và vị này không có suy tưởng. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác cũng không khởi lên. Vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy này Poṭṭhapāda là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
SC 28- Như vậy là phải, này Poṭṭhapāda!
SC 29PTS cs 19 - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chỉ nói đến một tưởng tuyệt đỉnh hay nhiều tưởng tuyệt đỉnh?
SC 30- Này Poṭṭhapāda, Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
SC 31- Bạch Thế Tôn, làm sao Thế Tôn nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh?
SC 32- Này Poṭṭhapāda, tùy theo vị ấy cảm thọ sự diệt tận (của một tưởng) sau tưởng khác, vị ấy đạt tới nhiều tuyệt đỉnh sai khác, cái này tiếp theo cái kia cho đến tuyệt đỉnh cuối cùng mà Ta nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh. Này Poṭṭhapāda như vậy Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
SC 33PTS cs 20 - Bạch Thế Tôn, tưởng khởi trước, trí khởi sau; hay trí khởi trước tưởng khởi sau; hay tưởng và trí cùng khởi một lần không trước không sau?
SC 34- Này Poṭṭhapāda, tưởng khởi trước trí mới khởi sau, do tưởng sanh, trí mới sanh. Vị ấy tuệ tri: “Do duyên tưởng, trí sanh ra nơi ta”. Này Poṭṭhapāda, với lời dạy này cần phải hiểu tưởng sanh trước trí sanh sau, tưởng sanh trí mới sanh.
SC 35PTS cs 21 - Bạch Thế Tôn, tưởng có phải là tự ngã của con người hay tưởng khác, tự ngã khác?
SC 36- Này Poṭṭhapāda, ngươi hiểu tự ngã như thế nào?
SC 37- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành, và do đoàn thực nuôi dưỡng.
SC 38- Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, như vậy này Poṭṭhapāda, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sử tự ngã ấy là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 39PTS cs 22 - Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn.
SC 40- Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, như vậy này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sử tự ngã ấy là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 41- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành.
SC 42PTS cs 23 - Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, với sự nhận thức này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sự tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, tuy vậy, một vài tưởng khác của người khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 43PTS cs 24 - Bạch Thế Tôn, con có thể hiểu được chăng “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”?
SC 44- Này Poṭṭhapāda, thật khó cho ngươi biết được “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”, vì ngươi có dị kiến, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác.
SC 45PTS cs 25 - Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con biết được “tưởng là tự ngã của con người”, hay “tưởng khác, tự ngã khác” vì con có dị kiến khác, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác, thời bạch Thế Tôn, thế giới có phải là thường còn không? Chỉ có quan niệm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 46- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là thường còn, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 47- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 48- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 49- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới này là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 50- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 51- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 52- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 53PTS cs 26 - Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng và thân thể là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thật, ngoài ra là mê muội không?
SC 54- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thân thể và sinh mạng là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 55- Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng khác, thân thể khác? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 56- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Sinh mạng khác, thân thể khác. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 57PTS cs 27 - Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại sau khi chết? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 58- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 59- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 60- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 61- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 62- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 63- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 64- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 65PTS cs 28 - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời?
SC 66- Này Poṭṭhapāda, câu hỏi này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy, Ta không trả lời.
SC 67PTS cs 29 - Bạch Thế Tôn, vậy Thế Tôn trả lời những gì?
SC 68- Này Poṭṭhapāda, Ta trả lời: “Ðây là khổ”. Ta trả lời: “Ðây là khổ tập”. “Ta trả lời: “Ðây là khổ diệt”. Ta trả lời: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
SC 69PTS cs 30 - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn trả lời?
SC 70- Này Poṭṭhapāda, câu hỏi này thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản của phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy Ta trả lời.
SC 71- Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiên Thệ, như vậy là phải. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Ngài làm gì Ngài xem là phải làm.
SC 72Và Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 73PTS cs 31 Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu, những du sĩ ngoại đạo ấy liền bao vây xung quanh du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Poṭṭhapāda này là như vậy, những gì Sa-môn Gotama nói đều được Poṭṭhapāda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, “hay Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”.
SC 74Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda nói với các du sĩ ngoại đạo kia
SC 75—Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị tuyên bố một phương pháp như thực, chân chánh, chân thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại không tán thành?
SC 76PTS cs 32 Hai ba ngày sau, Citta Hatthisāriputta và du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đi đến nơi, Citta Hatthisāriputta đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 77—Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu những du sĩ ngoại đạo liền bao vây xung quanh con và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Poṭṭhapāda này là như vậy. Những gì Sa-môn Gotama nói đều được Poṭṭhapāda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải, Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Khi được nói vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo kia: “Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường con”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hưu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác” hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn thánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại có thể không tán thành?”
SC 78PTS cs 33 - Này Poṭṭhapāda, những vị du sĩ ngoại đạo ấy là mù, không có mắt, chỉ có ngươi là người có mắt độc nhất giữa chúng. Này Poṭṭhapāda, có những pháp được Ta truyền thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, có những pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? “Thế giới là thường còn”, Này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là vô thường”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là hữu biên”, này Poṭṭhapāda … “Thế giới là vô biên”, này Poṭṭhapāda … “Sinh mạng và thân thể là một”, này Poṭṭhapāda … “Sinh mạng khác, thân thể khác”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai có tồn tại và cũng không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai không có tồn tại và cũng không không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát.
SC 79Này Poṭṭhapāda, vì sao những pháp ấy lại được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? Này Poṭṭhapāda, những pháp này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? “Ðây là khổ”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ tập”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ diệt”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách dứt khoát.
SC 80Này Poṭṭhapāda, vì sao những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? Này Poṭṭhapāda, những pháp ấy thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát.
SC 81PTS cs 34 Này Poṭṭhapāda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được Ta hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự thân cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?
SC 82Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên, đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. “Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hành. Này các vị hãy thực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời không. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác hợp lý?
SC 83PTS cs 35 Như có một người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và ái luyến một người Ông không biết, Ông không thấy?” Ðược hỏi vậy vị ấy trả lời phải. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác hợp lý?
SC 84- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 85PTS cs 36 - Như vậy này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”, Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự nhận cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không? Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hạnh! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc! Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Poṭṭhapāda, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác, hợp lý?
SC 86- Vâng phải, bạch Thế Tôn sự kiện là như vậy, theo lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 87PTS cs 37 - Này Poṭṭhapāda, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải, Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Poṭṭhapāda ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?
SC 88- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 89PTS cs 38 - Như vậy này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự tâm cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng thực hành! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được nói vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ như thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn, kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 90- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh đáng, hợp lý.
SC 91PTS cs 39 - Này Poṭṭhapāda, có ba loại ngã chấp: thô phù ngã chấp, ý sở thành ngã chấp, vô sắc ngã chấp. Này Poṭṭhapāda, thế nào là thô phù ngã chấp? Có sắc, do bốn đại hình thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngã chấp. Thế nào ý sở thành ngã chấp? Có sắc, do ý sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ý sở thành ngã chấp. Thế nào là vô sắc ngã chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngã chấp.
SC 92PTS cs 40 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp để diệt thô phù ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các người nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.
SC 93PTS cs 41 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ ý sở thành ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, khi ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quãng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm tỉnh giác là lạc trú sanh.
SC 94PTS cs 42 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ vô sắc ngã chấp. Nếu các ngươi thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.
SC 95PTS cs 43 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”
SC 96Khi được chúng hỏi như vậy, chúng tôi trả lời “Này Hiền giả, chính thô phù ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 97PTS cs 44 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi: “Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp này được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại?”
SC 98Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính ý sở thành ngã chấp ấy chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 99PTS cs 45 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”. Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 100Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?
SC 101PTS cs 46 Này Poṭṭhapāda, ví như một người xây một cái thang để leo lên lầu, từ dưới chân lầu ấy. Người ấy được hỏi: “Này bạn, Ông xây cái thang để leo lên lầu, cái lầu ấy về hướng Ðông hay hướng Nam, hay hướng Tây, hay hướng Bắc? Nhà lầu ấy cao, hay thấp, hay trung bình? Nếu người ấy trả lời: “Này Hiền giả, cái lầu mà tôi xây thang để leo lên chính tại dưới chân lầu này”. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói ấy là chính xác, hợp chăng?
SC 102- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!
SC 103PTS cs 47 - Như vậy, này Poṭṭhapāda, và có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp là gì? … Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp là gì? … Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?” Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy mà chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 104- Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?
SC 105- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!
SC 106PTS cs 48 Khi nghe nói vậy, Citta Hatthisāriputta bạch Thế Tôn
SC 107—Bạch Thế Tôn, trong khi có thô phù ngã chấp, phải chăng không có ý sở thành ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Thô phù ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có ý sở thành ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Ý sở thành ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có vô sắc ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có ý sở thành ngã chấp? Vô sắc ngã chấp khi ấy thật có tồn tại.
SC 108PTS cs 49 - Này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, nếu có người hỏi ngươi: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại không?” Này Citta, được hỏi vậy, ngươi trả lời như thế nào?
SC 109- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại hay không?” Bạch Thế Tôn được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Tôi đã có tồn tại ở quá khứ, không phải không tồn tại; tôi sẽ tồn tại ở tương lai, không phải không tồn tại; tôi tồn tại ở hiện tại, không phải không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.
SC 110PTS cs 50 - Này Citta, nếu có người hỏi lại ngươi: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Này Citta, được hỏi vậy, Ngươi trả lời thế nào?
SC 111- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Quá khứ ngã chấp mà tôi đã có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà tôi sẽ có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại. Hiện tại ngã chấp mà tôi hiện có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con sẽ trả lời như vậy.
SC 112PTS cs 51 - Như vậy này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp.
SC 113PTS cs 52 Này Citta, ví như từ bò cái sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc … khi thành sanh tô … khi thành thục tô … khi thành đề hồ thời đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ.
SC 114PTS cs 53 Như vậy này Citta trong khi có thô phù ngã chấp … Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp … Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, chúng chỉ là danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.
SC 115PTS cs 54 Ðược nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 116—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 117PTS cs 55 Và Citta Hatthisāriputta cũng bạch Thế Tôn
SC 118—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.
SC 119PTS cs 56 Citta Hatthisāriputta được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Ðại đức Citta Hatthisāriputta ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Ðại đức Citta Hatthisāriputta hiểu biết như vậy.
SC 120Và đại đức Citta Hatthisāriputta trở thành một vị A-la-hán nữa.
1. Poṭṭhapādaparibbājakavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena poṭṭhapādo paribbājako samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya ārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ tiṁsamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ.
Yannūnāhaṁ yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo, yena poṭṭhapādo paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho bhagavā yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena poṭṭhapādo paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā.
Seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ;
disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhapesi:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha.
Ayaṁ samaṇo gotamo āgacchati.
Appasaddakāmo kho so āyasmā appasaddassa vaṇṇavādī.
Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Evaṁ vutte, te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho bhagavā yena poṭṭhapādo paribbājako tenupasaṅkami.
Atha kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“etu kho, bhante, bhagavā.
Svāgataṁ, bhante, bhagavato.
Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi, yadidaṁ idhāgamanāya.
Nisīdatu, bhante, bhagavā, idaṁ āsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Poṭṭhapādopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho poṭṭhapādaṁ paribbājakaṁ bhagavā etadavoca:
“kāya nuttha, poṭṭhapāda, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
1.1. Abhisaññānirodhakathā
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“tiṭṭhatesā, bhante, kathā, yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā.
Nesā, bhante, kathā bhagavato dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya.
Purimāni, bhante, divasāni purimatarāni, nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ kotūhalasālāya sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ abhisaññānirodhe kathā udapādi:
‘kathaṁ nu kho, bho, abhisaññānirodho hotī’ti?
Tatrekacce evamāhaṁsu:
‘ahetū appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi.
Yasmiṁ samaye uppajjanti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye nirujjhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tamañño evamāha:
‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati.
Saññā hi, bho, purisassa attā.
Sā ca kho upetipi apetipi.
Yasmiṁ samaye upeti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye apeti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tamañño evamāha:
‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati.
Santi hi, bho, samaṇabrāhmaṇā mahiddhikā mahānubhāvā.
Te imassa purisassa saññaṁ upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi.
Yasmiṁ samaye upakaḍḍhanti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tamañño evamāha:
‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati.
Santi hi, bho, devatā mahiddhikā mahānubhāvā.
Tā imassa purisassa saññaṁ upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi.
Yasmiṁ samaye upakaḍḍhanti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tassa mayhaṁ, bhante, bhagavantaṁyeva ārabbha sati udapādi:
‘aho nūna bhagavā, aho nūna sugato, yo imesaṁ dhammānaṁ sukusalo’ti.
Bhagavā, bhante, kusalo, bhagavā pakataññū abhisaññānirodhassa.
Kathaṁ nu kho, bhante, abhisaññānirodho hotī”ti?
1.2. Sahetukasaññuppādanirodhakathā
“Tatra, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘ahetū appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipī’ti, āditova tesaṁ aparaddhaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Sahetū hi, poṭṭhapāda, sappaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi.
Sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Kā ca sikkhā”ti? Bhagavā avoca.
“Idha, poṭṭhapāda, tathāgato loke uppajjati arahaṁ, sammāsambuddho …pe…
Evaṁ kho, poṭṭhapāda, bhikkhu sīlasampanno hoti
…pe…
tassime pañcanīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi, savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā kāmasaññā, sā nirujjhati.
Vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, vivekajapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayaṁ sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, samādhijapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti, tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Upekkhāsukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, upekkhāsukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā upekkhāsukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Adukkhamasukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, adukkhamasukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā rūpasaññā, sā nirujjhati.
Ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Yato kho, poṭṭhapāda, bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato amutra anupubbena saññaggaṁ phusati.
Tassa saññagge ṭhitassa evaṁ hoti:
‘cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo.
Ahañceva kho pana ceteyyaṁ, abhisaṅkhareyyaṁ, imā ca me saññā nirujjheyyuṁ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṁ;
yannūnāhaṁ na ceva ceteyyaṁ na ca abhisaṅkhareyyan’ti.
So na ceva ceteti, na ca abhisaṅkharoti.
Tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti.
So nirodhaṁ phusati.
Evaṁ kho, poṭṭhapāda, anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hoti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
api nu te ito pubbe evarūpā anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti sutapubbā”ti?
“No hetaṁ, bhante.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavato bhāsitaṁ ājānāmi:
‘yato kho, poṭṭhapāda, bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato amutra anupubbena saññaggaṁ phusati,
tassa saññagge ṭhitassa evaṁ hoti:
“cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo.
Ahañceva kho pana ceteyyaṁ abhisaṅkhareyyaṁ, imā ca me saññā nirujjheyyuṁ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṁ;
yannūnāhaṁ na ceva ceteyyaṁ, na ca abhisaṅkhareyyan”ti.
So na ceva ceteti, na cābhisaṅkharoti, tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti.
So nirodhaṁ phusati.
Evaṁ kho, poṭṭhapāda, anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hotī’”ti.
“Evaṁ, poṭṭhapādā”ti.
“Ekaññeva nu kho, bhante, bhagavā saññaggaṁ paññapeti, udāhu puthūpi saññagge paññapetī”ti?
“Ekampi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, saññaggaṁ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemī”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, bhagavā ekampi saññaggaṁ paññapeti, puthūpi saññagge paññapetī”ti?
“Yathā yathā kho, poṭṭhapāda, nirodhaṁ phusati tathā tathāhaṁ saññaggaṁ paññapemi.
Evaṁ kho ahaṁ, poṭṭhapāda, ekampi saññaggaṁ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemī”ti.
“Saññā nu kho, bhante, paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, udāhu ñāṇaṁ paṭhamaṁ uppajjati, pacchā saññā, udāhu saññā ca ñāṇañca apubbaṁ acarimaṁ uppajjantī”ti?
“Saññā kho, poṭṭhapāda, paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hoti.
So evaṁ pajānāti:
‘idappaccayā kira me ñāṇaṁ udapādī’ti.
Iminā kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ—
yathā saññā paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hotī”ti.
1.3. Saññāattakathā
“Saññā nu kho, bhante, purisassa attā, udāhu aññā saññā añño attā”ti?
“Kaṁ pana tvaṁ, poṭṭhapāda, attānaṁ paccesī”ti?
“Oḷārikaṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi rūpiṁ cātumahābhūtikaṁ kabaḷīkārāhārabhakkhan”ti.
“Oḷāriko ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho. Evaṁ santaṁ kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, oḷāriko attā rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.
Iminā kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Manomayaṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyan”ti.
“Manomayo ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, evaṁ santampi kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, manomayo attā sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.
Imināpi kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Arūpiṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi saññāmayan”ti.
“Arūpī ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa saññāmayo, evaṁ santampi kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, arūpī attā saññāmayo, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.
Imināpi kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Sakkā panetaṁ, bhante, mayā ñātuṁ:
‘saññā purisassa attā’ti vā ‘aññāva saññā añño attā’ti vā”ti?
“Dujjānaṁ kho etaṁ, poṭṭhapāda, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena:
‘saññā purisassa attā’ti vā, ‘aññāva saññā añño attāti’ vā”ti.
“Sacetaṁ, bhante, mayā dujjānaṁ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena:
‘saññā purisassa attā’ti vā, ‘aññāva saññā añño attā’ti vā;
kiṁ pana, bhante, ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, poṭṭhapāda, mayā:
‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, ‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Etampi kho, poṭṭhapāda, mayā abyākataṁ:
‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, ‘antavā loko …pe…
‘anantavā loko …
‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Etampi kho, poṭṭhapāda, mayā abyākataṁ:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kasmā panetaṁ, bhante, bhagavatā abyākatan”ti?
“Na hetaṁ, poṭṭhapāda, atthasaṁhitaṁ na dhammasaṁhitaṁ nādibrahmacariyakaṁ, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati,
tasmā etaṁ mayā abyākatan”ti.
“Kiṁ pana, bhante, bhagavatā byākatan”ti?
“Idaṁ dukkhanti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhasamudayoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, poṭṭhapāda, mayā byākatan”ti.
“Kasmā panetaṁ, bhante, bhagavatā byākatan”ti?
“Etañhi, poṭṭhapāda, atthasaṁhitaṁ, etaṁ dhammasaṁhitaṁ, etaṁ ādibrahmacariyakaṁ, etaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati;
tasmā etaṁ mayā byākatan”ti.
“Evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato poṭṭhapādaṁ paribbājakaṁ samantato vācā sannitodakena sañjhabbharimakaṁsu:
“evameva panāyaṁ bhavaṁ poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati, taṁ tadevassa abbhanumodati:
‘evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugatā’ti.
Na kho pana mayaṁ kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāma:
‘sassato loko’ti vā, ‘asassato loko’ti vā, ‘antavā loko’ti vā, ‘anantavā loko’ti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti.
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako te paribbājake etadavoca:
“ahampi kho, bho, na kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāmi:
‘sassato loko’ti vā, ‘asassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā;
api ca samaṇo gotamo bhūtaṁ tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapeti dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ.
Bhūtaṁ kho pana tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapentassa dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ, kathañhi nāma mādiso viññū samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyyā”ti?
2. Cittahatthisāriputtapoṭṭhapādavatthu
Atha kho dvīhatīhassa accayena citto ca hatthisāriputto poṭṭhapādo ca paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā citto hatthisāriputto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Poṭṭhapādo pana paribbājako bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“tadā maṁ, bhante, te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato samantato vācāsannitodakena sañjhabbharimakaṁsu:
‘evameva panāyaṁ bhavaṁ poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati, taṁ tadevassa abbhanumodati:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugatā”ti.
Na kho pana mayaṁ kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāma:
“sassato loko”ti vā, “asassato loko”ti vā, “antavā loko”ti vā, “anantavā loko”ti vā, “taṁ jīvaṁ taṁ sarīran”ti vā, “aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran”ti vā, “hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā’ti.
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te paribbājake etadavocaṁ:
‘ahampi kho, bho, na kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāmi:
“sassato loko”ti vā, “asassato loko”ti vā …pe…
“neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā;
api ca samaṇo gotamo bhūtaṁ tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapeti dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ.
Bhūtaṁ kho pana tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapentassa dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ, kathañhi nāma mādiso viññū samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyyā’”ti?
“Sabbeva kho ete, poṭṭhapāda, paribbājakā andhā acakkhukā;
tvaṁyeva nesaṁ eko cakkhumā.
Ekaṁsikāpi hi kho, poṭṭhapāda, mayā dhammā desitā paññattā;
anekaṁsikāpi hi kho, poṭṭhapāda, mayā dhammā desitā paññattā.
Katame ca te, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
‘Sassato loko’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto;
‘asassato loko’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto;
‘antavā loko’ti kho, poṭṭhapāda …pe…
‘anantavā loko’ti kho, poṭṭhapāda …
‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti kho, poṭṭhapāda …
‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti kho, poṭṭhapāda …
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda …
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda …
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Kasmā ca te, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
Na hete, poṭṭhapāda, atthasaṁhitā na dhammasaṁhitā na ādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti.
Tasmā te mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā.
2.1. Ekaṁsikadhammā
Katame ca te, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
Idaṁ dukkhanti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Ayaṁ dukkhasamudayoti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Ayaṁ dukkhanirodhoti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Kasmā ca te, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
Ete hi, poṭṭhapāda, atthasaṁhitā, ete dhammasaṁhitā, ete ādibrahmacariyakā ete nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti.
Tasmā te mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā.
Santi, poṭṭhapāda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
“ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto jānātha:
“ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā, tāsaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha:
“suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya;
mayampi hi, mārisā, evaṁpaṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī, taṁ icchāmi taṁ kāmemī’ti.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ khattiyī vā brāhmaṇī vā vessī vā suddī vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ evaṁnāmā evaṅgottāti vā, dīghā vā rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti, amukasmiṁ gāme vā nigame vā nagare vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, taṁ tvaṁ icchasi kāmesī’ti?
Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
“ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto jānātha:
“ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā, tāsaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha:
“suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya;
mayampi hi, mārisā, evaṁpaṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso cātumahāpathe nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosi, jānāsi taṁ pāsādaṁ puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, tassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosī’ti?
Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
“ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā tāsaṁ devatānaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha:
“suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya;
mayampi hi, mārisā, evaṁ paṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
2.2. Tayoattapaṭilābha
“Tayo kho me, poṭṭhapāda, attapaṭilābhā—
oḷāriko attapaṭilābho, manomayo attapaṭilābho, arūpo attapaṭilābho.
Katamo ca, poṭṭhapāda, oḷāriko attapaṭilābho?
Rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, ayaṁ oḷāriko attapaṭilābho.
Katamo manomayo attapaṭilābho?
Rūpī manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, ayaṁ manomayo attapaṭilābho.
Katamo arūpo attapaṭilābho?
Arūpī saññāmayo, ayaṁ arūpo attapaṭilābho.
Oḷārikassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi:
‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa:
‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti.
Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
Manomayassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi:
‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa:
‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti.
Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
Arūpassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi:
‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa:
‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti.
Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti, tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho, yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, manomayo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti?
Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, manomayo attapaṭilābho yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti?
Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, arūpo attapaṭilābho yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya tasseva pāsādassa heṭṭhā.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosi, jānāsi taṁ pāsādaṁ, puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘ayaṁ vā so, āvuso, pāsādo, yassāhaṁ ārohaṇāya nisseṇiṁ karomi, tasseva pāsādassa heṭṭhā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, pare ce amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho …pe…
katamo pana so, āvuso, manomayo attapaṭilābho …pe…
katamo pana so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti?
Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
Evaṁ vutte, citto hatthisāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“yasmiṁ, bhante, samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti;
oḷāriko vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hoti.
Yasmiṁ, bhante, samaye manomayo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti;
manomayo vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hoti.
Yasmiṁ, bhante, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho manomayo attapaṭilābho hoti;
arūpo vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hotī”ti.
“Yasmiṁ, citta, samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
manomayo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Sace taṁ, citta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘ahosi tvaṁ atītamaddhānaṁ, na tvaṁ nāhosi;
bhavissasi tvaṁ anāgatamaddhānaṁ, na tvaṁ na bhavissasi;
atthi tvaṁ etarahi, na tvaṁ natthī’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, citta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘ahosi tvaṁ atītamaddhānaṁ, na tvaṁ na ahosi;
bhavissasi tvaṁ anāgatamaddhānaṁ, na tvaṁ na bhavissasi;
atthi tvaṁ etarahi, na tvaṁ natthī’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘ahosāhaṁ atītamaddhānaṁ, nāhaṁ na ahosiṁ;
bhavissāmahaṁ anāgatamaddhānaṁ, nāhaṁ na bhavissāmi;
atthāhaṁ etarahi, nāhaṁ natthī’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, citta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno?
Yo te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno?
Yo te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, citta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace pana maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno.
Yo te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno.
Yo te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘yo me ahosi atīto attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco ahosi, mogho anāgato, mogho paccuppanno.
Yo me bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco bhavissati, mogho atīto, mogho paccuppanno.
Yo me etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Evameva kho, citta, yasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati.
Oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti …pe…
yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Seyyathāpi, citta, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo.
Yasmiṁ samaye khīraṁ hoti, neva tasmiṁ samaye dadhīti saṅkhaṁ gacchati, na navanītanti saṅkhaṁ gacchati, na sappīti saṅkhaṁ gacchati, na sappimaṇḍoti saṅkhaṁ gacchati;
khīrantveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ samaye dadhi hoti …pe…
navanītaṁ hoti …
sappi hoti …
sappimaṇḍo hoti, neva tasmiṁ samaye khīranti saṅkhaṁ gacchati, na dadhīti saṅkhaṁ gacchati, na navanītanti saṅkhaṁ gacchati, na sappīti saṅkhaṁ gacchati;
sappimaṇḍotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Evameva kho, citta, yasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti …pe…
yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti …pe…
yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Imā kho, citta, lokasamaññā lokaniruttiyo lokavohārā lokapaññattiyo, yāhi tathāgato voharati aparāmasan”ti.
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
2.3. Cittahatthisāriputtaupasampadā
Citto pana hatthisāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho citto hatthisāriputto bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā citto hatthisāriputto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto na cirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthAttāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā citto hatthisāriputto arahataṁ ahosīti.
Poṭṭhapādasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
I have heard that on one occasion the Blessed One was staying near Savatthi in Jeta’s Grove, Anathapindika’s monastery. Now on that occasion Potthapada the wanderer , together with a large following of about 300 wanderers, had taken up residence in the debating hall near the Tinduka tree in the single-pavilion park of Queen Mallika. Then the Blessed One, early in the morning, taking his robes & bowl, entered Savatthi for alms. Then the thought occurred to him, “While it’s still too early to go into Savatthi for alms, why don’t I go to the debating hall near the Tinduka tree in the single-pavilion park of Queen Mallika to see Potthapada the wanderer?” So he went to the debating hall near the Tinduka tree in the single-pavilion park of Queen Mallika.
Now on that occasion Potthapada the wanderer was sitting with his large following of wanderers, all making a great noise & racket, discussing many kinds of bestial topics of conversation: conversation about kings, robbers, & ministers of state; armies, alarms, & battles; food & drink; clothing, furniture, garlands, & scents; relatives; vehicles; villages, towns, cities, the countryside; women & heroes; the gossip of the street & the well; tales of the dead; tales of diversity, the creation of the world & of the sea; talk of whether things exist or not. Then Potthapada the wanderer saw the Blessed One coming from afar, and on seeing him, hushed his following: “Be quiet, good sirs. Don’t make any noise. Here comes Gotama the contemplative. He is fond of quietude and speaks in praise of quietude. Maybe, if he perceives our group as quiet, he will consider it worth his while to come our way.” So the wanderers fell silent.
Then the Blessed One went to Potthapada, and Potthapada said to him, “Come, Blessed One. Welcome, Blessed One. It’s been a long time since the Blessed One has gone out of his way to come here. Sit down, Blessed One. This seat has been prepared.” So the Blessed One sat on the prepared seat. Potthapada, taking a lower seat, sat to one side. As he was sitting there, the Blessed One said to him, “For what topic of conversation are you gathered together here? In the midst of what topic of conversation have you been interrupted?”
When this was said, Potthapada replied, “Never mind, lord, about the topic of conversation for which we have gathered here. It won’t be difficult for the Blessed One to hear about that later. For the past few days a discussion has arisen among the many sects of brahmans & contemplatives gathered and sitting together in the debating hall, concerning the ultimate cessation of perception: ‘How is there the ultimate cessation of perception?’ With regard to this, some said, ‘A person’s perception arises and ceases without cause, without reason. When it arises, one is percipient. When it ceases, one is not percipient.’ That’s how one group described the ultimate cessation of perception.
“Then someone else said, ‘No, that’s not how it is. Perception is a person’s self, which comes and goes. When it comes, one is percipient. When it goes, one is not percipient.’ That’s how one group described the ultimate cessation of perception.
“Then someone else said, ‘No, that’s not how it is, for there are brahmans & contemplatives of great power, great potency. They draw perception in and out of a person. When they draw it in, one is percipient. When they draw it out, one is not percipient.’ That’s how one group described the ultimate cessation of perception.
“Then someone else said, ‘No, that’s not how it is, for there are devas of great power, great potency. They draw perception in and out of a person. When they draw it in, one is percipient. When they draw it out, one is not percipient.’ That’s how one group described the ultimate cessation of perception.
“Then the memory of the Blessed One arose within me: ‘Ah, the Blessed One! Ah, the One Well-gone—who surely is well-skilled in these matters.’ The Blessed One is skilled and expert in the ultimate cessation of perception. So what, lord, is the ultimate cessation of perception?”
“In this regard, Potthapada, those brahmans & contemplatives who say that a person’s perception arises & ceases without cause, without reason, are wrong from the very start. Why is that? Because a person’s perception arises & ceases with a cause, with a reason. With training, one perception arises and with training another perception ceases. And what is that training?
“There is the case where a Tathagata appears in the world, worthy and rightly self-awakened. as in DN 2 …
“This is how a monk is consummate in virtue …
“Seeing that these five hindrances have been abandoned within him, he becomes glad. Glad, he becomes enraptured. Enraptured, his body grows tranquil. His body tranquil, he is sensitive to pleasure. Feeling pleasure, his mind becomes concentrated.
“Quite withdrawn from sensual pleasures, withdrawn from unskillful mental qualities, the monk enters & remains in the first jhana: rapture & pleasure born from withdrawal, accompanied by directed thought & evaluation. His earlier perception of sensuality ceases, and on that occasion there is a perception of a refined truth of rapture & pleasure born of seclusion. On that occasion he is one who is percipient of a refined truth of rapture & pleasure born of seclusion. And thus it is that with training one perception arises and with training another perception ceases.
“Then, with the stilling of directed thoughts & evaluations, the monk enters & remains in the second jhana: rapture & pleasure born of composure, unification of awareness free from directed thought & evaluation—internal assurance. His earlier perception of a refined truth of rapture & pleasure born of seclusion ceases, and on that occasion there is a perception of a refined truth of rapture & pleasure born of concentration. On that occasion he is one who is percipient of a refined truth of rapture & pleasure born of concentration. And thus it is that with training one perception arises and with training another perception ceases.
“And then, with the fading of rapture, he remains equanimous, mindful, & alert, and senses pleasure with the body. He enters & remains in the third jhana, of which the Noble Ones declare, ‘Equanimous & mindful, he has a pleasant abiding.’ His earlier perception of a refined truth of rapture & pleasure born of concentration ceases, and on that occasion there is a perception of a refined truth of equanimity. On that occasion he is one who is percipient of a refined truth of equanimity. And thus it is that with training one perception arises and with training another perception ceases.
“And then, with the abandoning of pleasure and pain—as with the earlier disappearance of elation and distress—the monk enters & remains in the fourth jhana: purity of equanimity and mindfulness, neither-pleasure-nor-pain. His earlier perception of a refined truth of equanimity ceases, and on that occasion there is a perception of a refined truth of neither pleasure nor pain. On that occasion he is one who is percipient of a refined truth of neither pleasure nor pain. And thus it is that with training one perception arises and with training another perception ceases.
“And then, with the complete transcending of perceptions of [physical] form, with the disappearance of perceptions of resistance, and not heeding perceptions of diversity, [perceiving,] ‘Infinite space,’ the monk enters & remains in the dimension of the infinitude of space. His earlier perception of a refined truth of neither pleasure nor pain ceases, and on that occasion there is a perception of a refined truth of the dimension of the infinitude of space. On that occasion he is one who is percipient of a refined truth of the dimension of the infinitude of space. And thus it is that with training one perception arises and with training another perception ceases.
“And then, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of space, [perceiving,] ‘Infinite consciousness,’ the monk enters & remains in the dimension of the infinitude of consciousness. His earlier perception of a refined truth of the dimension of the infinitude of space ceases, and on that occasion there is a perception of a refined truth of the dimension of the infinitude of consciousness. On that occasion he is one who is percipient of a refined truth of the dimension of the infinitude of consciousness. And thus it is that with training one perception arises and with training another perception ceases.
“And then, with the complete transcending of the dimension of the infinitude of consciousness, [thinking,] ‘There is nothing,’ enters & remains in the dimension of nothingness. His earlier perception of a refined truth of the dimension of the infinitude of consciousness ceases, and on that occasion there is a perception of a refined truth of the dimension of nothingness. On that occasion he is one who is percipient of a refined truth of the dimension of nothingness. And thus it is that with training one perception arises and with training another perception ceases.
“Now, when the monk is percipient of himself here, then from there to there, step by step, he touches the peak of perception. As he remains at the peak of perception, the thought occurs to him, ‘Thinking is bad for me. Not thinking is better for me. If I were to think and will, this perception of mine would cease, and a grosser perception would appear. What if I were neither to think nor to will?’ So he neither thinks nor wills, and as he is neither thinking nor willing, that perception ceases and another, grosser perception does not appear. He touches cessation. This, Potthapada, is how there is the alert step-by step attainment of the ultimate cessation of perception.
“Now what do you think, Potthapada—have you ever before heard of such an alert step-by step attainment of the ultimate cessation of perception?”
“No, lord. And here is how I understand the Dhamma taught by the Blessed One: ‘When the monk is percipient of himself here, then from there to there, step by step, he touches the peak of perception. As he remains at the peak of perception, the thought occurs to him, “Thinking is bad for me. Not thinking is better for me. If I were to think and will, this perception of mine would cease, and a grosser perception would appear. What if I were neither to think nor to will?” So he neither thinks nor wills, and as he is neither thinking nor willing, that perception ceases and another, grosser perception does not appear. He touches cessation. This, Potthapada, is how there is the alert step-by step attainment of the ultimate cessation of perception.’”
“That’s right, Potthapada.”
“But, lord, does the Blessed One describe one peak of perception or many peaks of perception?”
“Potthapada, I describe one peak of perception and many peaks of perception.”
“And how does the Blessed One describe one peak of perception and many peaks of perception?”
“In whatever way one touches cessation, Potthapada, that’s the way I describe the peak of perception. That’s how I describe one peak of perception and many peaks of perception.”
“Now, lord, does perception arise first, and knowledge after; or does knowledge arise first, and perception after; or do perception & knowledge arise simultaneously?”
“Potthapada, perception arises first, and knowledge after. And the arising of knowledge comes from the arising of perception. One discerns, ‘It’s in dependence on this that my knowledge has arisen.’ Through this line of reasoning one can realize how perception arises first, and knowledge after, and how the arising of knowledge comes from the arising of perception.”
“Now, lord, is perception a person’s self, or is perception one thing and self another?”
“What self do you posit, Potthapada?”
“I posit a gross self, possessed of form, made up of the four great existents [earth, water, fire, and wind], feeding on physical food.”
“Then, Potthapada, your self would be gross, possessed of form, made up of the four great existents, feeding on physical food. That being the case, then for you perception would be one thing and self another. And it’s through this line of reasoning that one can realize how perception will be one thing and self another: even as there remains this gross self—possessed of form, made up of the four great existents, and feeding on food—one perception arises for that person as another perception passes away. It’s through this line of reasoning that one can realize how perception will be one thing and self another.”
“Then, lord, I posit a mind-made self complete in all its parts, not inferior in its faculties.”
“Then, Potthapada, your self would be mind-made, complete in all its parts, not inferior in its faculties. That being the case, then for you perception would be one thing and self another. And it’s through this line of reasoning that one can realize how perception will be one thing and self another: even as there remains this mind-made self—complete in all its parts, not inferior in its faculties—one perception arises for that person as another perception passes away. It’s through this line of reasoning that one can realize how perception will be one thing and self another.”
“Then, lord, I posit a formless self made of perception.”
“Then, Potthapada, your self would be formless and made of perception. That being the case, then for you perception would be one thing and self another. And it’s through this line of reasoning that one can realize how perception will be one thing and self another: even as there remains this formless self made of perception, one perception arises for that person as another perception passes away. It’s through this line of reasoning that one can realize how perception will be one thing and self another.”
“Is it possible for me to know, lord, whether perception is a person’s self or if perception is one thing and self another?”
“Potthapada—having other views, other practices, other satisfactions, other aims, other teachers—it’s hard for you to know whether perception is a person’s self or if perception is one thing and self another.”
“ Well then , lord, if—having other views, other practices, other satisfactions, other aims, other teachers—it’s hard for me to know whether perception is a person’s self or if perception is one thing and self another, then is it the case that the cosmos is eternal, that only this is true and anything otherwise is worthless?”
“Potthapada, I haven’t expounded that the cosmos is eternal, that only this is true and anything otherwise is worthless.”
“Then is it the case that the cosmos is not eternal, that only this is true and anything otherwise is worthless?”
“Potthapada, I haven’t expounded that the cosmos is not eternal, that only this is true and anything otherwise is worthless.”
“Then is it the case that the cosmos is finite … the cosmos is infinite … the soul & the body are the same … the soul is one thing and the body another … after death a Tathagata exists … after death a Tathagata does not exist … after death a Tathagata both exists & does not exist … after death a Tathagata neither exists nor does not exist, that only this is true and anything otherwise is worthless?”
“Potthapada, I haven’t expounded that after death a Tathagata neither exists nor does not exist, that only this is true and anything otherwise is worthless.”
“But why hasn’t the Blessed One expounded these things?”
“Because they are not conducive to the goal, are not conducive to the Dhamma, are not basic to the holy life. They don’t lead to disenchantment, to dispassion, to cessation, to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding. That’s why I haven’t expounded them.”
“And what has the Blessed One expounded?”
“I have expounded that, ‘This is stress’ … ‘This is the origination of stress’ … ‘This is the cessation of stress’ … ‘This is the path of practice leading to the cessation of stress.’
“And why has the Blessed One expounded these things?”
“Because they are conducive to the goal, conducive to the Dhamma, and basic to the holy life. They lead to disenchantment, to dispassion, to cessation, to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding. That’s why I have expounded them.”
“So it is, Blessed One. So it is, O One Well-gone. Well now, it’s time for the Blessed One to do as he sees fit.”
Then the Blessed One got up from his seat and left.
Not long after he had left, the wanderers, with sneering words, jeered at Potthapada the wanderer from all sides: “So, whatever Gotama the contemplative says, Sir Potthapada rejoices in his every word: ‘So it is, Blessed One. So it is, O One Well-gone.’ But we don’t understand Gotama the contemplative as having taught any categorical teaching as to whether the cosmos is infinite or the cosmos is finite or … whether after death a Tathagata neither exists nor does not exist.”
When this was said, Potthapada the wanderer replied to the wanderers, “I, too, don’t understand Gotama the contemplative as having taught any categorical teaching as to whether the cosmos is infinite or the cosmos is finite or … whether after death a Tathagata neither exists nor does not exist. But Gotama the contemplative describes a genuine, authentic, and accurate practice, grounded in the Dhamma and consonant with the Dhamma. And when a genuine, authentic, and accurate practice, grounded in the Dhamma and consonant with the Dhamma is being explained, why shouldn’t a knowledgeable person such as myself rejoice in the well-spokenness of Gotama the contemplative’s well-spoken words?”
Then two or three days later, Citta the elephant trainer’s son and Potthapada the wanderer went to the Blessed One. On their arrival, Citta bowed down to the Blessed One and sat to one side, while Potthapada the wanderer greeted the Blessed One courteously. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to the Blessed One: “The other day, not long after the Blessed One had left, the wanderers, with sneering words, jeered at me from all sides: ‘So, whatever Gotama the contemplative says, Sir Potthapada rejoices in his every word: “So it is, Blessed One. So it is, O One Well-gone.” But we don’t understand Gotama the contemplative as having taught any categorical teaching as to whether the cosmos is infinite or the cosmos is finite or … whether after death a Tathagata neither exists nor does not exist.’
“When this was said, I replied to the wanderers, ‘I, too, don’t understand Gotama the contemplative as having taught any categorical teaching as to whether the cosmos is infinite or the cosmos is finite or … whether after death a Tathagata neither exists nor does not exist. But Gotama the contemplative describes a genuine, authentic, and accurate practice, grounded in the Dhamma and consonant with the Dhamma. And when a genuine, authentic, and accurate practice, grounded in the Dhamma and consonant with the Dhamma is being explained, why shouldn’t a knowledgeable person such as myself rejoice in the well-spokenness of Gotama the contemplative’s well-spoken words?’”
[The Buddha:] “Potthapada, all those wanderers are blind and have no eyes. You alone among them have eyes. I have taught and declared some teachings to be categorical, and some teachings to be non-categorical. And what are the teachings that I have taught and declared to be non-categorical? [The statement that] ‘The cosmos is eternal’ I have taught and declared to be an non-categorical teaching. [The statement that] ‘The cosmos is not eternal’ … ‘The cosmos is finite’ … ‘The cosmos is infinite’ … ‘The soul & the body are the same’ … ‘The soul is one thing and the body another’ … ‘After death a Tathagata exists’ … ‘After death a Tathagata does not exist’ … ‘After death a Tathagata both exists & does not exist’ … ‘After death a Tathagata neither exists nor does not exist’ I have taught and declared to be an non-categorical teaching. And why have I taught and declared these teachings to be non-categorical? Because they are not conducive to the goal, are not conducive to the Dhamma, are not basic to the holy life. They don’t lead to disenchantment, to dispassion, to cessation, to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding. That’s why I have taught and declared them to be non-categorical.
“And what have I taught and declared to be categorical teachings? [The statement that] ‘This is stress’ I have taught and declared to be a categorical teaching. [The statement that] ‘This is the origination of stress’ … ‘This is the cessation of stress’ … ‘This is the path of practice leading to the cessation of stress’ I have taught and declared to be a categorical teaching. And why have I taught and declared these teachings to be categorical? Because they are conducive to the goal, conducive to the Dhamma, and basic to the holy life. They lead to disenchantment, to dispassion, to cessation, to calm, to direct knowledge, to self-awakening, to Unbinding. That’s why I have taught and declared them to be categorical.
“There are some brahmans & contemplatives with a doctrine & view like this: ‘After death, the self is exclusively happy and free from disease.’ I approached them and asked them, ‘Is it true that you have a doctrine & view like this: “After death, the self is exclusively happy and free from disease"?’ When asked this, they replied, ‘Yes.’ So I asked them, ‘But do you dwell having known or seen an exclusively happy world?’ When asked this, they said, ‘No.’ So I asked them, ‘But have you ever been aware of a self exclusively happy for a day or a night, or for half a day or half a night?’ When asked this, they said, ‘No.’ So I asked them, ‘But do you know that “This is the path, this is the practice for the realization of an exclusively happy world"?’ When asked this, they said, ‘No.’ So I asked them, ‘But have you heard the voices of devas reborn in an exclusively happy world, saying, “Practice well, my dears. Practice straightforwardly, my dears, for the realization of an exclusively happy world, because it was through such a practice that we ourselves have been reborn in an exclusively happy world"?’ When asked this, they said, ‘No.’
“So what do you think, Potthapada—when this is the case, don’t the words of those brahmans & contemplatives turn out to be unconvincing?”
“Yes, lord. When this is the case, the words of those brahmans & contemplatives turn out to be unconvincing.”
“Potthapada, it’s as if a man were to say, ‘I’m in love with the most beautiful woman in this country,’ and other people were to say to him, ‘Well, my good man, this most beautiful woman in this country with whom you are in love: do you know if she’s of the warrior caste, the priestly caste, the merchant caste, or the laborer caste?’ and, when asked this, he would say, ‘No.’ Then they would say to him, ‘Well then, do you know her name or clan name? Whether she’s tall, short, or of medium height? Whether she’s dark, fair, or ruddy-skinned? Do you know what village or town or city she’s from?’ When asked this, he would say, ‘No.’ Then they would say to him, ‘So you’ve never known or seen the woman you’re in love with?’ When asked this, he would say, ‘Yes.’
“So what do you think, Potthapada—when this is the case, don’t the words of that man turn out to be unconvincing?”
“Yes, lord … ”
“In the same way, there are some brahmans & contemplatives with a doctrine & view like this: ‘After death, the self is exclusively happy and free from disease.’ … Don’t the words of those brahmans & contemplatives turn out to be unconvincing?”
“Yes, lord … ”
“ Potthapada , it’s as if a man at a crossroads were to build a staircase for ascending to a palace, and other people were to say to him, ‘Well, my good man, this palace for which you are building a staircase: do you know whether it’s east, west, north, or south of here? Whether it’s high, low, or in between?’ and, when asked this, he would say, ‘No.’ Then they would say to him, ‘So you don’t know or see the palace for which you are building a staircase?’ When asked this, he would say, ‘Yes.’
“So what do you think, Potthapada—when this is the case, don’t the words of that man turn out to be unconvincing?”
“Yes, lord … ”
“In the same way, there are some brahmans & contemplatives with a doctrine & view like this: ‘After death, the self is exclusively happy and free from disease.’ … Don’t the words of those brahmans & contemplatives turn out to be unconvincing?”
“Yes, lord. When this is the case, the words of those brahmans & contemplatives turn out to be unconvincing.”
“Potthapada, there are these three acquisitions of a self : the gross acquisition of a self, the mind-made acquisition of a self, and the formless acquisition of a self. And what is the gross acquisition of a self? Possessed of form, made up of the four great existents, feeding on physical food: this is the gross acquisition of a self. And what is the mind-made acquisition of a self? Possessed of form, mind-made, complete in all its parts, not inferior in its faculties: this is the mind-made acquisition of a self. And what is the formless acquisition of a self? Formless and made of perception: this is the formless acquisition of a self.
“I teach the Dhamma for the abandoning of the gross acquisition of a self, such that, when you practice it, defiling mental qualities will be abandoned, bright mental qualities will grow, and you will enter & remain in the culmination & abundance of discernment, having known & realized it for yourself in the here & now. If the thought should occur to you that, when defiling mental qualities are abandoned and bright mental qualities have grown, and one enters & remains in the culmination & abundance of discernment, having known & realized it for oneself in the here & now, one’s abiding is stressful/painful, you should not see it in that way. When defiling mental qualities are abandoned and bright mental qualities have grown, and one enters & remains in the culmination & abundance of discernment, having known & realized it for oneself in the here & now, there is joy, rapture, serenity, mindfulness, alertness, and a pleasant/happy abiding.
“I also teach the Dhamma for the abandoning of the mind-made acquisition of a self … for the abandoning of the formless acquisition of a self, such that, when you practice it, defiling mental qualities will be abandoned, bright mental qualities will grow, and you will enter & remain in the culmination & abundance of discernment, having known & realized it for yourself in the here & now … When defiling mental qualities are abandoned and bright mental qualities have grown, and one enters & remains in the culmination & abundance of discernment, having known & realized it for oneself in the here & now, there is joy, rapture, serenity, mindfulness, alertness, and a pleasant/happy abiding.
“In the past, I have been asked, ‘What, friend, is the gross acquisition of a self for whose abandoning you teach the Dhamma such that, when you practice it, defiling mental qualities will be abandoned, bright mental qualities will grow, and you will enter & remain in the culmination & abundance of discernment, having known & realized it for yourself in the here & now?’ When asked this, I would answer, ‘This, friend, is that gross acquisition of a self for whose abandoning I teach the Dhamma … ’
“In the past, I have been asked, ‘What, friend, is the mind-made acquisition of a self … the formless acquisition of a self for whose abandoning you teach the Dhamma … ?’ When asked this, I would answer, ‘This, friend, is that gross acquisition of a self for whose abandoning I teach the Dhamma … ’
“What do you think, Potthapada. When this is the case, don’t those words turn out to be convincing?”
“Yes, lord. When this is the case, those words turn out to be convincing.”
“Potthapada, it’s as if a man at a crossroads were to build a staircase for ascending to a palace, and other people were to say to him, ‘Well, my good man, this palace for which you are building a staircase: do you know whether it’s east, west, north, or south of here? Whether it’s high, low, or in between?’ He would say, ‘This, friends, is the palace to which I am building a staircase. The staircase is right under the palace.’
“So what do you think, Potthapada—when this is the case, don’t the words of that man turn out to be convincing?”
“Yes, lord … ”
“In the same way, in the past I have been asked, ‘What, friend, is the gross acquisition of a self … the mind-made acquisition of a self … the formless acquisition of a self for whose abandoning you teach the Dhamma … ?’ When asked this, I would answer, ‘This, friend, is that gross acquisition of a self for whose abandoning I teach the Dhamma … ’
“What do you think, Potthapada. When this is the case, don’t those words turn out to be convincing?”
“Yes, lord. When this is the case, those words turn out to be convincing.”
When this was said, Citta the elephant trainer’s son said to the Blessed One: “When there is a gross acquisition of a self, is it the case then that one’s mind-made acquisition of a self and formless acquisition of a self are null & void, and only one’s gross acquisition of a self is true? And when there is a mind-made acquisition of a self, is it the case then that one’s gross acquisition of a self and formless acquisition of a self are null & void, and only one’s mind-made acquisition of a self is true? And when there is a formless acquisition of a self, is it the case then that one’s gross acquisition of a self and mind-made acquisition of a self are null & void, and only one’s formless acquisition of a self is true?”
“Citta, when there is a gross acquisition of a self, it’s not classified either as a mind-made acquisition of a self or as a formless acquisition of a self. It’s classified just as a gross acquisition of a self. When there is a mind-made acquisition of a self, it’s not classified either as a gross acquisition of a self or as a formless acquisition of a self. It’s classified just as a mind-made acquisition of a self. When there is a formless acquisition of a self, it’s not classified either as a gross acquisition of a self or as a mind-made acquisition of a self. It is classified just as a formless acquisition of a self.
“Suppose they were to ask you: ‘Did you exist in the past? Did you not not exist? Will you exist in the future? Will you not not exist? Do you exist now? Do you not not exist?’ Thus asked, how would you answer?”
“ … Thus asked, lord, I would answer: ‘I existed in the past. I did not not exist. I will exist in the future. I will not not exist. I exist now. I do not not exist.’ … That’s how I would answer.”
“Suppose, Citta, they were to ask you: ‘Whatever your past acquisition of a self: Is that alone your true acquisition of self, while the future & present ones are null & void? Whatever your future acquisition of a self: Is that alone your true acquisition of a self, while the past & present ones are null & void? Whatever your present acquisition of a self: Is that alone your true acquisition of a self, while the past & future ones are null & void?’ Thus asked, how would you answer?”
“ … Thus asked, lord, I would answer: ‘Whatever my past acquisition of a self: on that occasion, that alone was my true acquisition of a self, while future & present ones were null & void. Whatever my future acquisition of a self: on that occasion, that alone will be my true acquisition of a self, while the past & present ones will be null & void. Whatever my present acquisition of a self: on that occasion, that alone is my true acquisition of a self, while the past & future ones are null & void.
“In the same way, Citta, when there is a gross acquisition of a self … it’s classified just as a gross acquisition of a self. When there is a mind-made acquisition of a self … When there is a formless acquisition of a self, it’s not classified either as a gross acquisition of a self or as a mind-made acquisition of a self. It’s classified just as a formless acquisition of a self.
“ Just as when milk comes from a cow, curds from milk, butter from curds, ghee from butter, and the skimmings of ghee from ghee. When there is milk, it’s not classified as curds, butter, ghee, or skimmings of ghee. It’s classified just as milk. When there are curds … When there is butter … When there is ghee … When there are the skimmings of ghee, they’re not classified as milk, curds, butter, or ghee. They’re classified just as the skimmings of ghee.
“In the same way, when there is a gross acquisition of a self … it’s classified just as a gross acquisition of a self. When there is a mind-made acquisition of a self … When there is a formless acquisition of a self, it’s not classified either as a gross acquisition of a self or as a mind-made acquisition of a self. It’s classified just as a formless acquisition of a self.
“Citta, these are the world’s designations, the world’s expressions, the world’s ways of speaking, the world’s descriptions, with which the Tathagata expresses himself but without grasping to them.”
When this was said , Potthapada the wanderer said to the Blessed One: “Magnificent, Master Gotama! Magnificent! Just as if he were to place upright what was overturned, to reveal what was hidden, to show the way to one who was lost, or to carry a lamp into the dark so that those with eyes could see forms, in the same way has Master Gotama—through many lines of reasoning—made the Dhamma clear. I go to Master Gotama for refuge, to the Dhamma, and to the Sangha of monks. May Master Gotama remember me as a lay follower who has gone to him for refuge, from this day forward, for life.”
But Citta the elephant trainer’s son said to the Blessed One: “Magnificent, Master Gotama! Magnificent! Just as if he were to place upright what was overturned … in the same way has Master Gotama—through many lines of reasoning—made the Dhamma clear. I go to Master Gotama for refuge, to the Dhamma, and to the Sangha of monks. Let me obtain the Going Forth in the Blessed One’s presence! Let me obtain Acceptance!”
So Citta the elephant trainer’s son obtained the Going Forth in the Blessed One’s presence; he obtained Acceptance. And not long after his Acceptance—dwelling alone, secluded, heedful, ardent, & resolute—he in no long time reached & remained in the supreme goal of the holy life, for which clansmen rightly go forth from home into homelessness, knowing & realizing it for himself in the here & now. He knew: “Birth is ended, the holy life fulfilled, the task done. There is nothing further for the sake of this world.” And thus Ven. Elephant-trainer’s Son became another one of the arahants.
SC 1PTS cs 1 Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Sāvatthi (Xá-vệ), rừng Jetavana (Kỳ viên), vườn Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda (Bố-sá-bà-lâu) cùng với đại chúng du sĩ ngoại đạo khoảng ba trăm vị, ở tại vườn của hoàng hậu Mallikā (Mạt-lê-viên) tên là Ekasālaka có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn về chánh kiến, tà kiến.
SC 2PTS cs 2 Lúc bấy giờ Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y cầm bát vào Sāvatthi khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Nay còn quá sớm để đi khất thực tại Sāvatthi, Ta hãy đi đến vườn của hoàng hậu Mallikā tên là Ekasālaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận bàn chánh kiến, tà kiến, để gặp du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda”. Và Thế Tôn đi đến vườn của hoàng hậu Mallikā, tên là Ekasālaka, có hàng rào cây tinduka, một hội thảo trường luận về chánh kiến, tà kiến.
SC 3PTS cs 3 Lúc bấy giờ du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda ngồi với đại chúng du sĩ ngoại đạo, đang ồn ào, la lối, lớn tiếng bàn luận những vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa; câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần; câu chuyện về binh lính; các câu chuyện về hãi hùng; câu chuyện về chiến tranh; câu chuyện về đồ ăn; câu chuyện về đồ uống; câu chuyện về đồ mặc; câu chuyện về giường nằm; câu chuyện về vòng hoa; câu chuyện về hương liệu; câu chuyện về bà con; câu chuyện về xe cộ; câu chuyện về làng xóm; câu chuyện về thị trấn; câu chuyện về thành phố; câu chuyện về quốc độ; câu chuyện về đàn bà; câu chuyện về đàn ông; câu chuyện về vị anh hùng; câu chuyện bên lề đường; câu chuyện tại chỗ lấy nước; câu chuyện về người đã chết; các câu chuyện tạp thoại; câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương; câu chuyện về sự hiện hữu và sự không hiện hữu.
SC 4PTS cs 4 Du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda thấy Thế Tôn từ xa đến, liền khuyến cáo chúng của mình: “Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng, các Tôn giả hãy đừng làm ồn. Nay Sa-môn Gotama đang đến, Ngài ưa mến sự trầm lặng, vị Ðại đức này tán thán sự trầm lặng. Nếu biết chúng này yên tịnh, Ngài có thể ghé đến đây”. Nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo liền im lặng.
SC 5PTS cs 5 Rồi Thế Tôn đến du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda. Và du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn: “Thiện tai Thế Tôn! Hoan nghênh Thế Tôn! Ðã lâu Thế Tôn không quá bộ đến đây. Mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn sẵn”.
SC 6Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda lấy một ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn nói với du sĩ Poṭṭhapāda đã ngồi một bên: “Này Poṭṭhapāda, vấn đề gì các vị đang ngồi thảo luận? Vấn đề gì đang nói mà bị gián đoạn?”
SC 7PTS cs 6 Khi nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 8—Bạch Thế Tôn, hãy gác một bên câu chuyện chúng tôi đang ngồi bàn luận, bạch Thế Tôn, lát nữa Thế Tôn nghe lại cũng không khó khăn gì. Bạch Thế Tôn, thuở xưa xưa lắm, nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn ngoại đạo tụ họp, ngồi hội thảo trong giảng đường nêu lên vấn đề sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 9“Này Tôn giả, tăng thượng tưởng diệt tận như thế nào?” Một vài vị trả lời: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt! Khi tưởng sanh con người có tưởng, khi tưởng diệt con người không có tưởng”. Như vậy, một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 10Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, tưởng là tự ngã của con người, chính tưởng ấy đến và đi. Khi tưởng ấy đến thì con người có tưởng, khi tưởng ấy đi thì con người không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 11Vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những Sa-môn, Bà-la-môn có đại thần thông và đại oai lực. Chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và cũng kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng.
SC 12Về vấn đề này, người khác lại nói như sau: “Các Tôn giả, sự kiện không phải như vậy. Này Tôn giả, có những vị thiên thần có đại thần thông, có đại oai lực, chính những vị này khiến tưởng nhập vào trong người và kéo tưởng ra ngoài người ấy. Khi các vị này khiến tưởng nhập vào trong người, người ấy có tưởng, khi kéo tưởng ra ngoài, người ấy không có tưởng”. Như vậy một vài vị giải thích sự diệt tận các tăng thượng tưởng. Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ con tưởng niệm đến Thế Tôn: “Mong Thế Tôn có mặt ở đây! Mong Thiện thệ có mặt ở đây! Ngài rất tinh thông những pháp này. Chắc chắn Thế Tôn biết rõ sự diệt tận các tăng thượng tưởng”. Bạch Thế Tôn, sự diệt tận các tăng thượng tưởng như thế nào?
SC 13PTS cs 7 Này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn nào đã nói: “Không nhân, không duyên, các tưởng của con người sinh và diệt”. Những vị này đã sai lạc ngay từ ban đầu. Vì sao vậy? Này Poṭṭhapāda, chính vì có nhân, có duyên, các tưởng của con người sinh và diệt. Chính do sự học tập, một loại tưởng sanh, chính do sự học tập, một loại tưởng diệt.
Và Thế Tôn nói
SC 14—Sự học tập ấy là gì? Này Poṭṭhapāda, nay ở đời Như Lai xuất hiện, là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 40–43 trừ đoạn kết của mỗi đoạn) thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, mạng sống trong sạch, giới hạnh đầy đủ, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc. Này Poṭṭhapāda, thế nào là Tỷ-kheo giới hạnh đầy đủ? Ở đây này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 43–62) … như dùng ảo thuật để yên ổn, để khỏi làm các điều đã hứa … ngăn ngừa công hiệu của thuốc. Còn vị ấy thì tránh xa các tà mạng kể trên … như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật.
SC 15PTS cs 8 Này Poṭṭhapāda, và như vậy Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Này Poṭṭhapāda, như một Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, đã hàng phục kẻ thù địch, không còn thấy sợ hãi từ chỗ nào nữa về phương diện thù địch. Cũng vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo ấy nhờ đầy đủ giới luật nên không thấy sợ hãi từ một chỗ nào về phương diện hộ trì giới luật. Vị ấy nhờ đầy đủ giới luật cao quý này, nên hưởng lạc thọ nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo đầy đủ giới luật.
SC 16PTS cs 9 Này Poṭṭhapāda, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Này Poṭṭhapāda, khi mắt thấy sắc, Tỷ-kheo không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy, nhờ sự hộ trì cao quý các căn ấy, nên hưởng lạc thọ, nội tâm không lỗi lầm. Như vậy, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo hộ trì các căn … (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số 65–74) …
SC 17PTS cs 10 Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân hoan sanh; do hân hoan, nên hỷ sanh; do tâm hoan hỷ, thân được khinh an; do thân khinh an, lạc thọ sanh; do lạc thọ, tâm được định tĩnh. Tỷ-kheo, ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh với tầm, với tứ. Dục tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật do ly dục sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chân thật, do ly dục sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 18PTS cs 11 Lại nữa, này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do ly dục sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh khởi lên, vị ấy có tưởng hỷ lạc vi diệu chơn thật do định sanh. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 19PTS cs 12 “Lại nữa này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là “Xả niệm lạc trú”, chứng và trú thiền thứ ba. Tưởng hỷ lạc chơn thật vi diệu do định sanh xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên và cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 20PTS cs 13 Lại nữa này Poṭṭhapāda, Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ, ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy xả lạc chơn thật vi diệu xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng xả lạc, xả khổ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 21PTS cs 14 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi sắc tưởng, với sự diệt trừ mọi chướng ngại tưởng, với sự không tác ý đối với dị tưởng, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Hư không là vô biên”, chứng và trú Không vô biên xứ. Như vậy sắc tưởng xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do sự học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 22PTS cs 15 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi Không vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Thức là vô biên”, chứng và trú Thức vô biên xứ. Như vậy tưởng Không vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ, và khi tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 23PTS cs 16 Lại nữa này Poṭṭhapāda, với sự vượt thoát mọi Thức vô biên xứ, Tỷ-kheo nghĩ rằng: “Không có vật gì” chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy tưởng Thức vô biên xứ vi diệu chơn thật xưa kia của vị ấy được diệt trừ. Và khi tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật khởi lên, vị ấy có tưởng Vô sở hữu xứ vi diệu chơn thật. Như vậy do học tập, một tưởng khởi lên, cũng do học tập, một tưởng diệt trừ. Và Thế Tôn nói: “Ðó là sự học tập Thế Tôn nói đến”.
SC 24PTS cs 17 Lại nữa này Poṭṭhapāda, khi Tỷ-kheo ở nơi đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này khi đứng tại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng, khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên, ta hãy đừng có suy tưởng”. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác không khởi lên, vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy, này Poṭṭhapāda, là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
SC 25PTS cs 18 Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Trước đây ngươi đã nghe sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng này không?
SC 26- Bạch Thế Tôn, con không có nghe. Bạch Thế Tôn, nhưng nay con hiểu lời nói của Thế Tôn.
SC 27- Này Poṭṭhapāda, khi Tỷ-kheo ở đây tự mình khởi tưởng, vị này tiếp tục đi từ tưởng này đến tưởng khác cho đến tưởng tột đỉnh. Và vị này, khi đứng lại tưởng tột đỉnh có thể nghĩ: “Tâm còn suy tưởng, có hại cho ta, tâm không suy tưởng mới tốt cho ta. Nếu ta cứ tiếp tục suy tưởng khi những tưởng này của ta diệt đi, các thô tưởng khác lại khởi lên. Vậy ta hãy đừng có suy tưởng”. Và vị này không có suy tưởng. Do không có suy tưởng, các tưởng kia diệt tận và các thô tưởng khác cũng không khởi lên. Vị ấy cảm thọ sự diệt tận. Như vậy này Poṭṭhapāda là sự chứng đạt trí tuệ diệt trừ dần dần các tăng thượng tưởng.
SC 28- Như vậy là phải, này Poṭṭhapāda!
SC 29PTS cs 19 - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chỉ nói đến một tưởng tuyệt đỉnh hay nhiều tưởng tuyệt đỉnh?
SC 30- Này Poṭṭhapāda, Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
SC 31- Bạch Thế Tôn, làm sao Thế Tôn nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh?
SC 32- Này Poṭṭhapāda, tùy theo vị ấy cảm thọ sự diệt tận (của một tưởng) sau tưởng khác, vị ấy đạt tới nhiều tuyệt đỉnh sai khác, cái này tiếp theo cái kia cho đến tuyệt đỉnh cuối cùng mà Ta nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh. Này Poṭṭhapāda như vậy Ta nói đến một tưởng tuyệt đỉnh và cũng nói đến nhiều tưởng tuyệt đỉnh.
SC 33PTS cs 20 - Bạch Thế Tôn, tưởng khởi trước, trí khởi sau; hay trí khởi trước tưởng khởi sau; hay tưởng và trí cùng khởi một lần không trước không sau?
SC 34- Này Poṭṭhapāda, tưởng khởi trước trí mới khởi sau, do tưởng sanh, trí mới sanh. Vị ấy tuệ tri: “Do duyên tưởng, trí sanh ra nơi ta”. Này Poṭṭhapāda, với lời dạy này cần phải hiểu tưởng sanh trước trí sanh sau, tưởng sanh trí mới sanh.
SC 35PTS cs 21 - Bạch Thế Tôn, tưởng có phải là tự ngã của con người hay tưởng khác, tự ngã khác?
SC 36- Này Poṭṭhapāda, ngươi hiểu tự ngã như thế nào?
SC 37- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành, và do đoàn thực nuôi dưỡng.
SC 38- Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, như vậy này Poṭṭhapāda, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu, tưởng khác và tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sử tự ngã ấy là thô phù, có sắc, do bốn đại hình thành và do đoàn thực nuôi dưỡng, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 39PTS cs 22 - Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn.
SC 40- Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, như vậy này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sử tự ngã ấy là do ý sở thành, đầy đủ mọi chi tiết lớn nhỏ, đầy đủ các căn, tuy vậy một vài tưởng khác của người ấy khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 41- Bạch Thế Tôn, con hiểu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành.
SC 42PTS cs 23 - Này Poṭṭhapāda, nếu tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, với sự nhận thức này Poṭṭhapāda, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác. Này Poṭṭhapāda, giả sự tự ngã là vô sắc, do tưởng sở thành, tuy vậy, một vài tưởng khác của người khởi lên, một vài tưởng khác diệt xuống. Này Poṭṭhapāda, với sự nhận thức này, cần phải hiểu tưởng khác, tự ngã khác.
SC 43PTS cs 24 - Bạch Thế Tôn, con có thể hiểu được chăng “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”?
SC 44- Này Poṭṭhapāda, thật khó cho ngươi biết được “tưởng là tự ngã của con người” hay “tưởng khác, tự ngã khác”, vì ngươi có dị kiến, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác.
SC 45PTS cs 25 - Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con biết được “tưởng là tự ngã của con người”, hay “tưởng khác, tự ngã khác” vì con có dị kiến khác, có tin tưởng khác, có lý tưởng khác, có thiên tư khác, có hạnh nguyện khác, thời bạch Thế Tôn, thế giới có phải là thường còn không? Chỉ có quan niệm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 46- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là thường còn, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 47- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 48- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô thường, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 49- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới này là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 50- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là hữu biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 51- Bạch Thế Tôn, có phải thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 52- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thế giới là vô biên, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 53PTS cs 26 - Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng và thân thể là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thật, ngoài ra là mê muội không?
SC 54- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Thân thể và sinh mạng là một, chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 55- Bạch Thế Tôn, có phải sinh mạng khác, thân thể khác? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 56- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Sinh mạng khác, thân thể khác. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 57PTS cs 27 - Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại sau khi chết? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 58- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 59- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại sau khi chết không? Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 60- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 61- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 62- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 63- Bạch Thế Tôn, có phải Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội không?
SC 64- Này Poṭṭhapāda, Ta không trả lời: “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết. Chỉ có quan điểm này là đúng sự thực, ngoài ra là mê muội”.
SC 65PTS cs 28 - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời?
SC 66- Này Poṭṭhapāda, câu hỏi này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy, Ta không trả lời.
SC 67PTS cs 29 - Bạch Thế Tôn, vậy Thế Tôn trả lời những gì?
SC 68- Này Poṭṭhapāda, Ta trả lời: “Ðây là khổ”. Ta trả lời: “Ðây là khổ tập”. “Ta trả lời: “Ðây là khổ diệt”. Ta trả lời: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
SC 69PTS cs 30 - Bạch Thế Tôn, vì sao Thế Tôn trả lời?
SC 70- Này Poṭṭhapāda, câu hỏi này thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản của phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy Ta trả lời.
SC 71- Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiên Thệ, như vậy là phải. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Ngài làm gì Ngài xem là phải làm.
SC 72Và Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
SC 73PTS cs 31 Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu, những du sĩ ngoại đạo ấy liền bao vây xung quanh du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Poṭṭhapāda này là như vậy, những gì Sa-môn Gotama nói đều được Poṭṭhapāda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải. Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, “hay Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”.
SC 74Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda nói với các du sĩ ngoại đạo kia
SC 75—Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị tuyên bố một phương pháp như thực, chân chánh, chân thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại không tán thành?
SC 76PTS cs 32 Hai ba ngày sau, Citta Hatthisāriputta và du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda đi đến chỗ Thế Tôn. Khi đi đến nơi, Citta Hatthisāriputta đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên, còn du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda, nói những lời chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 77—Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn rời khỏi chưa bao lâu những du sĩ ngoại đạo liền bao vây xung quanh con và tuôn ra những lời nói mỉa mai gay gắt: “Poṭṭhapāda này là như vậy. Những gì Sa-môn Gotama nói đều được Poṭṭhapāda tán thành: “Bạch Thế Tôn, như vậy là phải, Bạch Thiện Thệ như vậy là phải”. Chúng tôi không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường còn”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hữu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác”, hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Khi được nói vậy, con nói với các du sĩ ngoại đạo kia: “Này các Tôn giả, tôi cũng không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây: “Thế giới là thường con”, hay “Thế giới là vô thường”, hay “Thế giới là hưu biên”, hay “Thế giới là vô biên”, hay “Sinh mạng và thân thể là một”, hay “Sinh mạng khác, thân thể khác” hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai có tồn tại và cũng không tồn tại sau khi chết”, hay “Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết”. Sa-môn Gotama đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn thánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc. Và khi một vị đã tuyên bố một phương pháp như thực, chơn chánh, chơn thật, dùng Pháp làm cơ bản, dùng Pháp làm quy tắc thì làm sao một người hiểu biết như tôi lại có thể không tán thành?”
SC 78PTS cs 33 - Này Poṭṭhapāda, những vị du sĩ ngoại đạo ấy là mù, không có mắt, chỉ có ngươi là người có mắt độc nhất giữa chúng. Này Poṭṭhapāda, có những pháp được Ta truyền thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, có những pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? “Thế giới là thường còn”, Này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là vô thường”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát. “Thế giới là hữu biên”, này Poṭṭhapāda … “Thế giới là vô biên”, này Poṭṭhapāda … “Sinh mạng và thân thể là một”, này Poṭṭhapāda … “Sinh mạng khác, thân thể khác”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai có tồn tại và cũng không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda … “Như Lai không có tồn tại và cũng không không có tồn tại sau khi chết”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát.
SC 79Này Poṭṭhapāda, vì sao những pháp ấy lại được Ta tuyên thuyết trình bày một cách không dứt khoát? Này Poṭṭhapāda, những pháp này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về pháp, không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách không dứt khoát. Này Poṭṭhapāda, những pháp gì được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? “Ðây là khổ”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ tập”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là khổ diệt”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát. “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”, này Poṭṭhapāda, đó là pháp được Ta tuyên thuyết, trình bày một cách dứt khoát.
SC 80Này Poṭṭhapāda, vì sao những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát? Này Poṭṭhapāda, những pháp ấy thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết-bàn. Vì vậy những pháp ấy được Ta tuyên thuyết trình bày một cách dứt khoát.
SC 81PTS cs 34 Này Poṭṭhapāda, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được Ta hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự thân cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không?
SC 82Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên, đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. “Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hành. Này các vị hãy thực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc” không? Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời không. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác hợp lý?
SC 83PTS cs 35 Như có một người nói: “Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này”. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết là người giai cấp nào, là Sát-đế-lỵ, hay Bà-la-môn, hay Phệ-xá, hay Thủ-đà?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, cô gái đẹp Ông yêu và ái luyến ấy, Ông có biết tên gì, lớn người, thấp người hay người bậc trung? Da đen sẫm, da ngăm ngăm đen hay da hồng hào? Ở tại làng nào, hay thành phố nào?” Khi được hỏi vậy, người ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải Ông đã yêu và ái luyến một người Ông không biết, Ông không thấy?” Ðược hỏi vậy vị ấy trả lời phải. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác hợp lý?
SC 84- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 85PTS cs 36 - Như vậy này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”, Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi như vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự nhận cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?”. Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không? Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng khéo thực hạnh! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc! Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Poṭṭhapāda, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn kia là không chánh xác, hợp lý?
SC 86- Vâng phải, bạch Thế Tôn sự kiện là như vậy, theo lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 87PTS cs 37 - Này Poṭṭhapāda, như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu. Có người hỏi: “Này bạn, Ông muốn xây một cái thang để leo lên lầu, vậy Ông có biết lầu ấy là về hướng Ðông, hay về hướng Tây, hay về hướng Bắc, hay về hướng Nam? Nhà lầu ấy cao hay thấp, hay trung bình?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời không biết. Có người hỏi: “Này bạn, như vậy có phải, Ông xây một cái thang để leo lên một cái lầu mà Ông không biết, không thấy?” Ðược hỏi vậy, vị ấy trả lời phải. Này Poṭṭhapāda ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý?
SC 88- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 89PTS cs 38 - Như vậy này Poṭṭhapāda, những Sa-môn, Bà-la-môn có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Ta đến những vị ấy và hỏi: “Có phải quý Ðại đức có chủ trương như thế này, có chủ kiến như thế này: “Sau khi chết, tự ngã hoàn toàn hạnh phúc, vô bệnh”. Khi được hỏi vậy, những vị ấy công nhận là phải. Ta nói: “Chư Ðại đức có sống và đã biết, đã thấy thế giới này là hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có biết một con đường nào, một phương pháp nào có thể đưa đến sự chứng ngộ một thế giới hoàn toàn hạnh phúc không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Vậy chư Ðại đức có tự tâm cảm biết hoàn toàn hạnh phúc trong một đêm hay trong một ngày, hay trong nửa đêm hay trong nửa ngày không?” Khi được hỏi vậy, các vị ấy trả lời là không. Ta nói với các vị ấy: “Chư Ðại đức có nghe tiếng nói của chư thiên đã được sinh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc: ‘Này các vị, hãy cố gắng thực hành! Này các vị, hãy trực chứng một thế giới hoàn toàn hạnh phúc. Này các vị, chúng tôi đã thực hành, đã sanh vào một thế giới hoàn toàn hạnh phúc’ không?” Khi được nói vậy, các vị ấy trả lời là không. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ như thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói của những Sa-môn, Bà-la-môn, kia là không chánh xác, hợp lý.
SC 90- Vâng phải, bạch Thế Tôn! Sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia không chánh đáng, hợp lý.
SC 91PTS cs 39 - Này Poṭṭhapāda, có ba loại ngã chấp: thô phù ngã chấp, ý sở thành ngã chấp, vô sắc ngã chấp. Này Poṭṭhapāda, thế nào là thô phù ngã chấp? Có sắc, do bốn đại hình thành, do đoàn thực nuôi dưỡng là thô phù ngã chấp. Thế nào ý sở thành ngã chấp? Có sắc, do ý sở thành, đầy đủ chi tiết lớn nhỏ, các căn đầy đủ, là ý sở thành ngã chấp. Thế nào là vô sắc ngã chấp? Không có sắc, do tưởng sở thành là vô sắc ngã chấp.
SC 92PTS cs 40 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp để diệt thô phù ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các người nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí, chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.
SC 93PTS cs 41 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ ý sở thành ngã chấp. Nếu các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, khi ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quãng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, khinh an, chánh niệm tỉnh giác là lạc trú sanh.
SC 94PTS cs 42 Này Poṭṭhapāda, Ta thuyết pháp cũng để diệt trừ vô sắc ngã chấp. Nếu các ngươi thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại. Này Poṭṭhapāda, rất có thể các ngươi nghĩ: “Các nhiễm pháp sẽ diệt trừ, các tịnh pháp sẽ tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, tuy vậy đau khổ vẫn tồn tại”. Này Poṭṭhapāda, chớ có nghĩ như vậy. Khi nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại, thời hân hoan sanh, hoan hỷ, chánh niệm, tỉnh giác và lạc trú sanh.
SC 95PTS cs 43 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng, và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”
SC 96Khi được chúng hỏi như vậy, chúng tôi trả lời “Này Hiền giả, chính thô phù ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này, thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 97PTS cs 44 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi: “Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp này được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại tự mình giác ngộ, với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn, quảng đại?”
SC 98Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính ý sở thành ngã chấp ấy chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 99PTS cs 45 Này Poṭṭhapāda, có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?”. Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy, chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 100Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?
SC 101PTS cs 46 Này Poṭṭhapāda, ví như một người xây một cái thang để leo lên lầu, từ dưới chân lầu ấy. Người ấy được hỏi: “Này bạn, Ông xây cái thang để leo lên lầu, cái lầu ấy về hướng Ðông hay hướng Nam, hay hướng Tây, hay hướng Bắc? Nhà lầu ấy cao, hay thấp, hay trung bình? Nếu người ấy trả lời: “Này Hiền giả, cái lầu mà tôi xây thang để leo lên chính tại dưới chân lầu này”. Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói ấy là chính xác, hợp chăng?
SC 102- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!
SC 103PTS cs 47 - Như vậy, này Poṭṭhapāda, và có những người ngoài hỏi chúng tôi: “Này Hiền giả, thô phù ngã chấp là gì? … Này Hiền giả, ý sở thành ngã chấp là gì? … Này Hiền giả, vô sắc ngã chấp ấy là gì mà Hiền giả thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại?” Khi được hỏi vậy, chúng tôi trả lời: “Này Hiền giả, chính vô sắc ngã chấp ấy mà chúng tôi thuyết pháp để diệt trừ, khiến các người thực hành theo pháp này thời nhiễm pháp được diệt trừ, tịnh pháp được tăng trưởng và ngay hiện tại, tự mình giác ngộ với thắng trí chứng đạt và an trú trí tuệ sung mãn quảng đại”.
SC 104- Này Poṭṭhapāda, ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải lời nói ấy là chánh xác, hợp lý?
SC 105- Vâng phải, bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thời lời nói của người kia là chánh xác, hợp lý!
SC 106PTS cs 48 Khi nghe nói vậy, Citta Hatthisāriputta bạch Thế Tôn
SC 107—Bạch Thế Tôn, trong khi có thô phù ngã chấp, phải chăng không có ý sở thành ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Thô phù ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có ý sở thành ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có vô sắc ngã chấp? Ý sở thành ngã chấp khi ấy thật có tồn tại. Bạch Thế Tôn, trong khi có vô sắc ngã chấp, phải chăng không có thô phù ngã chấp, không có ý sở thành ngã chấp? Vô sắc ngã chấp khi ấy thật có tồn tại.
SC 108PTS cs 49 - Này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, nếu có người hỏi ngươi: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại không?” Này Citta, được hỏi vậy, ngươi trả lời như thế nào?
SC 109- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Ngươi đã có tồn tại ở quá khứ hay không? Ngươi sẽ tồn tại ở tương lai hay không? Ngươi có tồn tại ở hiện tại hay không?” Bạch Thế Tôn được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Tôi đã có tồn tại ở quá khứ, không phải không tồn tại; tôi sẽ tồn tại ở tương lai, không phải không tồn tại; tôi tồn tại ở hiện tại, không phải không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi như vậy, con sẽ trả lời như vậy.
SC 110PTS cs 50 - Này Citta, nếu có người hỏi lại ngươi: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Này Citta, được hỏi vậy, Ngươi trả lời thế nào?
SC 111- Bạch Thế Tôn, nếu có người hỏi con: “Quá khứ ngã chấp mà Ngươi đã có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà Ngươi sẽ có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Hiện tại ngã chấp mà Ngươi hiện có, có phải ngã chấp ấy đối với Ngươi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại?” Bạch Thế Tôn, nếu được hỏi vậy, con sẽ trả lời: “Quá khứ ngã chấp mà tôi đã có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp tương lai không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại? Tương lai ngã chấp mà tôi sẽ có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp hiện tại không tồn tại. Hiện tại ngã chấp mà tôi hiện có, ngã chấp ấy đối với tôi là thật có, ngã chấp quá khứ không tồn tại, ngã chấp tương lai không tồn tại”. Bạch Thế Tôn, được hỏi vậy, con sẽ trả lời như vậy.
SC 112PTS cs 51 - Như vậy này Citta, trong khi có thô phù ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc ý sở thành ngã chấp, không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc thô phù ngã chấp. Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp, thời ngã chấp ấy không thuộc vô sắc ngã chấp, chính khi ấy thuộc ý sở thành ngã chấp. Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp, thời ngã chấp không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp.
SC 113PTS cs 52 Này Citta, ví như từ bò cái sanh ra sữa, từ sữa sinh ra lạc, từ lạc sanh ra sanh tô, từ sanh tô sanh ra thục tô, từ thục tô sanh ra đề hồ. Khi thành sữa thời sữa ấy không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, không thuộc đề hồ, chính khi ấy thuộc sữa; khi thành lạc … khi thành sanh tô … khi thành thục tô … khi thành đề hồ thời đề hồ không thuộc sữa, không thuộc lạc, không thuộc sanh tô, không thuộc thục tô, chính khi ấy thuộc đề hồ.
SC 114PTS cs 53 Như vậy này Citta trong khi có thô phù ngã chấp … Này Citta, trong khi có ý sở thành ngã chấp … Này Citta, trong khi có vô sắc ngã chấp thời ngã chấp ấy không thuộc thô phù ngã chấp, không thuộc ý sở thành ngã chấp, chính khi ấy thuộc vô sắc ngã chấp. Này Citta, chúng chỉ là danh tự thế gian, ngôn ngữ thế gian, danh xưng thế gian, ký pháp thế gian. Như Lai dùng chúng nhưng không chấp trước chúng.
SC 115PTS cs 54 Ðược nghe nói vậy du sĩ ngoại đạo Poṭṭhapāda bạch Thế Tôn
SC 116—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
SC 117PTS cs 55 Và Citta Hatthisāriputta cũng bạch Thế Tôn
SC 118—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người đi lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, mong cho con thọ đại giới.
SC 119PTS cs 56 Citta Hatthisāriputta được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao lâu, Ðại đức Citta Hatthisāriputta ở một mình, an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú: sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Ðại đức Citta Hatthisāriputta hiểu biết như vậy.
SC 120Và đại đức Citta Hatthisāriputta trở thành một vị A-la-hán nữa.
1. Poṭṭhapādaparibbājakavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena poṭṭhapādo paribbājako samayappavādake tindukācīre ekasālake mallikāya ārāme paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ tiṁsamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“atippago kho tāva sāvatthiyaṁ piṇḍāya carituṁ.
Yannūnāhaṁ yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo, yena poṭṭhapādo paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho bhagavā yena samayappavādako tindukācīro ekasālako mallikāya ārāmo tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena poṭṭhapādo paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā.
Seyyathidaṁ—rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ;
disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhapesi:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha.
Ayaṁ samaṇo gotamo āgacchati.
Appasaddakāmo kho so āyasmā appasaddassa vaṇṇavādī.
Appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Evaṁ vutte, te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho bhagavā yena poṭṭhapādo paribbājako tenupasaṅkami.
Atha kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“etu kho, bhante, bhagavā.
Svāgataṁ, bhante, bhagavato.
Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi, yadidaṁ idhāgamanāya.
Nisīdatu, bhante, bhagavā, idaṁ āsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Poṭṭhapādopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho poṭṭhapādaṁ paribbājakaṁ bhagavā etadavoca:
“kāya nuttha, poṭṭhapāda, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
1.1. Abhisaññānirodhakathā
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“tiṭṭhatesā, bhante, kathā, yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā.
Nesā, bhante, kathā bhagavato dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya.
Purimāni, bhante, divasāni purimatarāni, nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ kotūhalasālāya sannisinnānaṁ sannipatitānaṁ abhisaññānirodhe kathā udapādi:
‘kathaṁ nu kho, bho, abhisaññānirodho hotī’ti?
Tatrekacce evamāhaṁsu:
‘ahetū appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi.
Yasmiṁ samaye uppajjanti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye nirujjhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tamañño evamāha:
‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati.
Saññā hi, bho, purisassa attā.
Sā ca kho upetipi apetipi.
Yasmiṁ samaye upeti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye apeti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tamañño evamāha:
‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati.
Santi hi, bho, samaṇabrāhmaṇā mahiddhikā mahānubhāvā.
Te imassa purisassa saññaṁ upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi.
Yasmiṁ samaye upakaḍḍhanti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tamañño evamāha:
‘na kho pana metaṁ, bho, evaṁ bhavissati.
Santi hi, bho, devatā mahiddhikā mahānubhāvā.
Tā imassa purisassa saññaṁ upakaḍḍhantipi apakaḍḍhantipi.
Yasmiṁ samaye upakaḍḍhanti, saññī tasmiṁ samaye hoti.
Yasmiṁ samaye apakaḍḍhanti, asaññī tasmiṁ samaye hotī’ti.
Ittheke abhisaññānirodhaṁ paññapenti.
Tassa mayhaṁ, bhante, bhagavantaṁyeva ārabbha sati udapādi:
‘aho nūna bhagavā, aho nūna sugato, yo imesaṁ dhammānaṁ sukusalo’ti.
Bhagavā, bhante, kusalo, bhagavā pakataññū abhisaññānirodhassa.
Kathaṁ nu kho, bhante, abhisaññānirodho hotī”ti?
1.2. Sahetukasaññuppādanirodhakathā
“Tatra, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evamāhaṁsu:
‘ahetū appaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipī’ti, āditova tesaṁ aparaddhaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Sahetū hi, poṭṭhapāda, sappaccayā purisassa saññā uppajjantipi nirujjhantipi.
Sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Kā ca sikkhā”ti? Bhagavā avoca.
“Idha, poṭṭhapāda, tathāgato loke uppajjati arahaṁ, sammāsambuddho …pe…
Evaṁ kho, poṭṭhapāda, bhikkhu sīlasampanno hoti
…pe…
tassime pañcanīvaraṇe pahīne attani samanupassato pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
So vivicceva kāmehi, vivicca akusalehi dhammehi, savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā kāmasaññā, sā nirujjhati.
Vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, vivekajapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayaṁ sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā vivekajapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, samādhijapītisukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti, tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā samādhijapītisukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Upekkhāsukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, upekkhāsukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā upekkhāsukhasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Adukkhamasukhasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, adukkhamasukhasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā rūpasaññā, sā nirujjhati.
Ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā ākāsānañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Puna caparaṁ, poṭṭhapāda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Tassa yā purimā viññāṇañcāyatanasukhumasaccasaññā, sā nirujjhati.
Ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññā tasmiṁ samaye hoti, ākiñcaññāyatanasukhumasaccasaññīyeva tasmiṁ samaye hoti.
Evampi sikkhā ekā saññā uppajjati, sikkhā ekā saññā nirujjhati.
Ayampi sikkhā”ti bhagavā avoca.
“Yato kho, poṭṭhapāda, bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato amutra anupubbena saññaggaṁ phusati.
Tassa saññagge ṭhitassa evaṁ hoti:
‘cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo.
Ahañceva kho pana ceteyyaṁ, abhisaṅkhareyyaṁ, imā ca me saññā nirujjheyyuṁ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṁ;
yannūnāhaṁ na ceva ceteyyaṁ na ca abhisaṅkhareyyan’ti.
So na ceva ceteti, na ca abhisaṅkharoti.
Tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti.
So nirodhaṁ phusati.
Evaṁ kho, poṭṭhapāda, anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hoti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
api nu te ito pubbe evarūpā anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti sutapubbā”ti?
“No hetaṁ, bhante.
Evaṁ kho ahaṁ, bhante, bhagavato bhāsitaṁ ājānāmi:
‘yato kho, poṭṭhapāda, bhikkhu idha sakasaññī hoti, so tato amutra tato amutra anupubbena saññaggaṁ phusati,
tassa saññagge ṭhitassa evaṁ hoti:
“cetayamānassa me pāpiyo, acetayamānassa me seyyo.
Ahañceva kho pana ceteyyaṁ abhisaṅkhareyyaṁ, imā ca me saññā nirujjheyyuṁ, aññā ca oḷārikā saññā uppajjeyyuṁ;
yannūnāhaṁ na ceva ceteyyaṁ, na ca abhisaṅkhareyyan”ti.
So na ceva ceteti, na cābhisaṅkharoti, tassa acetayato anabhisaṅkharoto tā ceva saññā nirujjhanti, aññā ca oḷārikā saññā na uppajjanti.
So nirodhaṁ phusati.
Evaṁ kho, poṭṭhapāda, anupubbābhisaññānirodhasampajānasamāpatti hotī’”ti.
“Evaṁ, poṭṭhapādā”ti.
“Ekaññeva nu kho, bhante, bhagavā saññaggaṁ paññapeti, udāhu puthūpi saññagge paññapetī”ti?
“Ekampi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, saññaggaṁ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemī”ti.
“Yathā kathaṁ pana, bhante, bhagavā ekampi saññaggaṁ paññapeti, puthūpi saññagge paññapetī”ti?
“Yathā yathā kho, poṭṭhapāda, nirodhaṁ phusati tathā tathāhaṁ saññaggaṁ paññapemi.
Evaṁ kho ahaṁ, poṭṭhapāda, ekampi saññaggaṁ paññapemi, puthūpi saññagge paññapemī”ti.
“Saññā nu kho, bhante, paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, udāhu ñāṇaṁ paṭhamaṁ uppajjati, pacchā saññā, udāhu saññā ca ñāṇañca apubbaṁ acarimaṁ uppajjantī”ti?
“Saññā kho, poṭṭhapāda, paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hoti.
So evaṁ pajānāti:
‘idappaccayā kira me ñāṇaṁ udapādī’ti.
Iminā kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ—
yathā saññā paṭhamaṁ uppajjati, pacchā ñāṇaṁ, saññuppādā ca pana ñāṇuppādo hotī”ti.
1.3. Saññāattakathā
“Saññā nu kho, bhante, purisassa attā, udāhu aññā saññā añño attā”ti?
“Kaṁ pana tvaṁ, poṭṭhapāda, attānaṁ paccesī”ti?
“Oḷārikaṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi rūpiṁ cātumahābhūtikaṁ kabaḷīkārāhārabhakkhan”ti.
“Oḷāriko ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho. Evaṁ santaṁ kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, oḷāriko attā rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.
Iminā kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Manomayaṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi sabbaṅgapaccaṅgiṁ ahīnindriyan”ti.
“Manomayo ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, evaṁ santampi kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, manomayo attā sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.
Imināpi kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Arūpiṁ kho ahaṁ, bhante, attānaṁ paccemi saññāmayan”ti.
“Arūpī ca hi te, poṭṭhapāda, attā abhavissa saññāmayo, evaṁ santampi kho te, poṭṭhapāda, aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tadamināpetaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā.
Tiṭṭhateva sāyaṁ, poṭṭhapāda, arūpī attā saññāmayo, atha imassa purisassa aññā ca saññā uppajjanti, aññā ca saññā nirujjhanti.
Imināpi kho etaṁ, poṭṭhapāda, pariyāyena veditabbaṁ yathā aññāva saññā bhavissati añño attā”ti.
“Sakkā panetaṁ, bhante, mayā ñātuṁ:
‘saññā purisassa attā’ti vā ‘aññāva saññā añño attā’ti vā”ti?
“Dujjānaṁ kho etaṁ, poṭṭhapāda, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena:
‘saññā purisassa attā’ti vā, ‘aññāva saññā añño attāti’ vā”ti.
“Sacetaṁ, bhante, mayā dujjānaṁ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena:
‘saññā purisassa attā’ti vā, ‘aññāva saññā añño attā’ti vā;
kiṁ pana, bhante, ‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Abyākataṁ kho etaṁ, poṭṭhapāda, mayā:
‘sassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, ‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Etampi kho, poṭṭhapāda, mayā abyākataṁ:
‘asassato loko, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kiṁ pana, bhante, ‘antavā loko …pe…
‘anantavā loko …
‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁ …
‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīraṁ …
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā …
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti?
“Etampi kho, poṭṭhapāda, mayā abyākataṁ:
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā, idameva saccaṁ moghamaññan’”ti.
“Kasmā panetaṁ, bhante, bhagavatā abyākatan”ti?
“Na hetaṁ, poṭṭhapāda, atthasaṁhitaṁ na dhammasaṁhitaṁ nādibrahmacariyakaṁ, na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati,
tasmā etaṁ mayā abyākatan”ti.
“Kiṁ pana, bhante, bhagavatā byākatan”ti?
“Idaṁ dukkhanti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhasamudayoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhoti kho, poṭṭhapāda, mayā byākataṁ. Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, poṭṭhapāda, mayā byākatan”ti.
“Kasmā panetaṁ, bhante, bhagavatā byākatan”ti?
“Etañhi, poṭṭhapāda, atthasaṁhitaṁ, etaṁ dhammasaṁhitaṁ, etaṁ ādibrahmacariyakaṁ, etaṁ nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati;
tasmā etaṁ mayā byākatan”ti.
“Evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugata.
Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
Atha kho bhagavā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato poṭṭhapādaṁ paribbājakaṁ samantato vācā sannitodakena sañjhabbharimakaṁsu:
“evameva panāyaṁ bhavaṁ poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati, taṁ tadevassa abbhanumodati:
‘evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugatā’ti.
Na kho pana mayaṁ kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāma:
‘sassato loko’ti vā, ‘asassato loko’ti vā, ‘antavā loko’ti vā, ‘anantavā loko’ti vā, ‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti vā, ‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti vā, ‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā, ‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā”ti.
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako te paribbājake etadavoca:
“ahampi kho, bho, na kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāmi:
‘sassato loko’ti vā, ‘asassato loko’ti vā …pe…
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti vā;
api ca samaṇo gotamo bhūtaṁ tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapeti dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ.
Bhūtaṁ kho pana tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapentassa dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ, kathañhi nāma mādiso viññū samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyyā”ti?
2. Cittahatthisāriputtapoṭṭhapādavatthu
Atha kho dvīhatīhassa accayena citto ca hatthisāriputto poṭṭhapādo ca paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā citto hatthisāriputto bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Poṭṭhapādo pana paribbājako bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“tadā maṁ, bhante, te paribbājakā acirapakkantassa bhagavato samantato vācāsannitodakena sañjhabbharimakaṁsu:
‘evameva panāyaṁ bhavaṁ poṭṭhapādo yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati, taṁ tadevassa abbhanumodati:
“evametaṁ, bhagavā, evametaṁ, sugatā”ti.
Na kho pana mayaṁ kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāma:
“sassato loko”ti vā, “asassato loko”ti vā, “antavā loko”ti vā, “anantavā loko”ti vā, “taṁ jīvaṁ taṁ sarīran”ti vā, “aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran”ti vā, “hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā, “neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā’ti.
Evaṁ vuttāhaṁ, bhante, te paribbājake etadavocaṁ:
‘ahampi kho, bho, na kiñci samaṇassa gotamassa ekaṁsikaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānāmi:
“sassato loko”ti vā, “asassato loko”ti vā …pe…
“neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā”ti vā;
api ca samaṇo gotamo bhūtaṁ tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapeti dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ.
Bhūtaṁ kho pana tacchaṁ tathaṁ paṭipadaṁ paññapentassa dhammaṭṭhitataṁ dhammaniyāmataṁ, kathañhi nāma mādiso viññū samaṇassa gotamassa subhāsitaṁ subhāsitato nābbhanumodeyyā’”ti?
“Sabbeva kho ete, poṭṭhapāda, paribbājakā andhā acakkhukā;
tvaṁyeva nesaṁ eko cakkhumā.
Ekaṁsikāpi hi kho, poṭṭhapāda, mayā dhammā desitā paññattā;
anekaṁsikāpi hi kho, poṭṭhapāda, mayā dhammā desitā paññattā.
Katame ca te, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
‘Sassato loko’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto;
‘asassato loko’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto;
‘antavā loko’ti kho, poṭṭhapāda …pe…
‘anantavā loko’ti kho, poṭṭhapāda …
‘taṁ jīvaṁ taṁ sarīran’ti kho, poṭṭhapāda …
‘aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīran’ti kho, poṭṭhapāda …
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda …
na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda …
‘hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda …
‘neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā’ti kho, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Kasmā ca te, poṭṭhapāda, mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
Na hete, poṭṭhapāda, atthasaṁhitā na dhammasaṁhitā na ādibrahmacariyakā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti.
Tasmā te mayā anekaṁsikā dhammā desitā paññattā.
2.1. Ekaṁsikadhammā
Katame ca te, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
Idaṁ dukkhanti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Ayaṁ dukkhasamudayoti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Ayaṁ dukkhanirodhoti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadāti kho, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsiko dhammo desito paññatto.
Kasmā ca te, poṭṭhapāda, mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā?
Ete hi, poṭṭhapāda, atthasaṁhitā, ete dhammasaṁhitā, ete ādibrahmacariyakā ete nibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattanti.
Tasmā te mayā ekaṁsikā dhammā desitā paññattā.
Santi, poṭṭhapāda, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
“ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto jānātha:
“ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā, tāsaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha:
“suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya;
mayampi hi, mārisā, evaṁpaṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso evaṁ vadeyya:
‘ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī, taṁ icchāmi taṁ kāmemī’ti.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ khattiyī vā brāhmaṇī vā vessī vā suddī vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ janapadakalyāṇiṁ icchasi kāmesi, jānāsi taṁ janapadakalyāṇiṁ evaṁnāmā evaṅgottāti vā, dīghā vā rassā vā majjhimā vā kāḷī vā sāmā vā maṅguracchavī vāti, amukasmiṁ gāme vā nigame vā nagare vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, taṁ tvaṁ icchasi kāmesī’ti?
Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
“ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto jānātha:
“ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā, tāsaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha:
“suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya;
mayampi hi, mārisā, evaṁpaṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso cātumahāpathe nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosi, jānāsi taṁ pāsādaṁ puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā’ti?
Iti puṭṭho ‘no’ti vadeyya.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yaṁ tvaṁ na jānāsi na passasi, tassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosī’ti?
Iti puṭṭho ‘āmā’ti vadeyya.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā’ti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
“ekantasukhī attā hoti arogo paraṁ maraṇā”’ti?
Te ce me evaṁ puṭṭhā ‘āmā’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekantasukhaṁ lokaṁ jānaṁ passaṁ viharathā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto ekaṁ vā rattiṁ ekaṁ vā divasaṁ upaḍḍhaṁ vā rattiṁ upaḍḍhaṁ vā divasaṁ ekantasukhiṁ attānaṁ sañjānāthā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto jānātha ayaṁ maggo ayaṁ paṭipadā ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāyā’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘api pana tumhe āyasmanto yā tā devatā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā tāsaṁ devatānaṁ bhāsamānānaṁ saddaṁ suṇātha:
“suppaṭipannāttha, mārisā, ujuppaṭipannāttha, mārisā, ekantasukhassa lokassa sacchikiriyāya;
mayampi hi, mārisā, evaṁ paṭipannā ekantasukhaṁ lokaṁ upapannā”’ti?
Iti puṭṭhā ‘no’ti vadanti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tesaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ appāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
2.2. Tayoattapaṭilābha
“Tayo kho me, poṭṭhapāda, attapaṭilābhā—
oḷāriko attapaṭilābho, manomayo attapaṭilābho, arūpo attapaṭilābho.
Katamo ca, poṭṭhapāda, oḷāriko attapaṭilābho?
Rūpī cātumahābhūtiko kabaḷīkārāhārabhakkho, ayaṁ oḷāriko attapaṭilābho.
Katamo manomayo attapaṭilābho?
Rūpī manomayo sabbaṅgapaccaṅgī ahīnindriyo, ayaṁ manomayo attapaṭilābho.
Katamo arūpo attapaṭilābho?
Arūpī saññāmayo, ayaṁ arūpo attapaṭilābho.
Oḷārikassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi:
‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa:
‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti.
Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
Manomayassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi:
‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa:
‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti.
Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
Arūpassapi kho ahaṁ, poṭṭhapāda, attapaṭilābhassa pahānāya dhammaṁ desemi:
‘yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Siyā kho pana te, poṭṭhapāda, evamassa:
‘saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, dukkho ca kho vihāro’ti.
Na kho panetaṁ, poṭṭhapāda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Saṅkilesikā ceva dhammā pahīyissanti, vodāniyā ca dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissati, pāmujjañceva bhavissati pīti ca passaddhi ca sati ca sampajaññañca sukho ca vihāro.
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti, tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho, yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, manomayo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti?
Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, manomayo attapaṭilābho yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Pare ce, poṭṭhapāda, amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti?
Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, arūpo attapaṭilābho yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Seyyathāpi, poṭṭhapāda, puriso nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya tasseva pāsādassa heṭṭhā.
Tamenaṁ evaṁ vadeyyuṁ:
‘ambho purisa, yassa tvaṁ pāsādassa ārohaṇāya nisseṇiṁ karosi, jānāsi taṁ pāsādaṁ, puratthimāya vā disāya dakkhiṇāya vā disāya pacchimāya vā disāya uttarāya vā disāya ucco vā nīco vā majjhimo vā’ti?
So evaṁ vadeyya:
‘ayaṁ vā so, āvuso, pāsādo, yassāhaṁ ārohaṇāya nisseṇiṁ karomi, tasseva pāsādassa heṭṭhā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda,
nanu evaṁ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante tassa purisassa sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
“Evameva kho, poṭṭhapāda, pare ce amhe evaṁ puccheyyuṁ:
‘katamo pana so, āvuso, oḷāriko attapaṭilābho …pe…
katamo pana so, āvuso, manomayo attapaṭilābho …pe…
katamo pana so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa tumhe pahānāya dhammaṁ desetha, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti?
Tesaṁ mayaṁ evaṁ puṭṭhā evaṁ byākareyyāma:
‘ayaṁ vā so, āvuso, arūpo attapaṭilābho, yassa mayaṁ pahānāya dhammaṁ desema, yathāpaṭipannānaṁ vo saṅkilesikā dhammā pahīyissanti, vodāniyā dhammā abhivaḍḍhissanti, paññāpāripūriṁ vepullattañca diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharissathā’ti.
Taṁ kiṁ maññasi, poṭṭhapāda, nanu evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti?
“Addhā kho, bhante, evaṁ sante sappāṭihīrakataṁ bhāsitaṁ sampajjatī”ti.
Evaṁ vutte, citto hatthisāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“yasmiṁ, bhante, samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti;
oḷāriko vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hoti.
Yasmiṁ, bhante, samaye manomayo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho arūpo attapaṭilābho hoti;
manomayo vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hoti.
Yasmiṁ, bhante, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, moghassa tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, mogho manomayo attapaṭilābho hoti;
arūpo vāssa attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco hotī”ti.
“Yasmiṁ, citta, samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
manomayo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Sace taṁ, citta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘ahosi tvaṁ atītamaddhānaṁ, na tvaṁ nāhosi;
bhavissasi tvaṁ anāgatamaddhānaṁ, na tvaṁ na bhavissasi;
atthi tvaṁ etarahi, na tvaṁ natthī’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, citta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘ahosi tvaṁ atītamaddhānaṁ, na tvaṁ na ahosi;
bhavissasi tvaṁ anāgatamaddhānaṁ, na tvaṁ na bhavissasi;
atthi tvaṁ etarahi, na tvaṁ natthī’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘ahosāhaṁ atītamaddhānaṁ, nāhaṁ na ahosiṁ;
bhavissāmahaṁ anāgatamaddhānaṁ, nāhaṁ na bhavissāmi;
atthāhaṁ etarahi, nāhaṁ natthī’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Sace pana taṁ, citta, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno?
Yo te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno?
Yo te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti.
Evaṁ puṭṭho tvaṁ, citta, kinti byākareyyāsī”ti?
“Sace pana maṁ, bhante, evaṁ puccheyyuṁ:
‘yo te ahosi atīto attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho anāgato, mogho paccuppanno.
Yo te bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho paccuppanno.
Yo te etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova te attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyaṁ:
‘yo me ahosi atīto attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco ahosi, mogho anāgato, mogho paccuppanno.
Yo me bhavissati anāgato attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho tasmiṁ samaye sacco bhavissati, mogho atīto, mogho paccuppanno.
Yo me etarahi paccuppanno attapaṭilābho, sova me attapaṭilābho sacco, mogho atīto, mogho anāgato’ti.
Evaṁ puṭṭho ahaṁ, bhante, evaṁ byākareyyan”ti.
“Evameva kho, citta, yasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na arūpo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati.
Oḷāriko attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti …pe…
yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Seyyathāpi, citta, gavā khīraṁ, khīramhā dadhi, dadhimhā navanītaṁ, navanītamhā sappi, sappimhā sappimaṇḍo.
Yasmiṁ samaye khīraṁ hoti, neva tasmiṁ samaye dadhīti saṅkhaṁ gacchati, na navanītanti saṅkhaṁ gacchati, na sappīti saṅkhaṁ gacchati, na sappimaṇḍoti saṅkhaṁ gacchati;
khīrantveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Yasmiṁ samaye dadhi hoti …pe…
navanītaṁ hoti …
sappi hoti …
sappimaṇḍo hoti, neva tasmiṁ samaye khīranti saṅkhaṁ gacchati, na dadhīti saṅkhaṁ gacchati, na navanītanti saṅkhaṁ gacchati, na sappīti saṅkhaṁ gacchati;
sappimaṇḍotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Evameva kho, citta, yasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābho hoti …pe…
yasmiṁ, citta, samaye manomayo attapaṭilābho hoti …pe…
yasmiṁ, citta, samaye arūpo attapaṭilābho hoti, neva tasmiṁ samaye oḷāriko attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati, na manomayo attapaṭilābhoti saṅkhaṁ gacchati;
arūpo attapaṭilābhotveva tasmiṁ samaye saṅkhaṁ gacchati.
Imā kho, citta, lokasamaññā lokaniruttiyo lokavohārā lokapaññattiyo, yāhi tathāgato voharati aparāmasan”ti.
Evaṁ vutte, poṭṭhapādo paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
2.3. Cittahatthisāriputtaupasampadā
Citto pana hatthisāriputto bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Alattha kho citto hatthisāriputto bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Acirūpasampanno kho panāyasmā citto hatthisāriputto eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto na cirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthAttāyā”ti abbhaññāsi.
Aññataro kho panāyasmā citto hatthisāriputto arahataṁ ahosīti.
Poṭṭhapādasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.