Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời Thế Tôn ở giữa bộ lạc Malla (Mạt-la), tại Anupiya (A-dật-di), một thành của bộ lạc Mallà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Anupiya để khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Thật là quá sớm để vào thành Anupiya khất thực. Ta hãy đến tịnh xá của du sĩ Bhaggava và thăm vị này.” Thế Tôn liền đi đến tịnh xá du sĩ Bhaggava.
SC 3PTS cs 2~2 Rồi du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn
SC 4—Thế Tôn hãy đến gần! Xin chào đón Thế Tôn. Ðã lâu, Thế Tôn mới có dịp đến đây. Mời Thế Tôn ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 5Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và du sĩ Bhaggava lấy một ghế ngồi khác thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, ngày xưa và nhiều ngày xưa nữa, Sunakkhatta (Thiện Tịnh) thuộc bộ lạc Licchavi (Ly-xa tử) đến con và nói như sau: “Này Bhaggava, nay tôi từ bỏ Thế Tôn! Nay tôi không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.” Bạch Thế Tôn, sự việc có phải như Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi nói hay không?
SC 7- Này Bhaggava, sự việc thật như Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đã nói.
SC 8PTS cs 3~3 Này Bhaggava, thuở xưa và rất xa xưa, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đến thăm Ta. Sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay con xin từ bỏ Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nay con không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.”
SC 9Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nó với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:
SC 10“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây sống dưới sự chỉ dẫn của Ta” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 11“- Hay Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 12“- Này Sunakkhatta, Ta không nói: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta”, và Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn”. Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!
SC 13PTS cs 4~4 “- Bạch Thế Tôn, nhưng Thế Tôn không khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.
SC 14“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta! Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 15“- Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn. Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 16“- Này Sunakkhatta, Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta, Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông; Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, và Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?
SC 17“- Bạch Thế Tôn, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.
SC 18“- Này Sunakkhatta, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời các pháp thượng nhân thần thông là gì mà cần phải thực chứng? Này kẻ ngu kia, hãy thấy lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!
SC 19PTS cs 5~5 “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.
SC 20“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của Thế giới” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 21“- Này Sunakkhatta, Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 22“- Này Sunakkhatta, như vậy Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của thế giới.” Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.” Này kẻ ngu kia, sự kiện là như vậy, thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?
SC 23“- Bạch Thế Tôn, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.
SC 24“- Này Sunakkhatta, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích của Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời giải thích về khởi nguyên thế giới có ích lợi gì cho Ngươi? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!
SC 25PTS cs 6~6 “- Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajjī: “Như vậy, Thế Tôn là bậc A la hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajjī.
SC 26“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi nói lời tán thán Pháp tại làng Vajjī: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người có trí mới thâm hiểu.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Chánh pháp tại làng Vajjī.
SC 27“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi đã tán thán Tăng tại làng Vajjī: “Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh chơn, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh trực, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Khuôn phép, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh hạnh, tức là bốn đôi tám chúng. Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng được kính trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay cúi chào, vì là phước điền tối thượng ở đời”. Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Tăng tại làng Vajjī.
SC 28“Này Sunakkhatta, Ta nói cho Ngươi biết; này Sunakkhatta ta tin cho Ngươi biết; sẽ có lời luận bàn về Ngươi như sau: “Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi không thể sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Vì không kham nổi, nên từ bỏ tu học trở về với đời sống thấp kém”. Này Sunakkhatta, sẽ có lời luận bàn về Ngươi như vậy.
SC 29Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rớt vào đọa xứ, địa ngục.
SC 30PTS cs 7~7 Này Bhaggava, một thời Ta ở bộ lạc Bumu, tại thị trấn của bộ lạc Bumu tên là Uttaraka. Này Bhaggava, rồi buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát cùng với Sa di Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi theo sau, vào thị trấn Uttaraka khất thực. Lúc bấy giờ, lõa thể Korakkhattiya, tu theo hạnh chó đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.
SC 31Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.
SC 32Này Bhaggava, Ta biết được tâm tư của Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi với tâm tư của Ta cà Ta nói với ông ta như sau:
SC 33“- Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích Tử không?
SC 34“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói: “Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi tự nhân Ngươi là Thích Tử không”?
SC 35“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi, sau khi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm, liền suy nghĩ: “Thật tốt đẹp thay vị A la hán Sa môn đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm”?
SC 36“- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một bị A la hán?
SC 37“- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán? Chính Ngươi tự sinh ác tà kiến ấy, hãy bỏ nó đi. Chớ để tự mình lâu ngày bị khổ đau thiệt hại. Này Sunakkhatta, lõa thể Korakkhattiya mà Ngươi nghĩ là tốt đẹp, là vị Sa môn, sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, nó sẽ bị quăng trong nghĩa địa đặt trên đống cỏ Bìrana. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy đến hỏi lõa thể Korakkhattiya như sau: “Này bạn Korakkhattiya, bạn có biết bạn thác sanh cảnh giới nào không?” Này Sunakkhatta, sự kiện này có thể xảy ra, lõa thể Korakkhatta ấy có thể trả lời với Ngươi: “Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi sẽ thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất”.
SC 38PTS cs 8~8 Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, đi đến lõa thể Korakkhattiya và nói
SC 39—Này bạn Korakkhattiya, Sa môn Gotama có nói như sau: “Lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta sẽ bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bīraṇa”. Này Bạn Korakkhattiya, vậy Bạn hãy ăn cho có tiết độ, vậy Bạn hãy uống cho có tiết độ, để lời nói của Sa môn Gotama trở thành nói láo.”
SC 40Này Bhaggava, vì không tin tưởng Như Lai, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đếm từng ngày một cho đến bảy ngày. Nhưng này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày bị trúng thực mà chết. Sau khi chết, bị tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bīraṇa.
SC 41PTS cs 9~9 Này Bhaggava, Sunakkhatta được nghe: “Lõa thể Korakkhattiya bị trúng thực chết, quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bìrana.” Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi liền đi đến đống cỏ Bìrana tại nghĩa địa, đến lõa thể Korakkhattiya, lấy tay đánh ba lần và hỏi:
SC 42“- Này bạn Korakkhattiya, Bạn có biết cảnh giới thác sanh của Bạn không?”
SC 43Này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya lấy tay xoa lưng và ngồi dậy:
SC 44“- Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất.” Sau khi nói xong, ông ta ngã ngửa xuống.
SC 45PTS cs 10~10 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 46“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Korakkhattiya, có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?
SC 47“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Korakkhattiya như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác!
SC 48“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện có phải không?
SC 49“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.
SC 50“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!”
SC 51Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 52PTS cs 11~11 Này Bhaggava, một thời, Ta trú tại Vesālī (Tỳ xá ly), rừng Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Kandaramasuka ở tại Vesālī được sự cúng dường tối thượng, được xưng danh tối thượng tại làng Vajjī. Vị này có phát nguyện tuân theo bảy giới hạnh: “Trọn đời, ta theo hạnh lõa thể, không mặc quần áo; trọn đời, ta sống phạm hạnh, không có hành dâm; trọn đời ta tự nuôi sống với rượu và thịt, không phải với cháo cơm; ta không bao giờ đi quá tháp Udāna phía Ðông thành Vesālī; ta không bao giờ đi quá tháp Gotamaka, phía Nam thành Vesālī; ta không bao giờ đi quá tháp Sattamba, phía Tây thành Vesà; ta không bao giờ đi quá tháp Bahuputta, phía Bắc thành Vesālī.” Vị này, nhờ tuân theo bảy giới hạnh này mà được sự cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng tại làng Vajjī.
SC 53PTS cs 12~12 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi; lõa thể Kandaramasuka khi bị hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi, vì không theo dõi, nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi suy nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có gì xảy ra khiến chúng ta có thể bất lợi đau khổ lâu đời.”
SC 54PTS cs 13~13 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 55“- Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?
SC 56“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói với con như vậy: “Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?’
SC 57“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi đã đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi. Lõa thể Kandaramasuka khi được Ngươi hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi; vì không theo dõi nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Rồi ngươi tự nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán, Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có có gì xảy ra khiến chúng có thể bất lợi đau khổ lâu đời!”.
SC 58“- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một vị A la hán?
SC 59“- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán! Chính Ngươi tự sanh ác tà kiến ấy, hãy từ bỏ nó đi. Chớ để mình lâu ngày bị thiệt hại đau khổ! Này Sunakkhatta, lõa thể Kandaramasuka mà Ngươi nghĩ là vị A la hán, là vị Sa môn tốt đẹp, không bao lâu sẽ sống mặc áo và lập gia đình, sẽ ăn cơm cháo, sẽ đi vượt quá các tháp ở Vesālī và sẽ chết mất hết cả danh xưng”.
SC 60Này Bhaggava, lõa thể Kandaramasuka, không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesālī và bị chết mất hết cả danh xưng.
SC 61PTS cs 14~14 Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi được nghe tin lõa thể Kandaramasuka không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesālī và bị chết mất hết danh xưng. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta đi đến chỗ Ta ở, sau khi đến đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, và Ta nói với Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 62“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Kandaramasuka có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?
SC 63“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Kandaramasuka như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác.
SC 64“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, có phải không?
SC 65“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.
SC 66“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy rõ sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!”
SC 67Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 68PTS cs 15~15 Này Bhaggava, một thời Ta trú ở Vesālī, rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Pātikaputta sống ở Vesālī, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajjī. Trong các buổi họp ở Vesālī, ông ta thường tuyên bố như sau:
SC 69“Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông của mình, nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiều pháp thần thông thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”
SC 70PTS cs 16~16 Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đã đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta:
SC 71“- Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta (Ba-lê tử) sống ở Vesālī, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajjī. Trong buổi họp ở Vesālī, thường tuyên bố như sau: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama có thể thực hiện một pháp thượng nhân thần thông … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”
SC 72Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:
SC 73“- Này Sunakkhatta, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ta sẽ bị bể tan.
SC 74PTS cs 17~17 “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói! Thiện Thệ hãy thận trọng lời nói!
SC 75“- Này Sunakkhatta, tại sao Ngươi lại nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói.”?
SC 76“- Bạch Thế Tôn, lời nói này đã được Thế Tôn tuyên bố một cách cực đoan: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu ông ấy sẽ bị bể tan”! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta có thể đến gặp mặt Thế Tôn với một hóa thân khác, và như vậy Thế Tôn trở thành nói không thật!
SC 77PTS cs 18~18 “- Này Sunakkhatta, Như Lai có bao giờ nói lời nói nào có hai nghĩa không?
SC 78“- Bạch Thế Tôn, có phải do tự tâm phán xét mà Thế Tôn đã được biết về Pātikaputta: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Hay là có vị Thiên thần nào đã báo tin cho Như Lai biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan!”
SC 79“- Này Sunakkhatta, chính tự tâm phán xét mà ta đã biết về lõa thể Pātikaputta: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Và cũng có vị Thiên thần đã báo tin cho Ta biết: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn … đầu ông ấy sẽ bị bể tan”. Vị tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita, khi mệnh chung vào ngày kia đã được sanh vào Tam thập tam thiên. Rồi vị ấy đến bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có tàm quý! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta đã nói về con, ở giữa làng Vajjī như sau: “Tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita sẽ thác sanh vào Ðại địa ngục,” Bạch Thế Tôn, con không thác sanh vào Ðại địa ngục, Bạch Thế Tôn, con được sanh vào cõi Tam thập tam thiên! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có tàm quý. Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Này Sunakkhatta, như vậy chính tự tâm phán xét mà Ta biết về lõa thể Pātikaputta. Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Và một vị thiên Thần đã báo tin cho ta biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Thế Tôn mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 80“Này Sunakkhatta, sau khi Ta đi khất thực ở Vesālī, ăn xong và khất thực trở về, Ta sẽ đến tại vườn Pātikaputta để nghỉ trưa. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy tin cho ông ấy biết.”
SC 81PTS cs 19~19 Này Bhaggava, rồi Ta đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, Ta đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi vội vàng vào thành Vesālī, đến những Licchavi có danh tiếng và báo tin cho những vị ấy biết:
SC 82“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa! Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”
SC 83Này Bhaggava, các Licchavi có danh tiếng suy nghĩ như sau: “Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”
SC 84Và chỗ nào có những Bà la môn có địa vị, những gia chủ giàu sang, các Bà la môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng, ông ta đi đến các vị này và báo tin cho biết:
SC 85“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa. Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”
SC 86Này Bhaggava, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng suy nghĩ: “Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”
SC 87Này Bhaggava, rồi các Licchavi có danh tiếng, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cùng đi đến vườn của Pātikaputta. Này Bhaggava, như vậy Hội chúng này lên đến hàng trăm hàng ngàn người.
SC 88PTS cs 20~20 Này Bhaggava, lõa thể Pātikaputta được nghe: “Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến, còn Sa môn Gotama thì ngồi nghỉ trưa tại vườn của ta.” Khi nghe vậy ông ấy hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược. Này Bhaggava, lõa thể Pātikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược, liền đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu.
SC 89Này Bhaggava, Hội chúng ấy được nghe: “Lõa thể Pātikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược đã đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu.” Này Bhaggava, Hội chúng liền cho gọi một người và bảo:
SC 90“- Này bạn hãy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp lõa thể Pātikaputta và nói như sau: “Này bạn Pātikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến. Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, lời nói sau đây được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesālī: “Sa môn là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện hai pháp thượng thần thông, thời ta sẽ thực hiện bốn pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiêu pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần. “Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả!”.
SC 91PTS cs 21~21 Này Bhaggava, người ấy vâng theo lời Hội chúng ấy, đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp lõa thể Pātikaputta, sau khi gặp xong, liền thưa:
SC 92“- Này bạn Pātikaputta, hãy đi đến. Các Licchavi danh tiếng … Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, lời nói sau được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesālī: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí … ta sẽ thực hiện gấp hai lần”. Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường, Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường và ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.”
SC 93Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta trả lời:
SC 94“- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”.
SC 95Nhưng ông ấy như trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Này Bhaggava, người ấy nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 96“- Này Hiền giả Pātikaputta sao lại như vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả?
SC 97“- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến.”
SC 98Tuy nói vậy nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
SC 99Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”; nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
SC 100PTS cs 22~22 Này Bhaggava, khi người ấy biết được lõa thể Pātikaputta này đã bị thảm hại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi, liền đến Hội chúng ấy báo tin:
SC 101“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.”
SC 102Này Bhaggava, khi nghe vậy Ta nói Hội chúng:
SC 103“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
Tụng phẩm II
SC 104PTS cs 1~23 Này Bhaggava, một vị đại thần Licchavi, từ chỗ ngồi đứng dậy, nói với Hội chúng ấy:
SC 105“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi, xem có thể đưa lõa thể Pātikaputta đến Hội chúng này không?”
SC 106Này Bhaggava, rồi vị đại thần Licchavi ấy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp mặt lõa thể Pātikaputta và nói với ông ấy:
SC 107“- Này bạn Pātikaputta hãy đến! Các Licchavi danh tiếng đã đến, và các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến; còn Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesālī: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần”. Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy … ông ấy có thể đến gặp mặt Thế Tôn thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pātikaputta hãy đến! Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”
SC 108PTS cs 2~24 Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, vị đại thần Licchavi liền nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 109“- Này Hiền giả Pātikaputta, sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 110Này Bhaggava, khi được nói vậy, lõa thể Pātikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.
SC 111PTS cs 3~25 Này Bhaggava, khi vị đại thần Licchavi biết được lõa thể Pātikaputta này đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền đến Hội chúng ấy báo tin:
SC 112“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 113Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Hội chúng ấy:
SC 114“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy … thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quí vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây, Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy … ” Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không từ bỏ lời nói ấy … ”, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 115PTS cs 4~26 Này Bhaggava, lúc ấy Jāliya, đệ tử của Dārupatti, từ chỗ ngồi đứng dậy và nói với Hội chúng ấy:
SC 116“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi xem có thể đưa lõa thể Pātikaputta đến Hội chúng này hay không?”
SC 117Này Bhaggava, rồi Jāliya, đệ tử của Dārupatti đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp mặt lõa thể Pātikaputta và nói với ông ấy:
SC 118“- Này bạn Pātikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến … Sa môn Gotama nay đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesālī như sau: “Sa môn Gotama là người có trí … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.” Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pātikaputta nếu không từ bỏ lời nói ấy … Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama … ”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây”, Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pātikaputta hãy đến. Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng, và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”
SC 119PTS cs 5~27 Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 120“- Này Hiền giả Pātikaputta sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 121Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 122Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 123PTS cs 6~28 Này Bhaggava, khi Jāliya, đệ tử của Dārupatti biết được lõa thể Pātikaputta nay đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền nói với ông ấy:
SC 124“- Này Hiền giả Pātikaputta, thuở xưa con sư tử vua các loài thú suy nghĩ: “Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại”.
SC 125“Này Hiền giả, con sư tử ấy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, nó đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại.
SC 126PTS cs 7~29 “Này Hiền giả Pātikaputta, có con chó rừng già kiêu ngạo và mạnh mẽ, thường sống bằng đồ ăn thừa của con sư tử, vua các loài thú. Con chó rừng ấy suy nghĩ: “Ta là ai, và con sư tử, vua các loài thú, là ai? Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại, rồi trở về sào huyệt lại.”
SC 127“Này Hiền giả, con chó rừng kia ý cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và định ba lần rống tiếng rống con sư tử. Nhưng nó chỉ kêu lên tiếng loại chó rừng, tiếng sủa loại chó rừng. Ai có thể so sánh tiếng sủa con chó rừng đê tiện với tiếng rống con sư tử?
SC 128“Cũng vậy, này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 129PTS cs 8~30 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti dầu có dùng ví dụ ấy cũng không thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:
SC 130Chó rừng nhìn tự thân,
Tự nghĩ là sư tử.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?
SC 131“Cũng vậy, này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A lán hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 132PTS cs 10~31 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti, dầu có dùng ví dụ ấy cũng không có thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:
SC 133Ăn cóc, chuột kho thóc,
Ăn xác quăng nghĩa địa,
Sống Ðại lâm, Không lâm,
Tự nghĩ là vua thú.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?
SC 134“Cũng vậy này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 135PTS cs 11~32 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti, dầu có dùng ví dụ ấy, cũng không thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền về Hội chúng ấy và báo tin:
SC 136“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 137PTS cs 12~33 Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với hội chúng ấy:
SC 138“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta tuy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng và dùng bò kéo ông ấy lại đây”. Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể không từ bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta có thể không từ bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 139PTS cs 13~34 Này Bhaggava, rồi Ta giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp. Sau khi giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp, Ta khiến cho họ giải thoát đại kiết sử, cứu vớt tám vạn bốn ngàn chúng sanh thoát khỏi đại đọa xứ, Ta nhập thiền quang giới tam muội, bay lên hư không cao đến bảy cây ta-la, phóng hào quang cao đến hơn bảy cây ta-la, khiến cho cháy sáng, rực sáng và Ta hiện ra tại Trùng Các giảng đường ở Ðại Lâm. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 140“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải điều Ta nói cho Ngươi về lõa thể Pātikaputta, đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác?
SC 141“- Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn nói cho con về lõa thể Pātikaputta đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác.
SC 142“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thì có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện hay không được thực hiện?
SC 143“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, không phải không thực hiện.
SC 144: “Này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi lại nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!”
SC 145Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 146PTS cs 14~35 Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không có chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy; chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi. Này Bhaggava, có những vị Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên (Issara) tạo ra, do Phạm thiên (Brahmā) tạo ra. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 147“- Có phải chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra?”
SC 148Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng!”
Ta nói với quý vị ấy:
SC 149“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo thuyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra”?
SC 150Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 151PTS cs 15~36 “- Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, phần lớn các loài hữu tình chuyển sanh qua Ābhassara (Quang Âm thiên) ở tại đây, những loài hữu tình nào do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một loài hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không để làm bạn với vị hữu tình kia. Các loại hữu tình này ở đây cũng có ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài.
SC 152PTS cs 16~37 “Lúc bấy giờ, này các Hiền giả, vị hữu tình sanh qua đầu tiên nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta hóa sanh. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này! Chính do sở nguyện của ta mà những loại hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cùng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì chúng ta thấy vị này sanh trước ở đây rồi, còn chúng ta thì sanh sau”.
SC 153PTS cs 17~38 “Này các Hiền giả, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy, sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn, và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn, và được ít uy quyền hơn. Này các Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng Tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không biến chuyển, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”! Này các Hiền giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, là do Phạm thiên tạo ra…?”
Các vị ấy nói như sau:
SC 154“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”
SC 155PTS cs 18~39 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi dục lạc. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 156“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc?”
SC 157Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng.”
Ta nói với quý vị ấy:
SC 158“- Sao chư Hiền giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới truyền thống, là do nhiễm hoặc bởi dục lạc?”
SC 159Ðược Ta hỏi như vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 160“- Này các Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể của họ. Sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói: “Những vị Thiên không bị nhiễm hoặc vì dục lạc, họ sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên Chư thiên ấy không thác sanh, không từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến chỗ này”. Này các Tôn giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc có phải không?”
Các vị ấy nói như sau:
SC 161“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.
SC 162PTS cs 19~40 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 163“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”
SC 164Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời
:
“Vâng”.
Ta nói với quý vị ấy:
SC 165“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”
SC 166Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 167“- Chư Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (nhiễm hoặc bởi tâm trí.) Họ sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân họ mệt mỏi, tâm họ mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân này của họ. Các Hiền giả, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia, khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi sanh đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, họ sống lâu ngày không bị nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ không oán ghét nhau. Vì tâm trí họ không oán ghét nhau, nên thân họ không mệt mỏi, tâm họ không mệt mỏi. Hạng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”. Như vậy, này các Hiền giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên của thế giới theo truyền thống là do bị nhiễm hoặc bởi tâm trí.”
Họ trả lời như sau:
SC 168“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên của thế giới … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”
SC 169PTS cs 20~41 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 170“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh?”
SC 171Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng”.
Ta nói với quý vị ấy:
SC 172“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truền thống là do vô nhân sanh?”
SC 173Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 174“- Chư Hiền giả, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình. Chư Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm … nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói: “Bản ngã về thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng: Tôi trước kia không có, nay có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loại hữu tình”. Như vậy, này các Tôn giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh có phải như vậy không?”
Họ trả lời:
SC 175“- Này Hiền giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy. Chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.
SC 176PTS cs 21~42 Này Bhaggava, Ta tuyên bố như vậy, Ta quan niệm như vậy. Nhưng một số Sa môn, Bà la môn lại bài xích Ta một cách không thật, trống không, hư ngụy, giả dối: “Sa môn Gotama và các vị Tỷ kheo là điên đảo. Sa môn Gotama đã tuyên bố: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh”. Nhưng này Bhaggava, Ta không có nói như vậy: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh.” Này Bhaggava, Ta nói như sau: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là thanh tịnh”
SC 177- Bạch Thế Tôn, chính họ là điên đảo khi họ chỉ trích Thế Tôn và các Tỷ kheo là điên đảo. Con tin tưởng hoan hỷ đối với Thế Tôn khiến con tin rằng Thế Tôn có thể dạy cho con đến thanh tịnh giải thoát.
SC 178- Này Bhaggava, thật khó cho Ngươi khi Ngươi theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác để có thể đạt được thanh tịnh, giải thoát. Này Bhaggava, hãy đặt nặng lòng tin ở nơi Ta, hãy khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.
SC 179- Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con, khi con theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác, để có thể đạt được thanh tịnh giải thoát, thời Bạch Thế Tôn, ít nhất con cũng đặt nặng lòng tin vào Thế Tôn, và con sẽ khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.
SC 180Thế Tôn thuyết giảng như vậy, du sĩ Bhaggava hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn.
1. Sunakkhattavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā mallesu viharati anupiyaṁ nāma mallānaṁ nigamo.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya anupiyaṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“atippago kho tāva anupiyāyaṁ piṇḍāya carituṁ.
Yannūnāhaṁ yena bhaggavagottassa paribbājakassa ārāmo, yena bhaggavagotto paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho bhagavā yena bhaggavagottassa paribbājakassa ārāmo, yena bhaggavagotto paribbājako tenupasaṅkami.
Atha kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“etu kho, bhante, bhagavā.
Svāgataṁ, bhante, bhagavato.
Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya.
Nisīdatu, bhante, bhagavā, idamāsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Bhaggavagottopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“purimāni, bhante, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca:
‘paccakkhāto dāni mayā, bhaggava, bhagavā.
Na dānāhaṁ bhagavantaṁ uddissa viharāmī’ti.
Kaccetaṁ, bhante, tatheva, yathā sunakkhatto licchaviputto avacā”ti?
“Tatheva kho etaṁ, bhaggava, yathā sunakkhatto licchaviputto avaca.
Purimāni, bhaggava, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṁ etadavoca:
‘paccakkhāmi dānāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ.
Na dānāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmī’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ,
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhīti.
Napi kira maṁ tvaṁ vadesi—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmīti.
Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi?
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
‘Na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotī’ti.
‘Api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissatī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissāmīti;
napi kira maṁ tvaṁ vadesi—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissatīti.
Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi?
Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
kate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya mayā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti?
‘Kate vā, bhante, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya bhagavatā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti.
‘Iti kira, sunakkhatta, kate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye, akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya.
Tatra, sunakkhatta, kiṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kataṁ karissati?
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
‘Na hi pana me, bhante, bhagavā aggaññaṁ paññapetī’ti?
‘Api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te aggaññaṁ paññapessāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me aggaññaṁ paññapessatī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te aggaññaṁ paññapessāmīti.
Napi kira maṁ tvaṁ vadesi—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me aggaññaṁ paññapessatīti.
Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi?
Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti?
‘Paññatte vā, bhante, aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya bhagavatā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti.
‘Iti kira, sunakkhatta, paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya.
Tatra, sunakkhatta, kiṁ aggaññaṁ paññattaṁ karissati?
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhaṁ.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme—
itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme—
svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme—
suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
Ārocayāmi kho te, sunakkhatta, paṭivedayāmi kho te, sunakkhatta.
Bhavissanti kho te, sunakkhatta, vattāro, no visahi sunakkhatto licchaviputto samaṇe gotame brahmacariyaṁ carituṁ, so avisahanto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattoti.
Iti kho te, sunakkhatta, bhavissanti vattāro’ti.
Evaṁ kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
2. Korakkhattiyavatthu
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ thūlūsu viharāmi uttarakā nāma thūlūnaṁ nigamo.
Atha khvāhaṁ, bhaggava, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sunakkhattena licchaviputtena pacchāsamaṇena uttarakaṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Tena kho pana samayena acelo korakkhattiyo kukkuravatiko catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjati.
Addasā kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto acelaṁ korakkhattiyaṁ kukkuravatikaṁ catukkuṇḍikaṁ chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādantaṁ mukheneva bhuñjantaṁ.
Disvānassa etadahosi:
‘sādhurūpo vata bho ayaṁ samaṇo catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjatī’ti.
Atha khvāhaṁ, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa cetasā cetoparivitakkamaññāya sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti.
‘Kiṁ pana maṁ, bhante, bhagavā evamāha:
“tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī”’ti?
‘Nanu te, sunakkhatta, imaṁ acelaṁ korakkhattiyaṁ kukkuravatikaṁ catukkuṇḍikaṁ chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādantaṁ mukheneva bhuñjantaṁ disvāna etadahosi—
sādhurūpo vata bho ayaṁ samaṇo catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjatī’ti?
‘Evaṁ, bhante.
Kiṁ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti?
‘Na kho ahaṁ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi.
Api ca tuyhevetaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ, taṁ pajaha.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Yaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, maññasi acelaṁ korakkhattiyaṁ—sādhurūpo ayaṁ samaṇoti. So sattamaṁ divasaṁ alasakena kālaṁ karissati.
Kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati.
Kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍessanti.
Ākaṅkhamāno ca tvaṁ, sunakkhatta, acelaṁ korakkhattiyaṁ upasaṅkamitvā puccheyyāsi—
jānāsi, āvuso korakkhattiya, attano gatinti?
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ te acelo korakkhattiyo byākarissati—
jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṁ;
kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapanno’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ korakkhattiyaṁ etadavoca:
‘byākato khosi, āvuso korakkhattiya, samaṇena gotamena—
acelo korakkhattiyo sattamaṁ divasaṁ alasakena kālaṁ karissati.
Kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati.
Kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍessantīti.
Yena tvaṁ, āvuso korakkhattiya, mattaṁ mattañca bhattaṁ bhuñjeyyāsi, mattaṁ mattañca pānīyaṁ piveyyāsi.
Yathā samaṇassa gotamassa micchā assa vacanan’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto ekadvīhikāya sattarattindivāni gaṇesi, yathā taṁ tathāgatassa asaddahamāno.
Atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo sattamaṁ divasaṁ alasakena kālamakāsi.
kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajji.
kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍesuṁ.
Assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto:
‘acelo kira korakkhattiyo alasakena kālaṅkato bīraṇatthambake susāne chaḍḍito’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena bīraṇatthambakaṁ susānaṁ, yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ korakkhattiyaṁ tikkhattuṁ pāṇinā ākoṭesi:
‘jānāsi, āvuso korakkhattiya, attano gatin’ti?
Atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo pāṇinā piṭṭhiṁ paripuñchanto vuṭṭhāsi.
‘Jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṁ.
Kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapanno’ti vatvā tattheva uttāno papati.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yatheva te ahaṁ acelaṁ korakkhattiyaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ, aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ korakkhattiyaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi—
na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotīti.
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
3. Acelakaḷāramaṭṭakavatthu
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ vesāliyaṁ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena acelo kaḷāramaṭṭako vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
Tassa sattavatapadāni samattāni samādinnāni honti:
‘yāvajīvaṁ acelako assaṁ, na vatthaṁ paridaheyyaṁ, yāvajīvaṁ brahmacārī assaṁ, na methunaṁ dhammaṁ paṭiseveyyaṁ, yāvajīvaṁ surāmaṁseneva yāpeyyaṁ, na odanakummāsaṁ bhuñjeyyaṁ.
Puratthimena vesāliṁ udenaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, dakkhiṇena vesāliṁ gotamakaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, pacchimena vesāliṁ sattambaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, uttarena vesāliṁ bahuputtaṁ nāma cetiyaṁ taṁ nātikkameyyan’ti.
So imesaṁ sattannaṁ vatapadānaṁ samādānahetu lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo kaḷāramaṭṭako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ pañhaṁ apucchi.
Tassa acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṁ puṭṭho na sampāyāsi.
Asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi.
Atha kho, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa etadahosi:
‘sādhurūpaṁ vata bho arahantaṁ samaṇaṁ āsādimhase.
Mā vata no ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti.
‘Kiṁ pana maṁ, bhante, bhagavā evamāha—
tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti?
‘Nanu tvaṁ, sunakkhatta, acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ upasaṅkamitvā pañhaṁ apucchi.
Tassa te acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṁ puṭṭho na sampāyāsi.
Asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi.
Tassa te etadahosi:
“sādhurūpaṁ vata bho arahantaṁ samaṇaṁ āsādimhase.
Mā vata no ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”’ti.
‘Evaṁ, bhante.
Kiṁ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti?
‘Na kho ahaṁ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi,
api ca tuyhevetaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ, taṁ pajaha.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Yaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, maññasi acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ—
sādhurūpo ayaṁ samaṇoti, so nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālaṁ karissatī’ti.
Atha kho, bhaggava, acelo kaḷāramaṭṭako nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālamakāsi.
Assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto:
‘acelo kira kaḷāramaṭṭako parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālaṅkato’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yatheva te ahaṁ acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ, aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi:
“na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotī”ti.
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
4. Acelapāthikaputtavatthu
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ tattheva vesāliyaṁ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena acelo pāthikaputto vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ.
Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ.
Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma.
Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi.
Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi.
Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi.
Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṁ etadavoca:
‘acelo, bhante, pāthikaputto vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
“samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ.
Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ.
Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma.
Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi.
Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi.
Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi.
Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī”’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, sunakkhatta, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
‘Rakkhatetaṁ, bhante, bhagavā vācaṁ, rakkhatetaṁ sugato vācan’ti.
‘Kiṁ pana maṁ tvaṁ, sunakkhatta, evaṁ vadesi—
rakkhatetaṁ, bhante, bhagavā vācaṁ, rakkhatetaṁ sugato vācan’ti?
‘Bhagavatā cassa, bhante, esā vācā ekaṁsena odhāritā—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Acelo ca, bhante, pāthikaputto virūparūpena bhagavato sammukhībhāvaṁ āgaccheyya, tadassa bhagavato musā’ti.
‘Api nu, sunakkhatta, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā dvayagāminī’ti?
‘Kiṁ pana, bhante, bhagavatā acelo pāthikaputto cetasā ceto paricca vidito—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti?
Udāhu, devatā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ—
abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti?
‘Cetasā ceto paricca vidito ceva me, sunakkhatta, acelo pāthikaputto—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ—
abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Ajitopi nāma licchavīnaṁ senāpati adhunā kālaṅkato tāvatiṁsakāyaṁ upapanno.
Sopi maṁ upasaṅkamitvā evamārocesi—
alajjī, bhante, acelo pāthikaputto;
musāvādī, bhante, acelo pāthikaputto.
Mampi, bhante, acelo pāthikaputto byākāsi vajjigāme—
ajito licchavīnaṁ senāpati mahānirayaṁ upapannoti.
Na kho panāhaṁ, bhante, mahānirayaṁ upapanno;
tāvatiṁsakāyamhi upapanno.
Alajjī, bhante, acelo pāthikaputto;
musāvādī, bhante, acelo pāthikaputto;
abhabbo ca, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Iti kho, sunakkhatta, cetasā ceto paricca vidito ceva me acelo pāthikaputto abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ—
abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
So kho panāhaṁ, sunakkhatta, vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamissāmi divāvihārāya.
Yassadāni tvaṁ, sunakkhatta, icchasi, tassa ārocehī’ti.
5. Iddhipāṭihāriyakathā
Atha khvāhaṁ, bhaggava, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṁ divāvihārāya.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto taramānarūpo vesāliṁ pavisitvā yena abhiññātā abhiññātā licchavī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte licchavī etadavoca:
‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya.
Abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṁ samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissatī’ti.
Atha kho, bhaggava, abhiññātānaṁ abhiññātānaṁ licchavīnaṁ etadahosi:
‘sādhurūpānaṁ kira, bho, samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissati;
handa vata, bho, gacchāmā’ti.
Yena ca abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte nānātitthiye samaṇabrāhmaṇe etadavoca:
‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya.
Abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṁ samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissatī’ti.
Atha kho, bhaggava, abhiññātānaṁ abhiññātānaṁ nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ etadahosi:
‘sādhurūpānaṁ kira, bho, samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissati;
handa vata, bho, gacchāmā’ti.
Atha kho, bhaggava, abhiññātā abhiññātā licchavī, abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṁsu.
Sā esā, bhaggava, parisā mahā hoti anekasatā anekasahassā.
Assosi kho, bhaggava, acelo pāthikaputto:
‘abhikkantā kira abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā.
Samaṇopi gotamo mayhaṁ ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti.
Sutvānassa bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁso udapādi.
Atha kho, bhaggava, acelo pāthikaputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkami.
Assosi kho, bhaggava, sā parisā:
‘acelo kira pāthikaputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkanto’ti.
Atha kho, bhaggava, sā parisā aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
‘Ehi tvaṁ, bho purisa, yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkama. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ evaṁ vadehi:
“abhikkamāvuso, pāthikaputta, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā, samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno;
bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā
samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ.
Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ.
Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma.
Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi.
Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi.
Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi.
Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī”ti
abhikkamasseva kho āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti.
Evaṁ, bhoti kho, bhaggava, so puriso tassā parisāya paṭissutvā yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā.
Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—
samaṇopi gotamo ñāṇavādo; ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ …pe…
taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti.
Abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti.
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Atha kho so, bhaggava, puriso acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ?
Āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Yadā kho so, bhaggava, puriso aññāsi:
‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto.
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi:
‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto.
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Atha kho, bhaggava, aññataro licchavimahāmatto uṭṭhāyāsanā taṁ parisaṁ etadavoca:
‘tena hi, bho, muhuttaṁ tāva āgametha, yāvāhaṁ gacchāmi.
Appeva nāma ahampi sakkuṇeyyaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ imaṁ parisaṁ ānetun’ti.
Atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṁ te seyyo, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—
samaṇopi gotamo ñāṇavādo …pe…
taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti.
Abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā—
abhabbo kho acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkamaneneva te jayaṁ karissāma, samaṇassa gotamassa parājayan’ti.
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ?
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Yadā kho so, bhaggava, licchavimahāmatto aññāsi:
‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi:
‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya.
Sace pāyasmantānaṁ licchavīnaṁ evamassa—
mayaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ varattāhi bandhitvā goyugehi āviñcheyyāmāti, tā varattā chijjeyyuṁ pāthikaputto vā.
Abhabbo pana acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī uṭṭhāyāsanā taṁ parisaṁ etadavoca:
‘tena hi, bho, muhuttaṁ tāva āgametha, yāvāhaṁ gacchāmi;
appeva nāma ahampi sakkuṇeyyaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ imaṁ parisaṁ ānetun’ti.
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṁ te seyyo. Abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—
samaṇopi gotamo ñāṇavādo …pe…
taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti.
Abhikkamasseva, kho āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya.
Sace pāyasmantānaṁ licchavīnaṁ evamassa—
mayaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ varattāhi bandhitvā goyugehi āviñcheyyāmāti. Tā varattā chijjeyyuṁ pāthikaputto vā.
Abhabbo pana acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ āgaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkamaneneva te jayaṁ karissāma, samaṇassa gotamassa parājayan’ti.
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ?
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātunti.
Yadā kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī aññāsi:
‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti, atha naṁ etadavoca—
Bhūtapubbaṁ, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño etadahosi:
‘yannūnāhaṁ aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappeyyaṁ.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhameyyaṁ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṁ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṁ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadeyyaṁ, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkameyyaṁ.
So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupeyyan’ti.
Atha kho, āvuso, so sīho migarājā aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappesi.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadi, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkāmi.
So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupesi.
Tasseva kho, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño vighāsasaṁvaḍḍho jarasiṅgālo ditto ceva balavā ca.
Atha kho, āvuso, tassa jarasiṅgālassa etadahosi:
‘ko cāhaṁ, ko sīho migarājā.
Yannūnāhampi aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappeyyaṁ.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhameyyaṁ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṁ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṁ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadeyyaṁ, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkameyyaṁ.
So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupeyyan’ti.
Atha kho so, āvuso, jarasiṅgālo aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappesi.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadissāmīti siṅgālakaṁyeva anadi bheraṇḍakaṁyeva anadi, ke ca chave siṅgāle, ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanāti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī iminā opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha naṁ etadavoca:
‘Sīhoti attānaṁ samekkhiyāna,
Amaññi kotthu migarājāhamasmi;
Tatheva so siṅgālakaṁ anadi,
Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha naṁ etadavoca:
‘Aññaṁ anucaṅkamanaṁ,
Attānaṁ vighāse samekkhiya;
Yāva attānaṁ na passati,
Kotthu tāva byagghoti maññati.
Tatheva so siṅgālakaṁ anadi,
Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha naṁ etadavoca:
‘Bhutvāna bheke khalamūsikāyo,
Kaṭasīsu khittāni ca koṇapāni;
Mahāvane suññavane vivaḍḍho,
Amaññi kotthu migarājāhamasmi;
Tatheva so siṅgālakaṁ anadi,
Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi:
‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto āyāmi āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya.
Sacepāyasmantānaṁ licchavīnaṁ evamassa—
mayaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ varattāhi bandhitvā nāgehi āviñcheyyāmāti. Tā varattā chijjeyyuṁ pāthikaputto vā.
Abhabbo pana acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
Atha khvāhaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ dhammiyā kathāya sandassesiṁ samādapesiṁ samuttejesiṁ sampahaṁsesiṁ, taṁ parisaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā mahābandhanā mokkhaṁ karitvā caturāsītipāṇasahassāni mahāviduggā uddharitvā tejodhātuṁ samāpajjitvā sattatālaṁ vehāsaṁ abbhuggantvā aññaṁ sattatālampi acciṁ abhinimminitvā pajjalitvā dhūmāyitvā mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ paccuṭṭhāsiṁ.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yatheva te ahaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ pāthikaputtaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi—
na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotīti.
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
6. Aggaññapaññattikathā
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi.
Tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā, yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā, ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti.
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Hoti kho so, āvuso, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko saṁvaṭṭati.
Saṁvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā honti.
Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Hoti kho so, āvuso, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko vivaṭṭati.
Vivaṭṭamāne loke suññaṁ brahmavimānaṁ pātubhavati.
Atha kho aññataro satto āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjati.
So tattha hoti manomayo pītibhakkho sayampabho antalikkhacaro subhaṭṭhāyī, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhati.
Tassa tattha ekakassa dīgharattaṁ nivusitattā anabhirati paritassanā uppajjati—
aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyunti.
Atha aññepi sattā āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjanti tassa sattassa sahabyataṁ.
Tepi tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṁ upapanno, tassa evaṁ hoti—
ahamasmi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ, mayā ime sattā nimmitā.
Taṁ kissa hetu?
Mamañhi pubbe etadahosi—
aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyunti;
iti mama ca manopaṇidhi. Ime ca sattā itthattaṁ āgatāti.
Yepi te sattā pacchā upapannā, tesampi evaṁ hoti—
ayaṁ kho bhavaṁ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ;
iminā mayaṁ bhotā brahmunā nimmitā.
Taṁ kissa hetu?
Imañhi mayaṁ addasāma idha paṭhamaṁ upapannaṁ; mayaṁ panāmha pacchā upapannāti.
Tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṁ upapanno, so dīghāyukataro ca hoti vaṇṇavantataro ca mahesakkhataro ca.
Ye pana te sattā pacchā upapannā, te appāyukatarā ca honti dubbaṇṇatarā ca appesakkhatarā ca.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati.
Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati; tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
“yo kho so bhavaṁ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ, yena mayaṁ bhotā brahmunā nimmitā. So nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṁ tatheva ṭhassati.
Ye pana mayaṁ ahumhā tena bhotā brahmunā nimmitā, te mayaṁ aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā”ti.
Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti.
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi.
Tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā. Yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti,
tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Santāvuso, khiḍḍāpadosikā nāma devā. Te ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. Tesaṁ ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati sammussati, satiyā sammosā te devā tamhā kāyā cavanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati,
itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati,
agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati; tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
“ye kho te bhonto devā na khiḍḍāpadosikā te na ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. Tesaṁ nātivelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati na sammussati, satiyā asammosā te devā tamhā kāyā na cavanti,
niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassanti.
Ye pana mayaṁ ahumhā khiḍḍāpadosikā te mayaṁ ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharimhā, tesaṁ no ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati sammussati, satiyā sammosā evaṁ mayaṁ tamhā kāyā cutā,
aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā”ti.
Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti.
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi …pe…
yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti.
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Santāvuso, manopadosikā nāma devā. Te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyanti. Te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsenti. Te aññamaññaṁ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Te devā tamhā kāyā cavanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati.
Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
“ye kho te bhonto devā na manopadosikā te nātivelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyanti. Te nātivelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni nappadūsenti. Te aññamaññaṁ appaduṭṭhacittā akilantakāyā akilantacittā. Te devā tamhā kāyā na cavanti,
niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassanti.
Ye pana mayaṁ ahumhā manopadosikā, te mayaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyimhā. Te mayaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsimhā. Te mayaṁ aññamaññaṁ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Evaṁ mayaṁ tamhā kāyā cutā,
aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā”ti.
Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti.
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi …pe…
yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti.
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Santāvuso, asaññasattā nāma devā.
Saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati.
Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ saññuppādaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati’.
So evamāha:
‘adhiccasamuppanno attā ca loko ca.
Taṁ kissa hetu?
Ahañhi pubbe nāhosiṁ, somhi etarahi ahutvā santatāya pariṇato’ti.
‘Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā.
Yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhaggava, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘viparīto samaṇo gotamo bhikkhavo ca.
Samaṇo gotamo evamāha—
yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, sabbaṁ tasmiṁ samaye asubhantveva pajānātī’ti.
Na kho panāhaṁ, bhaggava, evaṁ vadāmi:
‘yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, sabbaṁ tasmiṁ samaye asubhantveva pajānātī’ti.
Evañca khvāhaṁ, bhaggava, vadāmi:
‘yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, subhantveva tasmiṁ samaye pajānātī’”ti.
“Te ca, bhante, viparītā, ye bhagavantaṁ viparītato dahanti bhikkhavo ca.
Evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati. Pahoti me bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ, yathā ahaṁ subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja vihareyyan”ti.
“Dukkaraṁ kho etaṁ, bhaggava, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharituṁ.
Iṅgha tvaṁ, bhaggava, yo ca te ayaṁ mayi pasādo, tameva tvaṁ sādhukamanurakkhā”ti.
“Sace taṁ, bhante, mayā dukkaraṁ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharituṁ.
Yo ca me ayaṁ, bhante, bhagavati pasādo, tamevāhaṁ sādhukamanurakkhissāmī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano bhaggavagotto paribbājako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Pāthikasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Thus have I heard. The Exalted One was once staying among the Mallas, at Anupiya, one of their towns.
Now the Exalted One, having robed himself in the early morning, put on his cloak and took his bowl, and entered the town for alms.
And he thought: “It is too early for me now to go through Anupiya for alms.
I might go to the pleasaunce where Bhaggava the Wanderer dwells, and call upon Bhaggava.”
So the Exalted One went to the pleasaunce and to the place where Bhaggava the Wanderer was.
Then Bhaggava spake thus to the Exalted One: “Let my Lord the Exalted One come near.
Welcome to the Exalted One!
It is long since the Exalted One has taken the opportunity to come our way.
May it please you, Sir, to be seated; here is a seat made ready.”
The Exalted One sat down thereon, and Bhaggava, taking a certain low stool, sat down beside him.
So seated, Bhaggava the Wanderer spake thus to the Exalted One: “Some days ago, Lord, a good many days ago, Sunakkhatta of the Licchavis called on me and spake thus: ‘I have now given up the Exalted One, Bhaggava.
I am remaining no longer under him (as my teacher).’
Is the fact really so, just as he said?”
“It is just so, Bhaggava, as Sunakkhatta of the Licchavis said.
Some days ago, Bhaggava, a good many days ago, Sunakkhatta, the Licchavi, came to call on me, and spake thus: ‘Sir, I now give up the Exalted One.
I will henceforth remain no longer under him (as my teacher).’
When he told me this, I said to him: ‘But now, Sunakkhatta, have I ever said to you: “Come, Sunakkhatta, live under me (as my pupil)?”’
‘No, Sir, you have not.’
‘Or have you ever said to me: “Sir, I would fain dwell under the Exalted One (as my teacher)?”’
‘No, Sir, I have not.’
‘But if I said not the one, and you said not the other, what are you and what am I that you talk of giving up?
See, foolish one, in how far the fault here is your own.’
‘Well, but Sir, the Exalted One works me no mystic wonders surpassing the power of ordinary men.’
‘Why, now, Sunakkhatta, have I ever said to you: “Come, take me as your teacher, Sunakkhatta, and I will work for you mystic wonders surpassing the power of ordinary men?”’
‘You have not, Sir.’
‘Or have you ever said to me: “Sir, I would fain take the Exalted One as my teacher, for he will work for me mystic wonders beyond the powers of ordinary men”?’
‘I have not, Sir.’
‘But if I said not the one, and you said not the other, what are you and what am I, foolish man, that you talk of giving up?
What think you, Sunakkhatta?
Whether mystic wonders beyond the power of ordinary man are wrought, or whether they are not, is the object for which I teach the Norm this: that it leads to the thorough destruction of ill for the doer thereof?’
‘Whether, Sir, they are so wrought or not, that is indeed the object for which the Norm is taught by the Exalted One.’
‘If then, Sunakkhatta, it matters not to that object whether mystic wonders are wrought or not, of what use to you would be the working of them?
See, foolish one, in how far the fault here is your own.’
‘But, Sir, the Exalted One does not reveal to me the beginning of things.’
‘Why now, Sunakkhatta, have I ever said to you: “Come, Sunakkhatta, be my disciple and I will reveal to you the beginning of things?”’
‘Sir, you have not.’
‘Or have you ever said to me: “I will become the Exalted One’s pupil, for he will reveal to me the beginning of things”?’
‘Sir, I have not.’
‘But if I have not said the one and you have not said the other, what are you and what am I, foolish man, that you talk of giving up on that account?
What think you, Sunakkhatta?
Whether the beginning of things be revealed, or whether it be not, is the object for which I teach the Norm this: that it leads to the thorough destruction of ill for the doer thereof?’
‘Whether, Sir, they are revealed or not, that is indeed the object for which the Norm is taught by the Exalted One.’
‘If then, Sunakkhatta, it matters not to that object whether the beginning of things be revealed, or whether it be not, of what use to you would it be to have the beginning of things revealed?
See, foolish one, in how far the fault here is your own.
In many ways have you, Sunakkhatta, spoken my praises among the Vajjians, saying:
“Thus is the Exalted One; he is an Arahant fully awakened; wisdom he has and righteousness; he is the Well-Farer; he has knowledge of the worlds; he is the supreme driver of men willing to be tamed; the teacher of devas and men; the Awakened and Exalted One.”
In such wise have you been wont, among the Vajjians, to utter praise of me.
In many ways have you, Sunakkhatta, spoken the praises of the Dhamma among the Vajjians: “Well proclaimed by the Exalted One is the Dhamma as bearing on this present life, not involving time, inviting all to come and see, to be understood by every wise man for himself.”
In such wise have you been wont, among the Vajjians, to utter praise of the Dhamma.
In many ways have you, Sunakkhatta, spoken the praises of the Order among the Vajjians: “Well are they trained, the Order of the Exalted One’s disciples, even the four branches thereof.
The eight classes of individuals well trained in uprightness, in principles and in courtesy.
This Order should be respected and revered; gifts should be given it, and homage; for it is the world’s unsurpassed field (for sowing) merit.”
In such wise have you been wont, among the Vajjians, to utter praise of the Order.
I tell you Sunakkhatta, I make known to you Sunakkhatta, that there will be those that shall say concerning you thus: “Sunakkhatta of the Licchavis was not able to live the holy life under Gotama the recluse.
And he, not being able to adhere to it, hath renounced the discipline and turned to lower things.”’
Thus, Bhaggava, did Sunakkhatta of the Licchavis, addressed by me, depart from this Doctrine and Discipline, as one doomed to disaster and purgatory.”
“At one time, Bhaggava, I was staying among the Bumus.
Uttarakā is a village of theirs, and having dressed early one morning, I afterwards took my bowl, put on my robe, and went into Uttarakā for alms.
Now, at that time, a cynic there, Bandylegs the Khattiya, was wont to behave like a dog, walking on all fours, or sprawling on the ground and taking up food, whether hard or soft, with his mouth only (without using his hands).
Sunakkhatta, seeing him act thus, thought: ‘How truly admirable does he look, the holy man, the recluse creeping on all fours, or sprawling on the ground, taking up food, whether hard or soft, with his mouth only.’
Then I, Bhaggava, knowing what was in his mind, said to him: ‘Do you, O foolish man, confess yourself as following the son of the Sakyas?’
‘What does the Exalted One mean, Sir, in saying this to me?’
‘Did you not think, Sunakkhatta, as you looked at that naked Cynic, Kora the Khattiya, on all fours, sprawling on the earth, taking up his food, whether hard or soft, with his mouth only: “How admirable were it to be a holy man like that”?’
‘Yes, lord, I did.
What then!
Does the Exalted One begrudge Arahantship in others?’
‘Nay, foolish man.
I begrudge in no one Arahantship.
It is only in you that this vicious opinion has arisen.
Put it away.
Let it not become a lasting source of harm and ill to you.
This naked cynic, Kora the Khattiya, whom you, Sunakkhatta, fancy so admirable an arahant, will die seven days hence of an epilepsy, and dying he will be reborn as one of the Kālakañjas, the very lowest of the Asūra groups.
As dead, he will be laid out on a heap of birana grass in the charnel field.
You might go up to him, if you wish, and ask him: “Do you know your own destiny, friend Kora?”
Perchance he will reply: “I know my own destiny, friend Sunakkhatta.
There are Asūras called Kalakanjas, the very lowest of the Asūra groups—’Tis among them I am reborn.”’
Thereat, Bhaggava, Sunakkhatta of the Licchavis, went up to the cynic, Kora the Khattiya, and spake thus to him: ‘Friend Kora the Khattiya, the Samaṇa Gotama has declared that on the seventh day hence, the naked ascetic, Kora the Khattiya, will die, and dying he will be reborn as one of the Kalakanjas, the very lowest of the Asūra groups.’
As dead, he will be laid on a heap of birana grass in the charnel field.
Wherefore, friend Kora the Khattiya, you should partake of food with great moderation; you should drink liquids with great moderation; so that the word of the Samaṇa Gotama may prove wrong.’
Then Sunakkhatta, so firmly did he disbelieve the Tathāgata, counted up the seven days one after another; but, Bhaggava, on the seventh day, Kora the Khattiya died of an epilepsy, and dying was reborn as one of the Kalakanjas, the very lowest of the Asūra groups; and as dead, was laid out on a heap of birana grass in the charnel field.
Now Sunakkhatta heard, Bhaggava, that Kora the Khattiya lay dead in the charnel field on a heap of birana grass.
And he went thither where the corpse was lying, and thrice he smote the naked ascetic with his hand, saying: ‘Do you know, friend Kora the Khattiya, what has been your destiny?’
Then Bhaggava, Kora the Khattiya, rubbing his back with his hand, raised himself up and said: ‘I know, friend Sunakkhatta, what is my destiny.
Among the Kalakanjas, the very lowest of the Asūra groups—there am I reborn.’
So saying, he fell back supine.
Thereupon, Bhaggava, Sunakkhatta the Licchavi came to me, and saluting me, sat down beside me.
So sitting, I spake to him thus: ‘What think you, Sunakkhatta?
Has it happened to the cynic, Kora the Khattiya, even as I declared to you, or otherwise?’
‘It has happened to him even as the Exalted One declared to me, not otherwise.’
‘What think you, Sunakkhatta?
This being so, has a mystic wonder by power beyond that of ordinary men been wrought, or has it not?’
‘Surely, sir, this being so, such a mystic wonder has been wrought.’
‘And is it then to me, you foolish man, who have thus by power beyond that of ordinary men, wrought a mystic wonder, that you say: “Sir, the Exalted One works me no miracles with his superhuman gifts?”
See, foolish man, how far you have committed yourself.’
Thus, Bhaggava, did Sunakkhatta of the Licchavis, addressed by me, depart from this Doctrine and Discipline, as one doomed to disaster and to purgatory.”
“At one time, Bhaggava, I was staying at Vesalī in the Great Wood, at the Gable Hall.
Now at that time there was a naked ascetic residing at Vesalī, named Kandara-masuka, and great was his gain and his fame in the Vajjian home.
He had vowed and taken upon himself seven rules of life, to wit: ‘So long as I live I will be of the Naked Ascetics, I will put on no garment; so long as I live, I will be a devotee, devoted to a life of chastity; so long as I live, I will maintain myself by spirituous drink and by flesh, eating no rice-broth or gruel;
I will never go beyond the Udena shrine on the east of Vesalī; the Gotamaka shrine on the south; the Sattamba shrine on the west, and the Bahuputta shrine on the north.’
It was because of his having laid upon himself these seven rules of life that he had gain and fame beyond all others in the Vajjian home.
Now, Bhaggava, Sunakkhatta of the Licchavis went to call on Kandara-masuka and asked him a question.
Kandara-masuka did not follow the question, and not following, manifested resentment, dislike, and anger.
Then it occurred to Sunakkhatta: ‘We might come into conflict with the admirable arahant recluse.
Let nothing happen that would make for lasting harm and ill to us.’
Thereupon, Bhaggava, Sunakkhatta the Licchavi came to call upon me, and saluting me, he sat down beside me and thus I spake to him: ‘Do you, O foolish man, still confess yourself as following the son of the Sakyas?’
‘What does the Exalted One mean in saying that?’
‘Why, Sunakkhatta, did you not go up to the naked ascetic, Kandara-masuka and ask him a question which he did not follow, and over which he manifested anger, dislike, and resentment?
And did it not occur to you: “We might come into conflict with the admirable arahant and recluse.”
Let nothing happen that would make for lasting harm and ill to us?”’
‘It was even so, Sir.
Does the Exalted One begrudge arahantship in anyone?’
‘Nay, foolish man, I begrudge in no one Arahantship.
To you only has this vicious opinion arisen.
Get rid of it.
Let that not make for lasting harm and ill to you.
This naked ascetic Kandara-masuka, whom you think so admirable an arahant recluse, will ere long end his days clothed and married, his diet rice-broth and rice-gruel; his range past all shrines in Vesalī, and he will die fallen from his fame.’
And ere long, Bhaggava, that ascetic ended his days clothed and married, his diet rice-broth and rice-gruel; his range past all shrines in Vesalī, and died fallen from his fame.
Now Sunakkhatta heard that Kandara-masuka, the ascetic, had ended his days clothed and married, his diet rice-broth and rice-gruel; his range past all shrines in Vesalī, and died fallen from his fame.
Thereupon he came to call upon me, and saluting me, he sat down beside me, and I spake to him thus: ‘What think you, Sunakkhatta?
Has it happened to the naked ascetic, Kandara-masuka, even as I declared to you, or otherwise?’
‘It has happened to him even as the Exalted One declared to me, not otherwise.’
‘What think you, Sunakkhatta?
This being so, has a mystic wonder by power surpassing that of ordinary men been wrought, or has none been wrought?’
‘Surely, Sir, this being so, such a mystic wonder has been wrought.’
‘And is it then to me, you foolish man, who have thus by power surpassing that of ordinary men, wrought a mystic wonder, that you say: “Sir, the Exalted One works no such mystic wonder.”
See, foolish man, how far you have committed yourself.’
Thus, Bhaggava, did Sunakkhatta the Licchavi, addressed by me, depart from this Doctrine and Discipline, as one doomed to disaster and to purgatory.”
“At one time, Bhaggava, I was staying there at Vesalī, in the Great Wood, at the Gable Hall.
Now at that time, the naked ascetic, Pāṭika’s son, was residing at Vesalī, and great was his gain and his fame in the Vajjian home.
He held forth thus in the Vesalī assemblies: ‘Both the Samaṇa Gotama and I affirm that we have insight.
Now it becomes one who affirms this to show, in virtue of his insight, mystic wonders, by his extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama would come half-way, I would meet him half-way.
Then we could both work a mystic wonder by our extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama work one such mystic wonder, I will work two.
If he work two, I will work four.
If he will work four, I will work eight.
Thus, to whatever extent he may perform, I will perform double.’
Then, Bhaggava, Sunakkhatta the Licchavi came to call on me, and saluting me, sat down beside me.
And so seated, he said this: ‘The naked ascetic, Pāṭika’s son, sir, held forth thus in the Vesalī assemblies: “Both the Samaṇa Gotama and I affirm that we have insight.
Now it becomes one who affirms this to show, in virtue of his insight, mystic wonders, by his extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama would come half-way, I would meet him half-way.
Then we could both work a mystic wonder by our extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama work one such mystic wonder, I will work two.
If he work two, I will work four.
If he will work four, I will work eight.
Thus, to whatever extent he may perform, I will perform double.”’
And when he had thus spoken, Bhaggava, I said to Sunakkhatta: ‘Incompetent, Sunakkhatta, is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.’
‘Let the Exalted One take heed to what he says.
Let the Wellfarer take heed to what he says.’
‘What mean you, Sunakkhatta, that you say this to me?’
“Let the Exalted One take heed to what he says.
Let the Wellfarer take heed to what he says.”
‘It may be, sir, that the Exalted One’s words convey an absolute statement respecting what would happen, in any case, to Pāṭika’s son, should he, as such, come to meet the Samaṇa Gotama.
But Pāṭika’s son might come in an altered shape to meet the Exalted One, and that would render the Exalted One’s words false.’
‘Now, Sunakkhatta, would a Tathāgata utter any speech that was ambiguous?’
‘Well now, Sir, is it by the Exalted One’s own discernment that he knows: “Incompetent is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder,” or has some deva announced: “Incompetent is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder,” to the Tathāgata?’
‘I have both discerned in my mind, Sunakkhatta: “Incompetent is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder,” and a deva has also announced to me: “Incompetent is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder,” for Ajita, general of the Licchavis, who died the other day, has been reborn in the realm of the Three-and-Thirty.
He came to me and declared this to me: “Shameless, Sir, is the naked ascetic, Pāṭika’s son; a liar, Sir, is Pāṭika’s son.
He made this statement concerning me among the Vajjians: ‘Ajita, the general of the Licchavis, is reborn in the Great Purgatory.’
But I am not reborn there, sir; I am reborn in the realm of the Thirty-and-Three.
Shameless is Pāṭika’s son, Sir, and a liar; incompetent is he to meet Samaṇa Gotama face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.”
Thus, Sunakkhatta, have I both discerned in my mind: “Incompetent is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder,” and a deva has also announced to me: “Incompetent is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.”
Now Sunakkhatta, when I have gone to Vesalī on my round for alms, and have dined, and am on the way back, I will go to Pāṭika’s son’s Park.
Tell him, then, Sunakkhatta, whatever you think right.’
Then I, Bhaggava, having dressed early, and taken my bowl and robe, entered Vesalī for alms.
And after my meal, as I returned, I went into Pāṭika’s son’s park for siesta.
Then, Bhaggava, Sunakkhatta the Licchavi, in a great hurry, went into Vesalī, and went to all the most distinguished of the Licchavis and told them saying: ‘Friends, that Exalted One, on returning from his round for alms, and after dining, has gone to Pāṭika’s son’s park for siesta.
Come forth, sirs, come forth.
There is going to be wonder-working by the superhuman gifts of admirable recluses.’
Then those most distinguished among the Licchavis thought: ‘There is going to be wonder-working by the superhuman gifts of admirable recluses.
Come then, let’s go.’
And wherever there were eminent brahmins and wealthy householders of position, who had become Wanderers or brahmins of different sects, there he went and told them saying: ‘Friends, that Exalted One, on returning from his round for alms, and after dining, has gone to Pāṭika’s son’s park for siesta.
Come forth, sirs, come forth.
There is going to be wonder-working by the superhuman gifts of admirable recluses.’
And those most eminent brahmins and wealthy householders of position, who had become Wanderers or brahmins of different sects thought: ‘There is going to be wonder-working by the superhuman gifts of admirable recluses.
Come then, let’s go.’
So, Bhaggava, those eminent Licchavis and distinguished brahmins and wealthy householders of position, now Wanderers or brahmins of different sects, all repaired to the park of the naked ascetic, Pāṭika’s son.
And they formed an assembly of several hundred, nay, of several thousand persons.
Now Pāṭika’s son heard that all these people were come out and that the Samaṇa Gotama himself was sitting, during siesta, in his park, and hearing of it, fear came upon him and trembling and creeping of the flesh.
And thus afeared, agitated, and in dread, he went away to the Tinduka Pollards, the Wanderers’ Park.
Then that company, Bhaggava, heard that he had gone thither in a panic, and they charged a certain man, saying: ‘Come, my man, go to the Tinduka Pollards and find Pāṭika’s son, the naked ascetic and say this to him: “We have come out, friend Pāṭika’s son; there are come out many distinguished Licchavis and brahmins and wealthy householders, and various teachers among brahmins and recluses.
And the Samaṇa Gotama himself is sitting, during siesta, in your reverence’s park.
You, friend Pāṭika’s son, have delivered this speech in the assembly at Vesalī:
‘Both the Samaṇa Gotama and I affirm that we have insight.
Now it becomes one who affirms this to show, in virtue of his insight, mystic wonders, by his extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama would come half-way, I would meet him half-way.
Then we could both work a mystic wonder by our extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama work one such mystic wonder, I will work two.
If he work two, I will work four.
If he will work four, I will work eight.
Thus, to whatever extent he may perform, I will perform double.’
Come forth then half-way, friend Pāṭika’s son; the Samaṇa Gotama has come all the first half and is seated in your reverence’s park for siesta.”’
‘Very good’, said that man, consenting, and he went to the Tinduka Pollards, the Wanderers’ Park, found Pāṭika’s son, and said this: ‘We have come out, friend Pāṭika’s son; there are come out many distinguished Licchavis and brahmins and wealthy householders, and various teachers among brahmins and recluses.
And the Samaṇa Gotama himself is sitting, during siesta, in your reverence’s park.
You, friend Pāṭika’s son, have delivered this speech in the assembly at Vesalī:
“Both the Samaṇa Gotama and I affirm that we have insight.
Now it becomes one who affirms this to show, in virtue of his insight, mystic wonders, by his extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama would come half-way, I would meet him half-way.
Then we could both work a mystic wonder by our extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama work one such mystic wonder, I will work two.
If he work two, I will work four.
If he will work four, I will work eight.
Thus, to whatever extent he may perform, I will perform double.”
Come forth then half-way, friend Pāṭika’s son; the Samaṇa Gotama has come all the first half and is seated in your reverence’s park for siesta.’
When this was told him, Bhaggava, the naked ascetic, Pāṭika’s son, saying: ‘I am coming, friend, I am coming,’ writhed about then and there and was unable to rise from his seat.
Then said the man to him: ‘How now, friend Pāṭika’s son?
Are your hams stuck to your seat, or is your seat stuck to your hams?
You say: “I am coming, friend, I am coming”, yet you writhe about and are not able to rise from your seat.’
And though this was said to him, Pāṭika’s son repeated: ‘I am coming, friend, I am coming,’ but only writhed about, unable to rise.
Now when the man recognized Pāṭika’s son’s discomfiture, hearing his words and seeing his incapacity, he went to the assembly and told them, saying: ‘The naked ascetic Pāṭika’s son seems discomfited.
He says: “I am coming, friend, I am coming,” but he only writhes about as he sits and is unable to get up.
At these words, Bhaggava, I said to the assembly: ‘Incompetent, friends, is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.’
Thereupon, Bhaggava, a certain councillor of the Licchavis rose from his seat and addressed the meeting: ‘Well then, gentlemen, wait a while till I go and see whether I am able to bring the naked ascetic, Pāṭika’s son, to this assembly.’
Then that councillor went to the Tinduka Pollards, the Wanderers’ Park, found Pāṭika’s son and summoned him to attend, saying: ‘We have come out, friend Pāṭika’s son; there are come out many distinguished Licchavis and brahmins and wealthy householders, and various teachers among brahmins and recluses.
And the Samaṇa Gotama himself is sitting, during siesta, in your reverence’s park.
You, friend Pāṭika’s son, have delivered this speech in the assembly at Vesalī:
“Both the Samaṇa Gotama and I affirm that we have insight.
Now it becomes one who affirms this to show, in virtue of his insight, mystic wonders, by his extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama would come half-way, I would meet him half-way.
Then we could both work a mystic wonder by our extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama work one such mystic wonder, I will work two.
If he work two, I will work four.
If he will work four, I will work eight.
Thus, to whatever extent he may perform, I will perform double.”
Come forth then half-way, friend Pāṭika’s son; the Samaṇa Gotama has come all the first half and is seated in your reverence’s park for siesta.’
If you come we will make you the victor, and cause the Samaṇa Gotama to lose.’
When this was told him, Bhaggava, the naked ascetic, Pāṭika’s son, saying: ‘I am coming, friend, I am coming,’ writhed about then and there and was unable to rise from his seat.
Now when the councillor recognized the ascetic’s discomfiture, hearing his words and seeing his incapacity, he came to the meeting and told them, saying: ‘The naked ascetic, Pāṭika’s son, seems discomfited.
He says: “I am coming, friend, I am coming,” but he writhes about as he sits and is unable to get up.’
And when he had thus said, Bhaggava, I spake to the meeting and told them again: ‘Incompetent, friends, is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.
Even if it occurred to my noble friends the Licchavis: “Let us bind Pāṭika’s son with thongs and drag him hither with ox-yokes,” Pāṭika’s son would break those thongs.
Incompetent, friends, is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.’
Thereupon, Bhaggava, Jaliya, pupil of Wooden-Bowl rose from his seat and spoke thus to the meeting: ‘Well then, gentlemen, wait awhile till I go and see whether I am able to bring the naked ascetic, Pāṭika’s son, to this assembly.’
Then Bhaggava, Jaliya, Wooden-Bowl’s pupil, went to the Tinduka Pollards, the Wanderers’ Park, found Pāṭika’s son, and summoned him to attend, saying: ‘We have come out, friend Pāṭika’s son; there are come out many distinguished Licchavis and brahmins and wealthy householders, and various teachers among brahmins and recluses.
And the Samaṇa Gotama himself is sitting, during siesta, in your reverence’s park.
You, friend Pāṭika’s son, have delivered this speech in the assembly at Vesalī:
“Both the Samaṇa Gotama and I affirm that we have insight.
Now it becomes one who affirms this to show, in virtue of his insight, mystic wonders, by his extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama would come half-way, I would meet him half-way.
Then we could both work a mystic wonder by our extraordinary gifts.
If the Samaṇa Gotama work one such mystic wonder, I will work two.
If he work two, I will work four.
If he will work four, I will work eight.
Thus, to whatever extent he may perform, I will perform double.”
Come forth then half-way, friend Pāṭika’s son; the Samaṇa Gotama has come all the first half and is seated in your reverence’s park for siesta.’
If you come we will make you the victor, and cause the Samaṇa Gotama to lose.’
When this was told him, Bhaggava, the naked ascetic, Pāṭika’s son, saying: ‘I am coming, friend, I am coming,’ writhed about then and there and was unable to rise from his seat.
Now when Jaliya, Wooden-Bowl’s pupil, recognized the ascetic’s discomfiture, he spake to him thus: Long ago, friend Pāṭika’s son, this idea occurred to the lion, king of the beasts:
“What if I were to make my lair near a certain jungle, so that in the evening I could issue from my lair, and stretch myself and survey the landscape, and thrice roar a lion’s roar, and go forth towards the cattle pastures.
I could slay the pick of the herd of beasts, feast on a continual diet of tender flesh, and get me back to that same lair.”
Then the lion, friend, made his lair near a certain jungle, so that in the evening he could issue from his lair, and stretch himself and survey the landscape, and thrice roar a lion’s roar, and go forth towards the cattle pastures.
And he would slay the pick of the herd of beasts, feast on a continual diet of tender flesh, and get him back to that same lair.
Now, friend Pāṭika’s son, there was an old jackal who had continually thriven on the remains of that lion’s food, and was stout and strong, and it occurred to him:
“Who am I, and who is Lion, king of the beasts?
What if I were to choose my lair near a certain jungle, so that in the evening I could issue from my lair, and stretch myself and survey the landscape, and thrice roar a lion’s roar, and go forth towards the cattle pastures?
I could slay the pick of the herd of beasts, feast on a continual diet of tender flesh, and get me back to that same lair.”
Now, friend, that old jackal chose his lair near a certain jungle, and coming forth in the evening and stretching himself, and surveying the landscape, he thought: “Thrice will I roar a lion’s roar”, and thereat he roared a jackal’s howl, a vulpine howl.
Would you compare a vile jackal’s howl with a lion’s roar?
Even so, you, friend Pāṭika’s son, living among the exploits of the Wellfarer, feeding on food left over after the Wellfarer has been served, fancy you can reach up to those who are Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme!
Why, what have wretched Pāṭika’s sons in common with Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme?’
Now since Jaliya, Bhaggava, was unable, even by this parable, to make the ascetic leave his seat, he went on: ‘The jackal on himself reflecting deemed: “The lion I! I am the king of beasts!” And so he roared—a puny jackal’s whine. For what is there in common ‘twixt the twain—the scurvy jackal and the lion’s roar?
Even so do you, friend Pāṭika’s son, living among the exploits of the Wellfarer, feeding on the offerings set aside for the Wellfarer, you fancy things that are to be set up against Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme.
Why, what have wretched Pāṭika’s sons in common with Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme?’
Now, Bhaggava, since Jaliya was unable, even by this parable, to make the ascetic leave his seat, he said this to him: ‘Roaming the pleasant woods, seeing himself Grown fat on scraps, until he sees himself no more, “A tiger I!” the jackal deems himself. But lo! He roars—a puny jackal’s howl. For what is there in common ‘twixt the twain: The scurvy jackal and the lion’s roar?
Even so do you, friend Pāṭika’s son, living among the exploits of the Wellfarer, feeding on food set aside for the Wellfarer, fancy you can set yourself up against Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme!
Why, what have wretched Pāṭika’s sons in common with the Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme?’
Now, Bhaggava, since Jaliya was unable, even by this parable, to make the ascetic leave his seat, he went on thus: ‘Feeding on frogs, on barnfloor mice, and on The corpses laid apart in charnel-field, In the great forest, in the lonely wood The jackal throve and fancied vain conceits: “The lion, King of all the beasts am I!” But when he roared—a puny jackal’s whine. For what is there in common ‘twixt the twain—the scurvy jackal and the lion’s roar?
Even so you, friend Pāṭika’s son, living among the exploits of the Wellfarer, feeding on food set aside for the Wellfarer, fancy things that are to be set up against Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme.
What have wretched Pāṭika’s sons in common with rivals of Tathāgatas, Arahants, Buddhas Supreme?’
Now, Bhaggava, since Jaliya was unable, even by this parable, to make the ascetic leave his seat, he went back to the meeting and told them, saying: ‘The naked ascetic, Pāṭika’s son, seems discomfited.
He says: “I am coming, friend, I am coming,” but he writhes about as he sits, and is unable to get up.’
And when he had thus said, Bhaggava, I spake to the meeting as before: ‘Incompetent, friends, is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.
If it occurred to my noble friends, the Licchavis: “Let us bind Pāṭika’s son with thongs and drag him hither with ox-yokes,” Pāṭika’s son would break those thongs.
Incompetent, friends, is the naked ascetic, Pāṭika’s son, to meet me face to face, if he withdraw not those words, if he put not away that idea, if he renounce not that opinion.
If he thinks that, holding to those words, to that idea, maintaining that opinion, he would come to meet the Samaṇa Gotama, his head would split asunder.’
Thereupon, Bhaggava, I taught, and incited, and aroused, and gladdened that company with religious discourse.
And when I had so done, and had set them at liberty from the great bondage, had drawn forth eighty-four thousand creatures from the great abyss, I entered on Jhāna by the method of flame, rose into the air to the height of seven palm trees, projected a flame the height of another seven palm trees, so that it blazed and glowed; and then I reappeared in the Great Wood, at the Gabled Hall.
Then, Bhaggava, Sunakkhatta, the Licchavi, came to call on me, and saluting, he sat down beside me.
To him, so sitting, I said: ‘What think you of it, Sunakkhatta?
Has it fared with Pāṭika’s son as I declared unto you, and not otherwise?’
‘It has fared with him even as the lord, the Exalted One, declared unto me, and not otherwise.’
‘What think you of it, Sunakkhatta?
If it be even so, has a mystic wonder through superhuman gifts been wrought, or has none been wrought?’
‘Verily, Sir, it being even so, a mystic wonder through superhuman gifts has been wrought indeed.’
‘Even so do you, you foolish man say of me working mystic wonders by superhuman gifts: “The lord, the Exalted One, works no mystic wonder with his superhuman gifts.”
Behold, O foolish man, how far you have committed yourself.’
Thus, Bhaggava, did Sunakkhatta the Licchavi, addressed by me, depart from this Doctrine and Discipline, as one doomed to disaster and to purgatory.
The ultimate beginning of things, I know, Bhaggava, and I know not only that, but more than that.
And while I know that, I do not pervert it.
And as one not perverting it, I even of myself have understood that Peace, that which realizing, a Tathāgata can fall into no error.
There are, Bhaggava, certain recluses and brahmins who declare it as their traditional doctrine, that the beginning of things was the work of an overlord, of Brahmā.
To them have I gone and said: ‘Is it indeed true that the reverend teachers declare it as their traditional doctrine, that the beginning of things was the work of an overlord, of Brahmā?’
And they, so questioned, have answered: ‘Ay.’
And then I have said: ‘But how do the reverend teachers declare in their traditional opinion, that the beginning of things as the work of an overlord, of Brahmā was appointed?’
They, so asked by me, were unable to go any further into that matter, and in their confusion they asked it of me as a counter-question.
To whom I, being asked, have made answer: ‘There comes a time, friends, when, sooner or later, after the lapse of a long epoch, the world is dissolved and evolved.
When this takes place, beings have mostly been reborn in the World of Radiance.
There they dwell, made of mind, feeding on rapture, radiating light from themselves, traversing space, continuing in beauty, and thus they remain—for a long, long period of time.
Now there comes also a time, friends, when, sooner or later, this world-system begins to re-evolve.
When this happens, the abode of the Brahmās appears, but it is empty.
And some being or other, either because his span of years has passed, or because his merit is exhausted, deceases from that world of Radiance, and comes to life in the abode of the Brahmās.
And there also he lives, made of mind, feeding on rapture, radiating light from himself, traversing space, continuing in beauty; and thus does he remain for a long, long period of time.
Now there arises in him, from his dwelling there so long alone, a dissatisfaction and a longing: “Oh, would that other beings too might come to join me in this place!”
And just then, either because their span of years had passed, or because their merit was exhausted, other beings fall from the world of Radiance and appear in the abode of the Brahmās as companions to him; and in all respects, they lead a life like his.
On this, friends, that being who was first reborn thinks thus: “I am Brahmā, the great Brahmā, the Vanquisher, the Unvanquished, the All-Seeing, the Disposer, the Lord, the Maker, the Creator, the Chief, the Assigner, Master of myself, the Father of all that are and are to be.
By me are these beings created.
And why is that so?
A while ago I thought: Would that other beings too might come to this state of being!
Such was the aspiration of my mind, and lo! These beings did come.”
And those beings themselves who arose after him, they too think thus: “This worthy must be Brahmā, the great Brahmā, the Vanquisher, the Unvanquished, the All-Seeing, the Disposer, the Lord, the Maker, the Creator, the Chief, the Assigner, Master of myself, the Father of all that are and are to be.
By this Brahmā have we, good sirs, been created.
And why is that so?
Because he, as we see, arose here first, but we arose after him.
On this, friends, that being who first arose becomes longer lived, handsomer, and more powerful, but those who appeared after him become shorter lived, less comely, less powerful.
And it might well be, friends, that some other being, on deceasing from that state, should come to this state [on earth].
So come, he might go forth from the household life into the homeless state.
And having thus gone forth, by reason of ardour, effort, devotion, earnestness, perfected intellection, he reaches up to such rapt concentration, that with rapt mind he calls to mind his former dwelling-place, but remembers not what went before.
He says thus: “That worshipful Brahmā, that great Brahmā, the Vanquisher, the Unvanquished, the All-Seeing, the Disposer, the Lord, the Maker, the Creator, the Chief, the Assigner, Master of myself, the Father of all that are and are to be, he by whom we were created, he is permanent, constant, eternal, unchanging, and he will remain so for ever and ever.
But we who were created by that Brahmā, we have come hither all impermanent, transient, unstable, short-lived, destined to pass away.”
Thus was appointed the beginning of things which ye, sirs, declare as your traditional doctrine; to wit, that it has been wrought by an overlord, by Brahmā.’
And they have said: ‘Even so have we heard, friend Gotama, as the reverend Gotama has told us.’
But I, Bhaggava, know the beginning of things and I know not only that, but more than that.
And while I know that, I do not pervert it.
And as one not perverting it, I even of myself have understood that Peace, that which realizing, a Tathāgata can fall into no error.
There are, Bhaggava, certain recluses and brahmins who declare it as their doctrine, that the beginning of things was owing to a debauch of pleasure.
To them have I gone and said: ‘Is it indeed true that the reverend teachers declare it as their doctrine, that the beginning of things was owing to a debauch of pleasure?’
And they, so questioned, have answered, ‘Ay.’
And then have I said: ‘But how do the reverend teachers declare in their traditional opinion, that the beginning of things as being due to a debauch of pleasure was appointed?’
They, so asked by me, were unable to go any further into that matter, and in their confusion they asked it of me instead as a counter-question.
To them, I, on being asked, have made reply: ‘There are, friends, certain spirits called the Debauched-by-Pleasure. For ages they pass their time in mirth and sport of sensual lusts. In consequence thereof their self-control is corrupted, and thereby those devas decease from that state.
Now it might well be, friends, that some being or other, on deceasing from that state, should come hither, and that, having come hither, he should go forth from the household life into the homeless state. As a recluse he might, by reason of ardour, effort, devotion, earnestness, perfected intellection, he reach up to such rapt concentration, that with rapt mind he acquire the power of recollecting his previous birth, but not what preceded it.
And he would say to himself: “Those worshipful spirits who are not debauched-by-pleasure, they have not, for ages, passed their time in the mirth and sport of sensual lusts. Hence is their self-control not corrupted. Hence they decease not from their estate, but are permanent, constant, eternal, unchanging, and will so remain for ever and ever.
But we who were pleasure-debauched, we did pass our time for ages in the mirth and sport of sensual lusts, whereby our self-control became corrupted, so that we deceased from that estate, and are come to this form of life impermanent, transient, unstable, short-lived, deciduous.”
Thus was appointed the beginning of things which ye declare as being due to a debauch of pleasure.
And they have said: ‘Even so have we heard, friend Gotama, as the reverend Gotama has told us.’
But I, Bhaggava, know the beginning of things and I know not only that, but more than that. And while I know that, I do not pervert it. And as one not perverting it, I even of myself have understood that Peace, that which realizing, a Tathāgata can fall into no error.
There are, Bhaggava, certain recluses and brahmins, who declare as their traditional doctrine, that the beginning of things was owing to a debauch of mind.
To these have I gone and said: ‘Is it indeed true that the reverend teachers declare it as their traditional doctrine, that the beginning of things was owing to a debauch of mind?’
And they, so questioned, have answered: ‘Ay.’
And then have I said: ‘But how do the reverend teachers declare, in their opinion, that the beginning of things as being due to a debauch of mind was appointed?’
They, so asked by me, were unable to go any further into that matter, and in their confusion they asked it of me instead as a counter-question.
To whom I, being asked, have made answer: ‘There are, friends, certain spirits called the Debauched-in-Mind. For ages they burn with mutual envy; hence their thoughts regarding each other become depraved. Hence their bodies become feeble and their minds imbecile. They decease from that estate.
Now it might well be, friends, that some being or other, deceasing from that estate, should come hither, and being hither come, should go forth from the household life into the homeless state. As a recluse he might, by reason of ardour, effort, devotion, earnestness, perfected intellection, reach up to such rapt concentration, that with rapt mind he acquire the power of recollecting his previous birth, but not what preceded it.
And he would say to himself: “Those worshipful devas who are not debauched in mind, they have not for ages been burning with mutual envy. Hence their thoughts regarding each other have not become depraved. Hence have their bodies not become feeble, nor their minds imbecile.
Those devas decease not from that estate, but are permanent, constant, eternal, unchanging and will so remain for ever and ever.
But we who were debauched in mind, we did pass the time for ages burning with mutual envy, whereby our thoughts about each other became depraved, our bodies feeble, our minds imbecile. And we have deceased from that estate and are come hither, impermanent, transient, unstable, short-lived, deciduous.”
Thus was appointed the beginning of things which ye declare as being due to debauch of mind.’
And they have said: ‘Even so have we heard, friend Gotama, as the reverend Gotama has told us.’
But I, Bhaggava, know the beginnings of things and I know not only that, but more than that. And while I know that, I do not pervert it. And as one not perverting it, I even of myself have understood that Peace, that which realizing, a Tathāgata can fall into no error.
There are, Bhaggava, certain recluses and brahmins, who declare it as their doctrine, that the beginning of things was by chance.
To them have I gone and said: ‘Is it indeed true that the reverend teachers declare it as their traditional doctrine, that the beginning of things was by chance?
And they, so questioned, have answered: “Ay.”’
Then have I said to them: ‘But how do the reverend teachers declare that the beginning of things by chance, which you teach, was appointed?’
They, so asked by me, were unable to go any further into that matter, and in their confusion they asked it of me instead as a counter-question.
To whom, I, being asked, have made answer: ‘There are, friends, certain spirits called Unconscious Beings. As soon as an idea occurs to them they decease from that estate.
Now it may well be, friends, that some being or other having so deceased, comes to this form of life, and so come, goes forth from the household life into the homeless state. As a recluse he, by reason of ardour, effort, devotion, earnestness, perfected intellection, he reach up to such rapt concentration, that with rapt mind he acquire the power of recollecting his previous birth, but not what preceded it.
And he would say to himself: “Fortuitous in origin are the soul and the world. And why so? Because formerly I was not, now, having non-existed, I am changed into being.”
Thus was appointed the beginning of things as being due to chance, which you venerable teachers declare as your doctrine.’
And they have said: ‘Even so have we heard, friend Gotama, as the reverend Gotama has told us.’
But I, Bhaggava, know the beginning of things, and I know not only that, but more than that. And knowing it, I do not pervert it, and not perverting it, I, even of myself, have understood that Peace which, realizing, a Tathāgata can fall into no error.
Now I, Bhaggava, being of such an opinion, certain recluses and brahmins have falsely, emptily, mendaciously and unfairly accused me, saying: ‘Gotama, the recluse, is all wrong, and so are his bhikkhus.
He has said: “Whenever one has attained to the stage of deliverance, entitled the Beautiful, one then considers all things as repulsive.”
But this, Bhaggava, I have not said.
What I do say is this: ‘Whenever one attains to the stage of deliverance, entitled the Beautiful, one is then aware ’Tis lovely!’
“But it is they, lord, that are all wrong, who impute to the Exalted One and to his bhikkhus, that they err. So delighted am I with the Exalted One that I believe he is able so to teach me that I may attain to and remain in the stage of deliverance, entitled the Beautiful.”
“Hard is it, Bhaggava, for you, holding, as you do, different views, other things approving themselves to you, you setting different aims before yourself, striving after a different aim, trained in a different system, to attain to and abide in the deliverance that is beautiful.
Look therefore to it, Bhaggava, that you foster well this faith of yours in me.”
“If, Sir, it be hard for me, holding different views, other things approving themselves to me, I setting different aims before myself, striving after a different aim, trained in a different system, to attain to and abide in the deliverance that is beautiful, then will I, at least, foster well my faith in the Exalted One.”
These things spake the Exalted One.
And Bhaggavagotta, the Wanderer, pleased in heart, took delight in his words.
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời Thế Tôn ở giữa bộ lạc Malla (Mạt-la), tại Anupiya (A-dật-di), một thành của bộ lạc Mallà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Anupiya để khất thực. Rồi Thế Tôn tự nghĩ: “Thật là quá sớm để vào thành Anupiya khất thực. Ta hãy đến tịnh xá của du sĩ Bhaggava và thăm vị này.” Thế Tôn liền đi đến tịnh xá du sĩ Bhaggava.
SC 3PTS cs 2~2 Rồi du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn
SC 4—Thế Tôn hãy đến gần! Xin chào đón Thế Tôn. Ðã lâu, Thế Tôn mới có dịp đến đây. Mời Thế Tôn ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 5Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và du sĩ Bhaggava lấy một ghế ngồi khác thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, du sĩ Bhaggava bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, ngày xưa và nhiều ngày xưa nữa, Sunakkhatta (Thiện Tịnh) thuộc bộ lạc Licchavi (Ly-xa tử) đến con và nói như sau: “Này Bhaggava, nay tôi từ bỏ Thế Tôn! Nay tôi không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.” Bạch Thế Tôn, sự việc có phải như Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi nói hay không?
SC 7- Này Bhaggava, sự việc thật như Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đã nói.
SC 8PTS cs 3~3 Này Bhaggava, thuở xưa và rất xa xưa, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đến thăm Ta. Sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, nay con xin từ bỏ Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nay con không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa.”
SC 9Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nó với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:
SC 10“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây sống dưới sự chỉ dẫn của Ta” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 11“- Hay Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 12“- Này Sunakkhatta, Ta không nói: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta”, và Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn”. Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!
SC 13PTS cs 4~4 “- Bạch Thế Tôn, nhưng Thế Tôn không khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.
SC 14“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta! Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 15“- Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn. Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 16“- Này Sunakkhatta, Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta, Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần thông; Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, và Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?
SC 17“- Bạch Thế Tôn, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.
SC 18“- Này Sunakkhatta, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời các pháp thượng nhân thần thông là gì mà cần phải thực chứng? Này kẻ ngu kia, hãy thấy lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!
SC 19PTS cs 5~5 “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.
SC 20“- Này Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của Thế giới” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 21“- Này Sunakkhatta, Ngươi có nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới” chăng?
“- Bạch Thế Tôn, không!
SC 22“- Này Sunakkhatta, như vậy Ta không nói với Ngươi: “Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn của Ta. Ta sẽ giải thích cho Ngươi khởi nguyên của thế giới.” Ngươi cũng không nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn, rồi Thế Tôn sẽ giải thích cho con khởi nguyên của thế giới.” Này kẻ ngu kia, sự kiện là như vậy, thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện từ bỏ? Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?
SC 23“- Bạch Thế Tôn, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, chính thật là như vậy.
SC 24“- Này Sunakkhatta, khởi nguyên của thế giới có giải thích hay không giải thích, mục đích của Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời giải thích về khởi nguyên thế giới có ích lợi gì cho Ngươi? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!
SC 25PTS cs 6~6 “- Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajjī: “Như vậy, Thế Tôn là bậc A la hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi đã nói lời tán thán Ta tại làng Vajjī.
SC 26“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi nói lời tán thán Pháp tại làng Vajjī: “Chánh pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, chỉ người có trí mới thâm hiểu.” Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Chánh pháp tại làng Vajjī.
SC 27“Này Sunakkhatta, dưới nhiều phương diện, Ngươi đã tán thán Tăng tại làng Vajjī: “Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh chơn, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh trực, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Khuôn phép, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập về Chánh hạnh, tức là bốn đôi tám chúng. Chư Tăng đệ tử của Thế Tôn này đáng được kính trọng, đáng được cung kính, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay cúi chào, vì là phước điền tối thượng ở đời”. Này Sunakkhatta, như vậy dưới nhiều phương diện, Ngươi tán thán Tăng tại làng Vajjī.
SC 28“Này Sunakkhatta, Ta nói cho Ngươi biết; này Sunakkhatta ta tin cho Ngươi biết; sẽ có lời luận bàn về Ngươi như sau: “Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi không thể sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama. Vì không kham nổi, nên từ bỏ tu học trở về với đời sống thấp kém”. Này Sunakkhatta, sẽ có lời luận bàn về Ngươi như vậy.
SC 29Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rớt vào đọa xứ, địa ngục.
SC 30PTS cs 7~7 Này Bhaggava, một thời Ta ở bộ lạc Bumu, tại thị trấn của bộ lạc Bumu tên là Uttaraka. Này Bhaggava, rồi buổi sáng Ta đắp y, cầm y bát cùng với Sa di Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi theo sau, vào thị trấn Uttaraka khất thực. Lúc bấy giờ, lõa thể Korakkhattiya, tu theo hạnh chó đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.
SC 31Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng ăn đồ cứng hay đồ ăn mềm.
SC 32Này Bhaggava, Ta biết được tâm tư của Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi với tâm tư của Ta cà Ta nói với ông ta như sau:
SC 33“- Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích Tử không?
SC 34“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói: “Này kẻ ngu kia, có phải Ngươi tự nhân Ngươi là Thích Tử không”?
SC 35“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi, sau khi thấy lõa thể Korakkhattiya tu theo hạnh chó, đi bốn chân bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm, liền suy nghĩ: “Thật tốt đẹp thay vị A la hán Sa môn đi bốn chân, bò lết trên đất, lấy miệng mà ăn đồ ăn cứng hay đồ ăn mềm”?
SC 36“- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một bị A la hán?
SC 37“- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán? Chính Ngươi tự sinh ác tà kiến ấy, hãy bỏ nó đi. Chớ để tự mình lâu ngày bị khổ đau thiệt hại. Này Sunakkhatta, lõa thể Korakkhattiya mà Ngươi nghĩ là tốt đẹp, là vị Sa môn, sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, nó sẽ bị quăng trong nghĩa địa đặt trên đống cỏ Bìrana. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy đến hỏi lõa thể Korakkhattiya như sau: “Này bạn Korakkhattiya, bạn có biết bạn thác sanh cảnh giới nào không?” Này Sunakkhatta, sự kiện này có thể xảy ra, lõa thể Korakkhatta ấy có thể trả lời với Ngươi: “Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi sẽ thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất”.
SC 38PTS cs 8~8 Này Bhaggava, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi, đi đến lõa thể Korakkhattiya và nói
SC 39—Này bạn Korakkhattiya, Sa môn Gotama có nói như sau: “Lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày sẽ bị trúng thực mà chết, sau khi chết sẽ tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura (A-tu-la) thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta sẽ bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bīraṇa”. Này Bạn Korakkhattiya, vậy Bạn hãy ăn cho có tiết độ, vậy Bạn hãy uống cho có tiết độ, để lời nói của Sa môn Gotama trở thành nói láo.”
SC 40Này Bhaggava, vì không tin tưởng Như Lai, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đếm từng ngày một cho đến bảy ngày. Nhưng này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya sau bảy ngày bị trúng thực mà chết. Sau khi chết, bị tái sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất. Sau khi chết, ông ta bị quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bīraṇa.
SC 41PTS cs 9~9 Này Bhaggava, Sunakkhatta được nghe: “Lõa thể Korakkhattiya bị trúng thực chết, quăng trong nghĩa địa, đặt trên đống cỏ Bìrana.” Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi liền đi đến đống cỏ Bìrana tại nghĩa địa, đến lõa thể Korakkhattiya, lấy tay đánh ba lần và hỏi:
SC 42“- Này bạn Korakkhattiya, Bạn có biết cảnh giới thác sanh của Bạn không?”
SC 43Này Bhaggava, lõa thể Korakkhattiya lấy tay xoa lưng và ngồi dậy:
SC 44“- Này bạn Sunakkhatta, tôi biết cảnh giới thác sanh của tôi. Tôi thác sanh thuộc loại Kàlakanjà, một trong loại Asura thấp kém nhất.” Sau khi nói xong, ông ta ngã ngửa xuống.
SC 45PTS cs 10~10 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 46“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Korakkhattiya, có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?
SC 47“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Korakkhattiya như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác!
SC 48“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện có phải không?
SC 49“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.
SC 50“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế nào!”
SC 51Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 52PTS cs 11~11 Này Bhaggava, một thời, Ta trú tại Vesālī (Tỳ xá ly), rừng Ðại Lâm, ở Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Kandaramasuka ở tại Vesālī được sự cúng dường tối thượng, được xưng danh tối thượng tại làng Vajjī. Vị này có phát nguyện tuân theo bảy giới hạnh: “Trọn đời, ta theo hạnh lõa thể, không mặc quần áo; trọn đời, ta sống phạm hạnh, không có hành dâm; trọn đời ta tự nuôi sống với rượu và thịt, không phải với cháo cơm; ta không bao giờ đi quá tháp Udāna phía Ðông thành Vesālī; ta không bao giờ đi quá tháp Gotamaka, phía Nam thành Vesālī; ta không bao giờ đi quá tháp Sattamba, phía Tây thành Vesà; ta không bao giờ đi quá tháp Bahuputta, phía Bắc thành Vesālī.” Vị này, nhờ tuân theo bảy giới hạnh này mà được sự cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng tại làng Vajjī.
SC 53PTS cs 12~12 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi; lõa thể Kandaramasuka khi bị hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi, vì không theo dõi, nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi suy nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có gì xảy ra khiến chúng ta có thể bất lợi đau khổ lâu đời.”
SC 54PTS cs 13~13 Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đi đến Ta, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 55“- Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?
SC 56“- Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại nói với con như vậy: “Này kẻ ngu kia, Ngươi vẫn tự nhận Ngươi là Thích tử không?’
SC 57“- Này Sunakkhatta, có phải Ngươi đã đi đến lõa thể Kandaramasuka và hỏi câu hỏi. Lõa thể Kandaramasuka khi được Ngươi hỏi như vậy, không theo dõi câu hỏi; vì không theo dõi nên tỏ ra tức tối, giận dữ, phật ý. Rồi ngươi tự nghĩ: “Chúng ta có thể trở thành chống đối vị A la hán, Sa môn tốt đẹp này. Hãy giữ đừng có có gì xảy ra khiến chúng có thể bất lợi đau khổ lâu đời!”.
SC 58“- Bạch Thế Tôn có vậy. Bạch Thế Tôn, sao Thế Tôn lại ganh ghét với một vị A la hán?
SC 59“- Này kẻ ngu kia, Ta đâu có ganh ghét với một vị A la hán! Chính Ngươi tự sanh ác tà kiến ấy, hãy từ bỏ nó đi. Chớ để mình lâu ngày bị thiệt hại đau khổ! Này Sunakkhatta, lõa thể Kandaramasuka mà Ngươi nghĩ là vị A la hán, là vị Sa môn tốt đẹp, không bao lâu sẽ sống mặc áo và lập gia đình, sẽ ăn cơm cháo, sẽ đi vượt quá các tháp ở Vesālī và sẽ chết mất hết cả danh xưng”.
SC 60Này Bhaggava, lõa thể Kandaramasuka, không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesālī và bị chết mất hết cả danh xưng.
SC 61PTS cs 14~14 Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi được nghe tin lõa thể Kandaramasuka không bao lâu sống mặc áo và lập gia đình, ăn dùng cơm cháo, đi vượt quá các tháp ở Vesālī và bị chết mất hết danh xưng. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta đi đến chỗ Ta ở, sau khi đến đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, và Ta nói với Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 62“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Ðiều Ta nói với Ngươi về lõa thể Kandaramasuka có phải sự việc xảy ra như Ta nói không, hay là khác?
SC 63“- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã nói với con về lõa thể Kandaramasuka như thế nào, sự việc xảy ra như Thế Tôn nói, không phải khác.
SC 64“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thời có phải là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, có phải không?
SC 65“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, chắc chắn là pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện.
SC 66“- Vậy này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông cho con.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy rõ sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!”
SC 67Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi được Ta nói như vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 68PTS cs 15~15 Này Bhaggava, một thời Ta trú ở Vesālī, rừng Ðại Lâm, tại Trùng Các giảng đường. Lúc bấy giờ, lõa thể Pātikaputta sống ở Vesālī, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajjī. Trong các buổi họp ở Vesālī, ông ta thường tuyên bố như sau:
SC 69“Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông của mình, nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiều pháp thần thông thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”
SC 70PTS cs 16~16 Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đã đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi bạch với Ta:
SC 71“- Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta (Ba-lê tử) sống ở Vesālī, được cúng dường tối thượng, được danh xưng tối thượng ở làng Vajjī. Trong buổi họp ở Vesālī, thường tuyên bố như sau: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama có thể thực hiện một pháp thượng nhân thần thông … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.”
SC 72Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:
SC 73“- Này Sunakkhatta, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ta sẽ bị bể tan.
SC 74PTS cs 17~17 “- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói! Thiện Thệ hãy thận trọng lời nói!
SC 75“- Này Sunakkhatta, tại sao Ngươi lại nói với Ta: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thận trọng lời nói.”?
SC 76“- Bạch Thế Tôn, lời nói này đã được Thế Tôn tuyên bố một cách cực đoan: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu ông ấy sẽ bị bể tan”! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta có thể đến gặp mặt Thế Tôn với một hóa thân khác, và như vậy Thế Tôn trở thành nói không thật!
SC 77PTS cs 18~18 “- Này Sunakkhatta, Như Lai có bao giờ nói lời nói nào có hai nghĩa không?
SC 78“- Bạch Thế Tôn, có phải do tự tâm phán xét mà Thế Tôn đã được biết về Pātikaputta: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Hay là có vị Thiên thần nào đã báo tin cho Như Lai biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan!”
SC 79“- Này Sunakkhatta, chính tự tâm phán xét mà ta đã biết về lõa thể Pātikaputta: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Và cũng có vị Thiên thần đã báo tin cho Ta biết: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn … đầu ông ấy sẽ bị bể tan”. Vị tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita, khi mệnh chung vào ngày kia đã được sanh vào Tam thập tam thiên. Rồi vị ấy đến bạch với Ta: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có tàm quý! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta đã nói về con, ở giữa làng Vajjī như sau: “Tướng quân ở bộ lạc Licchavi tên là Ajita sẽ thác sanh vào Ðại địa ngục,” Bạch Thế Tôn, con không thác sanh vào Ðại địa ngục, Bạch Thế Tôn, con được sanh vào cõi Tam thập tam thiên! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có tàm quý. Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không nói sự thật! Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.” Này Sunakkhatta, như vậy chính tự tâm phán xét mà Ta biết về lõa thể Pātikaputta. Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Và một vị thiên Thần đã báo tin cho ta biết: “Bạch Thế Tôn, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Thế Tôn nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Thế Tôn mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 80“Này Sunakkhatta, sau khi Ta đi khất thực ở Vesālī, ăn xong và khất thực trở về, Ta sẽ đến tại vườn Pātikaputta để nghỉ trưa. Này Sunakkhatta, nếu Ngươi muốn, hãy tin cho ông ấy biết.”
SC 81PTS cs 19~19 Này Bhaggava, rồi Ta đắp y vào buổi sáng, cầm y bát vào thành Vesālī để khất thực. Sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, Ta đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa. Này Bhaggava, Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi vội vàng vào thành Vesālī, đến những Licchavi có danh tiếng và báo tin cho những vị ấy biết:
SC 82“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa! Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”
SC 83Này Bhaggava, các Licchavi có danh tiếng suy nghĩ như sau: “Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”
SC 84Và chỗ nào có những Bà la môn có địa vị, những gia chủ giàu sang, các Bà la môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng, ông ta đi đến các vị này và báo tin cho biết:
SC 85“- Này Hiền giả, Thế Tôn sau khi đi khất thực, ăn xong và đi khất thực trở về, đã đi đến vườn của Pātikaputta để nghỉ trưa. Mong quý vị hãy đến! Mong quý vị hãy đến! Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo.”
SC 86Này Bhaggava, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng suy nghĩ: “Sẽ có biểu diễn pháp thượng nhân thần thông giữa các vị Sa môn thiện xảo. Vậy chúng ta hãy đi đến đó.”
SC 87Này Bhaggava, rồi các Licchavi có danh tiếng, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cùng đi đến vườn của Pātikaputta. Này Bhaggava, như vậy Hội chúng này lên đến hàng trăm hàng ngàn người.
SC 88PTS cs 20~20 Này Bhaggava, lõa thể Pātikaputta được nghe: “Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến, còn Sa môn Gotama thì ngồi nghỉ trưa tại vườn của ta.” Khi nghe vậy ông ấy hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược. Này Bhaggava, lõa thể Pātikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược, liền đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu.
SC 89Này Bhaggava, Hội chúng ấy được nghe: “Lõa thể Pātikaputta hoảng sợ, run rẩy, lông tóc dựng ngược đã đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu.” Này Bhaggava, Hội chúng liền cho gọi một người và bảo:
SC 90“- Này bạn hãy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp lõa thể Pātikaputta và nói như sau: “Này bạn Pātikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến, các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến. Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, lời nói sau đây được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesālī: “Sa môn là người có trí, ta cũng là người có trí. Người có trí có thể trình bày pháp thượng nhân thần thông nhờ trí lực của mình. Nếu Sa môn Gotama chịu đi nửa đường, ta chịu đi nửa đường. Và hai chúng ta có thể thực hiện pháp thượng nhân thần thông ở tại đây. Nếu Sa môn Gotama thực hiện một pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện hai pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện hai pháp thượng thần thông, thời ta sẽ thực hiện bốn pháp. Nếu Sa môn Gotama thực hiện bốn pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện tám pháp. Như vậy Sa môn Gotama thực hiện bao nhiêu pháp thượng nhân thần thông, thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần. “Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả!”.
SC 91PTS cs 21~21 Này Bhaggava, người ấy vâng theo lời Hội chúng ấy, đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp lõa thể Pātikaputta, sau khi gặp xong, liền thưa:
SC 92“- Này bạn Pātikaputta, hãy đi đến. Các Licchavi danh tiếng … Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, lời nói sau được Hiền giả nói tại Hội chúng ở Vesālī: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí … ta sẽ thực hiện gấp hai lần”. Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường, Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường và ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả.”
SC 93Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta trả lời:
SC 94“- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”.
SC 95Nhưng ông ấy như trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Này Bhaggava, người ấy nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 96“- Này Hiền giả Pātikaputta sao lại như vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả?
SC 97“- Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến.”
SC 98Tuy nói vậy nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
SC 99Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”; nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.
SC 100PTS cs 22~22 Này Bhaggava, khi người ấy biết được lõa thể Pātikaputta này đã bị thảm hại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi, liền đến Hội chúng ấy báo tin:
SC 101“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại, không thể đứng dậy khỏi chỗ ngồi.”
SC 102Này Bhaggava, khi nghe vậy Ta nói Hội chúng:
SC 103“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy. Nếu ông ấy nghĩ rằng ông ấy sẽ đến gặp mặt Ta mà không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
Tụng phẩm II
SC 104PTS cs 1~23 Này Bhaggava, một vị đại thần Licchavi, từ chỗ ngồi đứng dậy, nói với Hội chúng ấy:
SC 105“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi, xem có thể đưa lõa thể Pātikaputta đến Hội chúng này không?”
SC 106Này Bhaggava, rồi vị đại thần Licchavi ấy đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp mặt lõa thể Pātikaputta và nói với ông ấy:
SC 107“- Này bạn Pātikaputta hãy đến! Các Licchavi danh tiếng đã đến, và các Bà la môn có địa vị, các Gia chủ giàu sang, các Sa môn, Bà la môn ngoại đạo có danh tiếng cũng đã đến; còn Sa môn Gotama đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesālī: “Sa môn Gotama là người có trí, ta cũng là người có trí … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần”. Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pātikaputta không có thể đến gặp mặt Ta nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy … ông ấy có thể đến gặp mặt Thế Tôn thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pātikaputta hãy đến! Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”
SC 108PTS cs 2~24 Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, vị đại thần Licchavi liền nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 109“- Này Hiền giả Pātikaputta, sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính liền vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 110Này Bhaggava, khi được nói vậy, lõa thể Pātikaputta tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.
SC 111PTS cs 3~25 Này Bhaggava, khi vị đại thần Licchavi biết được lõa thể Pātikaputta này đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền đến Hội chúng ấy báo tin:
SC 112“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 113Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với Hội chúng ấy:
SC 114“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy … thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quí vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây, Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy … ” Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không từ bỏ lời nói ấy … ”, thời đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 115PTS cs 4~26 Này Bhaggava, lúc ấy Jāliya, đệ tử của Dārupatti, từ chỗ ngồi đứng dậy và nói với Hội chúng ấy:
SC 116“- Các Hiền giả hãy chờ một lát, để tôi đi xem có thể đưa lõa thể Pātikaputta đến Hội chúng này hay không?”
SC 117Này Bhaggava, rồi Jāliya, đệ tử của Dārupatti đi đến vườn các du sĩ Tindukkhānu, gặp mặt lõa thể Pātikaputta và nói với ông ấy:
SC 118“- Này bạn Pātikaputta hãy đến. Các Licchavi danh tiếng đã đến … Sa môn Gotama nay đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả đã tuyên bố giữa Hội chúng Vesālī như sau: “Sa môn Gotama là người có trí … thời ta sẽ thực hiện gấp hai lần.” Này Hiền giả Pātikaputta, hãy chịu đi nửa đường. Sa môn Gotama đã đi hết tất cả nửa đường rồi và đang ngồi nghỉ trưa tại vườn của Hiền giả. Này Hiền giả Pātikaputta, Sa môn Gotama đã nói với Hội chúng về Hiền giả như sau: “Lõa thể Pātikaputta nếu không từ bỏ lời nói ấy … Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta không bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama … ”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng, và dùng bò kéo ông ấy lại đây”, Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể, nếu không từ bỏ lời nói ấy … đầu của ông ấy sẽ bị bể tan”. Này Hiền giả Pātikaputta hãy đến. Nếu Hiền giả đến, chúng tôi sẽ làm cho Hiền giả thắng, và làm cho Sa môn Gotama thất bại.”
SC 119PTS cs 5~27 Này Bhaggava, khi được nghe nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy. Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti nói với lõa thể Pātikaputta:
SC 120“- Này Hiền giả Pātikaputta sao lại vậy? Hình như mông của Hiền giả dính liền vào ghế, hay ghế dính vào mông của Hiền giả. Tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 121Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng Hiền giả trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 122Này Bhaggava, được nói vậy, lõa thể Pātikaputta, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 123PTS cs 6~28 Này Bhaggava, khi Jāliya, đệ tử của Dārupatti biết được lõa thể Pātikaputta nay đã bị thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, lại trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy, liền nói với ông ấy:
SC 124“- Này Hiền giả Pātikaputta, thuở xưa con sư tử vua các loài thú suy nghĩ: “Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại”.
SC 125“Này Hiền giả, con sư tử ấy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, nó đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại rồi trở về sào huyệt lại.
SC 126PTS cs 7~29 “Này Hiền giả Pātikaputta, có con chó rừng già kiêu ngạo và mạnh mẽ, thường sống bằng đồ ăn thừa của con sư tử, vua các loài thú. Con chó rừng ấy suy nghĩ: “Ta là ai, và con sư tử, vua các loài thú, là ai? Ta hãy y cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt. Sau khi xây dựng sào huyệt, vào buổi chiều ta sẽ ra khỏi sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và ba lần rống tiếng rống con sư tử. Sau khi rống tiếng rống con sư tử, ta sẽ đi đến chỗ các thú qua lại, tìm giết những con thú tốt đẹp nhất, ăn các loại thịt mềm mại, rồi trở về sào huyệt lại.”
SC 127“Này Hiền giả, con chó rừng kia ý cứ vào một khu rừng để xây dựng sào huyệt, duỗi chân cho khỏe, rồi nhìn khắp bốn phương và định ba lần rống tiếng rống con sư tử. Nhưng nó chỉ kêu lên tiếng loại chó rừng, tiếng sủa loại chó rừng. Ai có thể so sánh tiếng sủa con chó rừng đê tiện với tiếng rống con sư tử?
SC 128“Cũng vậy, này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 129PTS cs 8~30 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti dầu có dùng ví dụ ấy cũng không thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:
SC 130Chó rừng nhìn tự thân,
Tự nghĩ là sư tử.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?
SC 131“Cũng vậy, này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A lán hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 132PTS cs 10~31 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti, dầu có dùng ví dụ ấy cũng không có thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền nói với ông ấy:
SC 133Ăn cóc, chuột kho thóc,
Ăn xác quăng nghĩa địa,
Sống Ðại lâm, Không lâm,
Tự nghĩ là vua thú.
Nó sủa tiếng chó rừng,
Loại chó rừng đê tiện.
Chó rừng sủa là ai?
Ai rống tiếng sư tử?
SC 134“Cũng vậy này Hiền giả Pātikaputta, Hiền giả sống dựa trên uy tín của bậc Thiện Thệ, ăn uống đồ tàn thực của bậc Thiện Thệ, thế mà tự nghĩ có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác. Bọn Pātikaputta đê tiện là ai, lại có thể trịch thượng với các bậc Như Lai, A la hán, Chánh Ðẳng Giác?”
SC 135PTS cs 11~32 Này Bhaggava, Jāliya, đệ tử của Dārupatti, dầu có dùng ví dụ ấy, cũng không thể khiến lõa thể Pātikaputta rời khỏi chỗ ngồi, liền về Hội chúng ấy và báo tin:
SC 136“- Lõa thể Pātikaputta đã thảm bại, tuy nói: “Này Bạn, tôi sẽ đến; này Bạn, tôi sẽ đến”, nhưng ông ấy trườn bò qua lại tại chỗ, không có thể từ chỗ ngồi đứng dậy.”
SC 137PTS cs 12~33 Này Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nói với hội chúng ấy:
SC 138“- Này các Hiền giả, lõa thể Pātikaputta, nếu ông ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, thì không có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta tuy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không từ bỏ tà kiến ấy, có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan. Nếu quý vị Licchavi nghĩ rằng: “Chúng ta hãy cột lõa thể Pātikaputta với dây thừng và dùng bò kéo ông ấy lại đây”. Pātikaputta sẽ bứt đứt dây thừng ấy. Lõa thể Pātikaputta không có thể không từ bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Ta được. Nếu ông ấy nghĩ rằng: “Ta có thể không từ bỏ lời nói ấy … có thể đến gặp mặt Sa môn Gotama được”, thì đầu của ông ấy sẽ bị bể tan.”
SC 139PTS cs 13~34 Này Bhaggava, rồi Ta giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp. Sau khi giảng dạy cho hội chúng ấy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ với bài thuyết pháp, Ta khiến cho họ giải thoát đại kiết sử, cứu vớt tám vạn bốn ngàn chúng sanh thoát khỏi đại đọa xứ, Ta nhập thiền quang giới tam muội, bay lên hư không cao đến bảy cây ta-la, phóng hào quang cao đến hơn bảy cây ta-la, khiến cho cháy sáng, rực sáng và Ta hiện ra tại Trùng Các giảng đường ở Ðại Lâm. Này Bhaggava, rồi Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đến Ta, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, này Bhaggava, Ta nói với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi đang ngồi một bên:
SC 140“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Có phải điều Ta nói cho Ngươi về lõa thể Pātikaputta, đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác?
SC 141“- Bạch Thế Tôn, điều Thế Tôn nói cho con về lõa thể Pātikaputta đã được thực hiện đúng như vậy, không có gì khác.
SC 142“- Này Sunakkhatta, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, thì có phải pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện hay không được thực hiện?
SC 143“- Bạch Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì pháp thượng nhân thần thông đã được thực hiện, không phải không thực hiện.
SC 144: “Này kẻ ngu kia, như vậy là pháp thượng nhân thần thông đã được Ta thực hiện, thế mà Ngươi lại nói: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không thực hiện pháp thượng nhân thần thông.” Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là như thế nào!”
SC 145Này Bhaggava, như vậy Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi dầu được Ta nói vậy, từ bỏ Pháp và Luật này, như người phải rơi vào đọa xứ, địa ngục.
SC 146PTS cs 14~35 Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không có chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy; chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi. Này Bhaggava, có những vị Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên (Issara) tạo ra, do Phạm thiên (Brahmā) tạo ra. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 147“- Có phải chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra?”
SC 148Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng!”
Ta nói với quý vị ấy:
SC 149“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo thuyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, do Phạm thiên tạo ra”?
SC 150Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 151PTS cs 15~36 “- Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, phần lớn các loài hữu tình chuyển sanh qua Ābhassara (Quang Âm thiên) ở tại đây, những loài hữu tình nào do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Chư Hiền giả, có một thời, đến một giai đoạn nào đó, sau một thời gian rất lâu, thế giới này chuyển thành, Phạm cung được hiện ra nhưng trống không. Lúc bấy giờ, một loài hữu tình, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, mạng chung từ Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không ấy. Vị ấy ở tại đấy, do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Vị này, tại chỗ ấy, sau khi sống lâu một mình như vậy, khởi ý chán nản, không hoan hỷ và có kỳ vọng: “Mong sao có các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này!” Lúc bấy giờ, các loài hữu tình khác, hoặc thọ mạng đã tận, hay phước báo đã tận, bị mệnh chung và từ thân Quang Âm thiên sanh qua Phạm cung trống không để làm bạn với vị hữu tình kia. Các loại hữu tình này ở đây cũng có ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài.
SC 152PTS cs 16~37 “Lúc bấy giờ, này các Hiền giả, vị hữu tình sanh qua đầu tiên nghĩ rằng: “Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta hóa sanh. Tại sao vậy? Vì chính do ta khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này! Chính do sở nguyện của ta mà những loại hữu tình ấy đến tại chỗ này”. Các loài hữu tình đến sau cùng nghĩ như thế này: “Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì chúng ta thấy vị này sanh trước ở đây rồi, còn chúng ta thì sanh sau”.
SC 153PTS cs 17~38 “Này các Hiền giả, vị hữu tình sanh ra đầu tiên ấy, sống được lâu hơn, sắc tướng tốt đẹp hơn, và được nhiều uy quyền hơn. Còn các loài hữu tình sanh sau thì sống ngắn hơn, sắc tướng ít tốt đẹp hơn, và được ít uy quyền hơn. Này các Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong các loài hữu tình ấy, sau khi từ bỏ thân kia lại thác sanh đến cõi này. Khi đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ tới đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Vị kia là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng Tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh. Chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh. Vị ấy là thường hằng, kiên cố, thường trú, không biến chuyển, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta do vị Phạm thiên ấy hóa sanh đến tại chỗ này. Chúng ta là vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”! Này các Hiền giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do Tự Tại thiên tạo ra, là do Phạm thiên tạo ra…?”
Các vị ấy nói như sau:
SC 154“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”
SC 155PTS cs 18~39 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi dục lạc. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 156“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc?”
SC 157Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng.”
Ta nói với quý vị ấy:
SC 158“- Sao chư Hiền giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới truyền thống, là do nhiễm hoặc bởi dục lạc?”
SC 159Ðược Ta hỏi như vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 160“- Này các Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Khiddàpadosikà (bị nhiễm hoặc bởi dục lạc). Những vị này sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày, mê say trong hý tiếu dục lạc, nên bị thất niệm. Do thất niệm, chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân thể của họ. Sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến chỗ này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhất tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh ức niệm, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống quá khứ ấy chớ không nhớ xa hơn đời sống ấy. Vị ấy nói: “Những vị Thiên không bị nhiễm hoặc vì dục lạc, họ sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì sống lâu ngày không mê say trong hý tiếu dục lạc, nên không bị thất niệm. Nhờ không thất niệm, nên Chư thiên ấy không thác sanh, không từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta đã bị nhiễm hoặc bởi dục lạc, sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc. Vì chúng ta sống lâu ngày mê say trong hý tiếu dục lạc nên bị thất niệm. Do thất niệm, chúng ta từ bỏ thân thể này, sống vô thường, không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến chỗ này”. Này các Tôn giả, như vậy quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc vì dục lạc có phải không?”
Các vị ấy nói như sau:
SC 161“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.
SC 162PTS cs 19~40 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 163“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”
SC 164Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời
:
“Vâng”.
Ta nói với quý vị ấy:
SC 165“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do nhiễm hoặc bởi tâm trí?”
SC 166Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 167“- Chư Hiền giả, có những hạng chư Thiên gọi là Manopadosikà (nhiễm hoặc bởi tâm trí.) Họ sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau. Vì sống lâu ngày, nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí oán ghét lẫn nhau, nên thân họ mệt mỏi, tâm họ mệt mỏi. Các hạng chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân này của họ. Các Hiền giả, sự tình này xảy ra. Một trong các loài hữu tình kia, khi thác sanh, từ bỏ thân thể ấy, lại sanh đến cõi này. Khi sanh đến cõi này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Khi tâm nhập định, vị ấy nhớ đến đời sống ấy. Vị ấy nói rằng: “Chư Thiên không bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, họ sống lâu ngày không bị nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, tâm trí của họ không oán ghét nhau. Vì tâm trí họ không oán ghét nhau, nên thân họ không mệt mỏi, tâm họ không mệt mỏi. Hạng chư Thiên ấy không thác sanh từ bỏ thân thể của họ, sống thường hằng, kiên cố, thường trú, không bị chuyển biến, thường trú như vậy mãi mãi. Còn chúng ta bị nhiễm hoặc bởi tâm trí, sống lâu ngày nung nấu bởi sự đố kỵ lẫn nhau, nên tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau. Vì tâm trí chúng ta oán ghét lẫn nhau, nên thân mệt mỏi và tâm mệt mỏi. Chúng thác sanh, từ bỏ thân này, sống vô thường không kiên cố, yểu thọ, chịu sự biến dịch và thác sanh đến tại chỗ này”. Như vậy, này các Hiền giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên của thế giới theo truyền thống là do bị nhiễm hoặc bởi tâm trí.”
Họ trả lời như sau:
SC 168“- Này Tôn giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên của thế giới … mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi.”
SC 169PTS cs 20~41 Này Bhaggava, một số Sa môn, Bà la môn tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh. Ta đến những vị ấy và nói:
SC 170“- Có phải chư Tôn giả tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh?”
SC 171Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy trả lời:
“- Vâng”.
Ta nói với quý vị ấy:
SC 172“- Sao chư Tôn giả lại tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truền thống là do vô nhân sanh?”
SC 173Ðược Ta hỏi vậy, quý vị ấy không thể trả lời được. Không thể trả lời được, quý vị ấy hỏi lại Ta, và được hỏi vậy, Ta trả lời như sau:
SC 174“- Chư Hiền giả, có những chư Thiên gọi là Vô tưởng hữu tình. Khi một tưởng niệm khởi lên, thời chư Thiên ấy thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên của mình. Chư Hiền giả, sự tình này có thể xảy ra. Một trong loài hữu tình ấy, khi thác sanh, từ bỏ thân chư Thiên ấy của mình, lại sanh đến cõi này. Khi đến tại chỗ này, vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Sau khi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy nhờ nhiệt tâm … nên tâm nhập định. Vị ấy nhớ đến khi tưởng niệm phát sanh, chớ không nhớ xa hơn nữa. Vị ấy nói: “Bản ngã về thế giới do vô nhân sanh. Tại sao vậy? Vì rằng: Tôi trước kia không có, nay có. Từ nơi trạng thái không có, tôi trở thành loại hữu tình”. Như vậy, này các Tôn giả, quý vị tuyên bố về khởi nguyên thế giới theo truyền thống là do vô nhân sanh có phải như vậy không?”
Họ trả lời:
SC 175“- Này Hiền giả Gotama, chúng tôi có nghe đúng như Tôn giả Gotama đã nói: “Này Bhaggava, Ta biết về khởi nguyên thế giới, Ta còn biết hơn thế nữa. Và khi Ta biết như vậy, Ta không có chấp trước. Vì không chấp trước, Ta tự thân thấu hiểu được sự an tịnh ấy. Chính nhờ chứng ngộ sự an tịnh này mà Như Lai không rơi vào lầm lỗi”.
SC 176PTS cs 21~42 Này Bhaggava, Ta tuyên bố như vậy, Ta quan niệm như vậy. Nhưng một số Sa môn, Bà la môn lại bài xích Ta một cách không thật, trống không, hư ngụy, giả dối: “Sa môn Gotama và các vị Tỷ kheo là điên đảo. Sa môn Gotama đã tuyên bố: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh”. Nhưng này Bhaggava, Ta không có nói như vậy: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là bất tịnh.” Này Bhaggava, Ta nói như sau: “Khi một ai đạt đến thanh tịnh, giải thoát, khi ấy vị ấy biết mọi vật là thanh tịnh”
SC 177- Bạch Thế Tôn, chính họ là điên đảo khi họ chỉ trích Thế Tôn và các Tỷ kheo là điên đảo. Con tin tưởng hoan hỷ đối với Thế Tôn khiến con tin rằng Thế Tôn có thể dạy cho con đến thanh tịnh giải thoát.
SC 178- Này Bhaggava, thật khó cho Ngươi khi Ngươi theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác để có thể đạt được thanh tịnh, giải thoát. Này Bhaggava, hãy đặt nặng lòng tin ở nơi Ta, hãy khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.
SC 179- Bạch Thế Tôn, nếu thật khó cho con, khi con theo các kiến giải sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục tiêu sai khác, đeo đuổi những mục đích sai khác, được huấn luyện theo các phương pháp sai khác, để có thể đạt được thanh tịnh giải thoát, thời Bạch Thế Tôn, ít nhất con cũng đặt nặng lòng tin vào Thế Tôn, và con sẽ khéo gìn giữ lòng tin tưởng ấy.
SC 180Thế Tôn thuyết giảng như vậy, du sĩ Bhaggava hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn.
1. Sunakkhattavatthu
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā mallesu viharati anupiyaṁ nāma mallānaṁ nigamo.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya anupiyaṁ piṇḍāya pāvisi.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“atippago kho tāva anupiyāyaṁ piṇḍāya carituṁ.
Yannūnāhaṁ yena bhaggavagottassa paribbājakassa ārāmo, yena bhaggavagotto paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti.
Atha kho bhagavā yena bhaggavagottassa paribbājakassa ārāmo, yena bhaggavagotto paribbājako tenupasaṅkami.
Atha kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“etu kho, bhante, bhagavā.
Svāgataṁ, bhante, bhagavato.
Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya.
Nisīdatu, bhante, bhagavā, idamāsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Bhaggavagottopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho bhaggavagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“purimāni, bhante, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ etadavoca:
‘paccakkhāto dāni mayā, bhaggava, bhagavā.
Na dānāhaṁ bhagavantaṁ uddissa viharāmī’ti.
Kaccetaṁ, bhante, tatheva, yathā sunakkhatto licchaviputto avacā”ti?
“Tatheva kho etaṁ, bhaggava, yathā sunakkhatto licchaviputto avaca.
Purimāni, bhaggava, divasāni purimatarāni sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṁ etadavoca:
‘paccakkhāmi dānāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ.
Na dānāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmī’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ,
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhīti.
Napi kira maṁ tvaṁ vadesi—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmīti.
Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi?
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
‘Na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotī’ti.
‘Api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissatī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissāmīti;
napi kira maṁ tvaṁ vadesi—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissatīti.
Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi?
Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
kate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya mayā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti?
‘Kate vā, bhante, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye yassatthāya bhagavatā dhammo desito so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti.
‘Iti kira, sunakkhatta, kate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye, akate vā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriye, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya.
Tatra, sunakkhatta, kiṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kataṁ karissati?
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
‘Na hi pana me, bhante, bhagavā aggaññaṁ paññapetī’ti?
‘Api nu tāhaṁ, sunakkhatta, evaṁ avacaṁ—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te aggaññaṁ paññapessāmī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Tvaṁ vā pana maṁ evaṁ avaca—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me aggaññaṁ paññapessatī’ti?
‘No hetaṁ, bhante’.
‘Iti kira, sunakkhatta, nevāhaṁ taṁ vadāmi—
ehi tvaṁ, sunakkhatta, mamaṁ uddissa viharāhi, ahaṁ te aggaññaṁ paññapessāmīti.
Napi kira maṁ tvaṁ vadesi—
ahaṁ, bhante, bhagavantaṁ uddissa viharissāmi, bhagavā me aggaññaṁ paññapessatīti.
Evaṁ sante, moghapurisa, ko santo kaṁ paccācikkhasi?
Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti?
‘Paññatte vā, bhante, aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya bhagavatā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāyā’ti.
‘Iti kira, sunakkhatta, paññatte vā aggaññe, apaññatte vā aggaññe, yassatthāya mayā dhammo desito, so niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya.
Tatra, sunakkhatta, kiṁ aggaññaṁ paññattaṁ karissati?
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhaṁ.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme—
itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena mama vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme—
svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena dhammassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
Anekapariyāyena kho te, sunakkhatta, saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme—
suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṁ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho, āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassāti.
Iti kho te, sunakkhatta, anekapariyāyena saṅghassa vaṇṇo bhāsito vajjigāme.
Ārocayāmi kho te, sunakkhatta, paṭivedayāmi kho te, sunakkhatta.
Bhavissanti kho te, sunakkhatta, vattāro, no visahi sunakkhatto licchaviputto samaṇe gotame brahmacariyaṁ carituṁ, so avisahanto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattoti.
Iti kho te, sunakkhatta, bhavissanti vattāro’ti.
Evaṁ kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
2. Korakkhattiyavatthu
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ thūlūsu viharāmi uttarakā nāma thūlūnaṁ nigamo.
Atha khvāhaṁ, bhaggava, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sunakkhattena licchaviputtena pacchāsamaṇena uttarakaṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Tena kho pana samayena acelo korakkhattiyo kukkuravatiko catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjati.
Addasā kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto acelaṁ korakkhattiyaṁ kukkuravatikaṁ catukkuṇḍikaṁ chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādantaṁ mukheneva bhuñjantaṁ.
Disvānassa etadahosi:
‘sādhurūpo vata bho ayaṁ samaṇo catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjatī’ti.
Atha khvāhaṁ, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa cetasā cetoparivitakkamaññāya sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti.
‘Kiṁ pana maṁ, bhante, bhagavā evamāha:
“tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī”’ti?
‘Nanu te, sunakkhatta, imaṁ acelaṁ korakkhattiyaṁ kukkuravatikaṁ catukkuṇḍikaṁ chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādantaṁ mukheneva bhuñjantaṁ disvāna etadahosi—
sādhurūpo vata bho ayaṁ samaṇo catukkuṇḍiko chamānikiṇṇaṁ bhakkhasaṁ mukheneva khādati, mukheneva bhuñjatī’ti?
‘Evaṁ, bhante.
Kiṁ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti?
‘Na kho ahaṁ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi.
Api ca tuyhevetaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ, taṁ pajaha.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Yaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, maññasi acelaṁ korakkhattiyaṁ—sādhurūpo ayaṁ samaṇoti. So sattamaṁ divasaṁ alasakena kālaṁ karissati.
Kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati.
Kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍessanti.
Ākaṅkhamāno ca tvaṁ, sunakkhatta, acelaṁ korakkhattiyaṁ upasaṅkamitvā puccheyyāsi—
jānāsi, āvuso korakkhattiya, attano gatinti?
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, vijjati yaṁ te acelo korakkhattiyo byākarissati—
jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṁ;
kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapanno’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ korakkhattiyaṁ etadavoca:
‘byākato khosi, āvuso korakkhattiya, samaṇena gotamena—
acelo korakkhattiyo sattamaṁ divasaṁ alasakena kālaṁ karissati.
Kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajjissati.
Kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍessantīti.
Yena tvaṁ, āvuso korakkhattiya, mattaṁ mattañca bhattaṁ bhuñjeyyāsi, mattaṁ mattañca pānīyaṁ piveyyāsi.
Yathā samaṇassa gotamassa micchā assa vacanan’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto ekadvīhikāya sattarattindivāni gaṇesi, yathā taṁ tathāgatassa asaddahamāno.
Atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo sattamaṁ divasaṁ alasakena kālamakāsi.
kālaṅkato ca kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatra upapajji.
kālaṅkatañca naṁ bīraṇatthambake susāne chaḍḍesuṁ.
Assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto:
‘acelo kira korakkhattiyo alasakena kālaṅkato bīraṇatthambake susāne chaḍḍito’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena bīraṇatthambakaṁ susānaṁ, yena acelo korakkhattiyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ korakkhattiyaṁ tikkhattuṁ pāṇinā ākoṭesi:
‘jānāsi, āvuso korakkhattiya, attano gatin’ti?
Atha kho, bhaggava, acelo korakkhattiyo pāṇinā piṭṭhiṁ paripuñchanto vuṭṭhāsi.
‘Jānāmi, āvuso sunakkhatta, attano gatiṁ.
Kālakañcikā nāma asurā sabbanihīno asurakāyo, tatrāmhi upapanno’ti vatvā tattheva uttāno papati.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yatheva te ahaṁ acelaṁ korakkhattiyaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ, aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ korakkhattiyaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi—
na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotīti.
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
3. Acelakaḷāramaṭṭakavatthu
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ vesāliyaṁ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena acelo kaḷāramaṭṭako vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
Tassa sattavatapadāni samattāni samādinnāni honti:
‘yāvajīvaṁ acelako assaṁ, na vatthaṁ paridaheyyaṁ, yāvajīvaṁ brahmacārī assaṁ, na methunaṁ dhammaṁ paṭiseveyyaṁ, yāvajīvaṁ surāmaṁseneva yāpeyyaṁ, na odanakummāsaṁ bhuñjeyyaṁ.
Puratthimena vesāliṁ udenaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, dakkhiṇena vesāliṁ gotamakaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, pacchimena vesāliṁ sattambaṁ nāma cetiyaṁ, taṁ nātikkameyyaṁ, uttarena vesāliṁ bahuputtaṁ nāma cetiyaṁ taṁ nātikkameyyan’ti.
So imesaṁ sattannaṁ vatapadānaṁ samādānahetu lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yena acelo kaḷāramaṭṭako tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ pañhaṁ apucchi.
Tassa acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṁ puṭṭho na sampāyāsi.
Asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi.
Atha kho, bhaggava, sunakkhattassa licchaviputtassa etadahosi:
‘sādhurūpaṁ vata bho arahantaṁ samaṇaṁ āsādimhase.
Mā vata no ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti.
‘Kiṁ pana maṁ, bhante, bhagavā evamāha—
tvampi nāma, moghapurisa, samaṇo sakyaputtiyo paṭijānissasī’ti?
‘Nanu tvaṁ, sunakkhatta, acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ upasaṅkamitvā pañhaṁ apucchi.
Tassa te acelo kaḷāramaṭṭako pañhaṁ puṭṭho na sampāyāsi.
Asampāyanto kopañca dosañca appaccayañca pātvākāsi.
Tassa te etadahosi:
“sādhurūpaṁ vata bho arahantaṁ samaṇaṁ āsādimhase.
Mā vata no ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāyā”’ti.
‘Evaṁ, bhante.
Kiṁ pana, bhante, bhagavā arahattassa maccharāyatī’ti?
‘Na kho ahaṁ, moghapurisa, arahattassa maccharāyāmi,
api ca tuyhevetaṁ pāpakaṁ diṭṭhigataṁ uppannaṁ, taṁ pajaha.
Mā te ahosi dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Yaṁ kho panetaṁ, sunakkhatta, maññasi acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ—
sādhurūpo ayaṁ samaṇoti, so nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālaṁ karissatī’ti.
Atha kho, bhaggava, acelo kaḷāramaṭṭako nacirasseva parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālamakāsi.
Assosi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto:
‘acelo kira kaḷāramaṭṭako parihito sānucāriko vicaranto odanakummāsaṁ bhuñjamāno sabbāneva vesāliyāni cetiyāni samatikkamitvā yasā nihīno kālaṅkato’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yatheva te ahaṁ acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ, aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ kaḷāramaṭṭakaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi:
“na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotī”ti.
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
4. Acelapāthikaputtavatthu
Ekamidāhaṁ, bhaggava, samayaṁ tattheva vesāliyaṁ viharāmi mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
Tena kho pana samayena acelo pāthikaputto vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
‘samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ.
Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ.
Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma.
Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi.
Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi.
Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi.
Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī’ti.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto maṁ etadavoca:
‘acelo, bhante, pāthikaputto vesāliyaṁ paṭivasati lābhaggappatto ceva yasaggappatto ca vajjigāme.
So vesāliyaṁ parisati evaṁ vācaṁ bhāsati:
“samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ.
Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya, ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ.
Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma.
Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi.
Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi.
Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi.
Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī”’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, sunakkhatta, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
‘Rakkhatetaṁ, bhante, bhagavā vācaṁ, rakkhatetaṁ sugato vācan’ti.
‘Kiṁ pana maṁ tvaṁ, sunakkhatta, evaṁ vadesi—
rakkhatetaṁ, bhante, bhagavā vācaṁ, rakkhatetaṁ sugato vācan’ti?
‘Bhagavatā cassa, bhante, esā vācā ekaṁsena odhāritā—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Acelo ca, bhante, pāthikaputto virūparūpena bhagavato sammukhībhāvaṁ āgaccheyya, tadassa bhagavato musā’ti.
‘Api nu, sunakkhatta, tathāgato taṁ vācaṁ bhāseyya yā sā vācā dvayagāminī’ti?
‘Kiṁ pana, bhante, bhagavatā acelo pāthikaputto cetasā ceto paricca vidito—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti?
Udāhu, devatā bhagavato etamatthaṁ ārocesuṁ—
abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti?
‘Cetasā ceto paricca vidito ceva me, sunakkhatta, acelo pāthikaputto—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ—
abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Ajitopi nāma licchavīnaṁ senāpati adhunā kālaṅkato tāvatiṁsakāyaṁ upapanno.
Sopi maṁ upasaṅkamitvā evamārocesi—
alajjī, bhante, acelo pāthikaputto;
musāvādī, bhante, acelo pāthikaputto.
Mampi, bhante, acelo pāthikaputto byākāsi vajjigāme—
ajito licchavīnaṁ senāpati mahānirayaṁ upapannoti.
Na kho panāhaṁ, bhante, mahānirayaṁ upapanno;
tāvatiṁsakāyamhi upapanno.
Alajjī, bhante, acelo pāthikaputto;
musāvādī, bhante, acelo pāthikaputto;
abhabbo ca, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Iti kho, sunakkhatta, cetasā ceto paricca vidito ceva me acelo pāthikaputto abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Devatāpi me etamatthaṁ ārocesuṁ—
abhabbo, bhante, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā bhagavato sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
So kho panāhaṁ, sunakkhatta, vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamissāmi divāvihārāya.
Yassadāni tvaṁ, sunakkhatta, icchasi, tassa ārocehī’ti.
5. Iddhipāṭihāriyakathā
Atha khvāhaṁ, bhaggava, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisiṁ.
Vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṁ divāvihārāya.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto taramānarūpo vesāliṁ pavisitvā yena abhiññātā abhiññātā licchavī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte licchavī etadavoca:
‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya.
Abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṁ samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissatī’ti.
Atha kho, bhaggava, abhiññātānaṁ abhiññātānaṁ licchavīnaṁ etadahosi:
‘sādhurūpānaṁ kira, bho, samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissati;
handa vata, bho, gacchāmā’ti.
Yena ca abhiññātā abhiññātā brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā abhiññāte abhiññāte nānātitthiye samaṇabrāhmaṇe etadavoca:
‘esāvuso, bhagavā vesāliyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkami divāvihārāya.
Abhikkamathāyasmanto abhikkamathāyasmanto, sādhurūpānaṁ samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissatī’ti.
Atha kho, bhaggava, abhiññātānaṁ abhiññātānaṁ nānātitthiyānaṁ samaṇabrāhmaṇānaṁ etadahosi:
‘sādhurūpānaṁ kira, bho, samaṇānaṁ uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ bhavissati;
handa vata, bho, gacchāmā’ti.
Atha kho, bhaggava, abhiññātā abhiññātā licchavī, abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā yena acelassa pāthikaputtassa ārāmo tenupasaṅkamiṁsu.
Sā esā, bhaggava, parisā mahā hoti anekasatā anekasahassā.
Assosi kho, bhaggava, acelo pāthikaputto:
‘abhikkantā kira abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā.
Samaṇopi gotamo mayhaṁ ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti.
Sutvānassa bhayaṁ chambhitattaṁ lomahaṁso udapādi.
Atha kho, bhaggava, acelo pāthikaputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkami.
Assosi kho, bhaggava, sā parisā:
‘acelo kira pāthikaputto bhīto saṁviggo lomahaṭṭhajāto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo tenupasaṅkanto’ti.
Atha kho, bhaggava, sā parisā aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
‘Ehi tvaṁ, bho purisa, yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkama. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ evaṁ vadehi:
“abhikkamāvuso, pāthikaputta, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā, samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno;
bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā
samaṇopi gotamo ñāṇavādo, ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ.
Samaṇo gotamo upaḍḍhapathaṁ āgaccheyya ahampi upaḍḍhapathaṁ gaccheyyaṁ.
Te tattha ubhopi uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ kareyyāma.
Ekañce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, dvāhaṁ karissāmi.
Dve ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, cattārāhaṁ karissāmi.
Cattāri ce samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyāni karissati, aṭṭhāhaṁ karissāmi.
Iti yāvatakaṁ yāvatakaṁ samaṇo gotamo uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karissati, taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmī”ti
abhikkamasseva kho āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti.
Evaṁ, bhoti kho, bhaggava, so puriso tassā parisāya paṭissutvā yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā.
Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—
samaṇopi gotamo ñāṇavādo; ahampi ñāṇavādo.
Ñāṇavādo kho pana ñāṇavādena arahati uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ dassetuṁ …pe…
taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti.
Abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno’ti.
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Atha kho so, bhaggava, puriso acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ?
Āyāmi āvuso, āyāmi āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Yadā kho so, bhaggava, puriso aññāsi:
‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto.
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi:
‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto.
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
Paṭhamabhāṇavāro niṭṭhito.
Atha kho, bhaggava, aññataro licchavimahāmatto uṭṭhāyāsanā taṁ parisaṁ etadavoca:
‘tena hi, bho, muhuttaṁ tāva āgametha, yāvāhaṁ gacchāmi.
Appeva nāma ahampi sakkuṇeyyaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ imaṁ parisaṁ ānetun’ti.
Atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṁ te seyyo, abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—
samaṇopi gotamo ñāṇavādo …pe…
taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti.
Abhikkamasseva kho, āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā—
abhabbo kho acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkamaneneva te jayaṁ karissāma, samaṇassa gotamassa parājayan’ti.
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Atha kho so, bhaggava, licchavimahāmatto acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ?
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Yadā kho so, bhaggava, licchavimahāmatto aññāsi:
‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi:
‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya.
Sace pāyasmantānaṁ licchavīnaṁ evamassa—
mayaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ varattāhi bandhitvā goyugehi āviñcheyyāmāti, tā varattā chijjeyyuṁ pāthikaputto vā.
Abhabbo pana acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī uṭṭhāyāsanā taṁ parisaṁ etadavoca:
‘tena hi, bho, muhuttaṁ tāva āgametha, yāvāhaṁ gacchāmi;
appeva nāma ahampi sakkuṇeyyaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ imaṁ parisaṁ ānetun’ti.
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī yena tindukakhāṇuparibbājakārāmo, yena acelo pāthikaputto tenupasaṅkami. upasaṅkamitvā acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkantaṁ te seyyo. Abhikkantā abhiññātā abhiññātā licchavī, abhikkantā abhiññātā abhiññātā ca brāhmaṇamahāsālā gahapatinecayikā nānātitthiyā samaṇabrāhmaṇā. Samaṇopi gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho pana te esā, āvuso pāthikaputta, vesāliyaṁ parisati vācā—
samaṇopi gotamo ñāṇavādo …pe…
taddiguṇaṁ taddiguṇāhaṁ karissāmīti.
Abhikkamasseva, kho āvuso pāthikaputta, upaḍḍhapathaṁ.
Sabbapaṭhamaṁyeva āgantvā samaṇo gotamo āyasmato ārāme divāvihāraṁ nisinno.
Bhāsitā kho panesā, āvuso pāthikaputta, samaṇena gotamena parisati vācā—
abhabbo acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya.
Sace pāyasmantānaṁ licchavīnaṁ evamassa—
mayaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ varattāhi bandhitvā goyugehi āviñcheyyāmāti. Tā varattā chijjeyyuṁ pāthikaputto vā.
Abhabbo pana acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ āgaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyāti.
Abhikkamāvuso pāthikaputta, abhikkamaneneva te jayaṁ karissāma, samaṇassa gotamassa parājayan’ti.
Evaṁ vutte, bhaggava, acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātuṁ.
Atha kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī acelaṁ pāthikaputtaṁ etadavoca:
‘kiṁ su nāma te, āvuso pāthikaputta, pāvaḷā su nāma te pīṭhakasmiṁ allīnā, pīṭhakaṁ su nāma te pāvaḷāsu allīnaṁ?
Āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappasi, na sakkosi āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evampi kho, bhaggava, vuccamāno acelo pāthikaputto ‘āyāmi, āvuso, āyāmi, āvuso’ti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātunti.
Yadā kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī aññāsi:
‘parābhūtarūpo ayaṁ acelo pāthikaputto āyāmi, āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti, atha naṁ etadavoca—
Bhūtapubbaṁ, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño etadahosi:
‘yannūnāhaṁ aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappeyyaṁ.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhameyyaṁ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṁ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṁ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadeyyaṁ, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkameyyaṁ.
So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupeyyan’ti.
Atha kho, āvuso, so sīho migarājā aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappesi.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadi, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkāmi.
So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupesi.
Tasseva kho, āvuso pāthikaputta, sīhassa migarañño vighāsasaṁvaḍḍho jarasiṅgālo ditto ceva balavā ca.
Atha kho, āvuso, tassa jarasiṅgālassa etadahosi:
‘ko cāhaṁ, ko sīho migarājā.
Yannūnāhampi aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappeyyaṁ.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhameyyaṁ, āsayā nikkhamitvā vijambheyyaṁ, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokeyyaṁ, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadeyyaṁ, tikkhattuṁ sīhanādaṁ naditvā gocarāya pakkameyyaṁ.
So varaṁ varaṁ migasaṅghe vadhitvā mudumaṁsāni mudumaṁsāni bhakkhayitvā tameva āsayaṁ ajjhupeyyan’ti.
Atha kho so, āvuso, jarasiṅgālo aññataraṁ vanasaṇḍaṁ nissāya āsayaṁ kappesi.
Tatrāsayaṁ kappetvā sāyanhasamayaṁ āsayā nikkhami, āsayā nikkhamitvā vijambhi, vijambhitvā samantā catuddisā anuvilokesi, samantā catuddisā anuviloketvā tikkhattuṁ sīhanādaṁ nadissāmīti siṅgālakaṁyeva anadi bheraṇḍakaṁyeva anadi, ke ca chave siṅgāle, ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanāti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī iminā opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha naṁ etadavoca:
‘Sīhoti attānaṁ samekkhiyāna,
Amaññi kotthu migarājāhamasmi;
Tatheva so siṅgālakaṁ anadi,
Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha naṁ etadavoca:
‘Aññaṁ anucaṅkamanaṁ,
Attānaṁ vighāse samekkhiya;
Yāva attānaṁ na passati,
Kotthu tāva byagghoti maññati.
Tatheva so siṅgālakaṁ anadi,
Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha naṁ etadavoca:
‘Bhutvāna bheke khalamūsikāyo,
Kaṭasīsu khittāni ca koṇapāni;
Mahāvane suññavane vivaḍḍho,
Amaññi kotthu migarājāhamasmi;
Tatheva so siṅgālakaṁ anadi,
Ke ca chave siṅgāle ke pana sīhanādeti.
Evameva kho tvaṁ, āvuso pāthikaputta, sugatāpadānesu jīvamāno sugatātirittāni bhuñjamāno tathāgate arahante sammāsambuddhe āsādetabbaṁ maññasi.
Ke ca chave pāthikaputte, kā ca tathāgatānaṁ arahantānaṁ sammāsambuddhānaṁ āsādanā’ti.
Yato kho, bhaggava, jāliyo dārupattikantevāsī imināpi opammena neva asakkhi acelaṁ pāthikaputtaṁ tamhā āsanā cāvetuṁ.
Atha taṁ parisaṁ āgantvā evamārocesi:
‘parābhūtarūpo, bho, acelo pāthikaputto āyāmi āvuso, āyāmi, āvusoti vatvā tattheva saṁsappati, na sakkoti āsanāpi vuṭṭhātun’ti.
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ etadavocaṁ:
‘abhabbo kho, āvuso, acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—
ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyya.
Sacepāyasmantānaṁ licchavīnaṁ evamassa—
mayaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ varattāhi bandhitvā nāgehi āviñcheyyāmāti. Tā varattā chijjeyyuṁ pāthikaputto vā.
Abhabbo pana acelo pāthikaputto taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā mama sammukhībhāvaṁ āgantuṁ.
Sacepissa evamassa—ahaṁ taṁ vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā samaṇassa gotamassa sammukhībhāvaṁ gaccheyyanti, muddhāpi tassa vipateyyā’ti.
Atha khvāhaṁ, bhaggava, taṁ parisaṁ dhammiyā kathāya sandassesiṁ samādapesiṁ samuttejesiṁ sampahaṁsesiṁ, taṁ parisaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā mahābandhanā mokkhaṁ karitvā caturāsītipāṇasahassāni mahāviduggā uddharitvā tejodhātuṁ samāpajjitvā sattatālaṁ vehāsaṁ abbhuggantvā aññaṁ sattatālampi acciṁ abhinimminitvā pajjalitvā dhūmāyitvā mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ paccuṭṭhāsiṁ.
Atha kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho ahaṁ, bhaggava, sunakkhattaṁ licchaviputtaṁ etadavocaṁ:
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yatheva te ahaṁ acelaṁ pāthikaputtaṁ ārabbha byākāsiṁ, tatheva taṁ vipākaṁ aññathā vā’ti?
‘Yatheva me, bhante, bhagavā acelaṁ pāthikaputtaṁ ārabbha byākāsi, tatheva taṁ vipākaṁ, no aññathā’ti.
‘Taṁ kiṁ maññasi, sunakkhatta,
yadi evaṁ sante kataṁ vā hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, akataṁ vā’ti?
‘Addhā kho, bhante, evaṁ sante kataṁ hoti uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ, no akatan’ti.
‘Evampi kho maṁ tvaṁ, moghapurisa, uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karontaṁ evaṁ vadesi—
na hi pana me, bhante, bhagavā uttari manussadhammā iddhipāṭihāriyaṁ karotīti.
Passa, moghapurisa, yāvañca te idaṁ aparaddhan’ti.
Evampi kho, bhaggava, sunakkhatto licchaviputto mayā vuccamāno apakkameva imasmā dhammavinayā, yathā taṁ āpāyiko nerayiko.
6. Aggaññapaññattikathā
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi.
Tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā, yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā, ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti.
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Hoti kho so, āvuso, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko saṁvaṭṭati.
Saṁvaṭṭamāne loke yebhuyyena sattā ābhassarasaṁvattanikā honti.
Te tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Hoti kho so, āvuso, samayo yaṁ kadāci karahaci dīghassa addhuno accayena ayaṁ loko vivaṭṭati.
Vivaṭṭamāne loke suññaṁ brahmavimānaṁ pātubhavati.
Atha kho aññataro satto āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjati.
So tattha hoti manomayo pītibhakkho sayampabho antalikkhacaro subhaṭṭhāyī, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhati.
Tassa tattha ekakassa dīgharattaṁ nivusitattā anabhirati paritassanā uppajjati—
aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyunti.
Atha aññepi sattā āyukkhayā vā puññakkhayā vā ābhassarakāyā cavitvā suññaṁ brahmavimānaṁ upapajjanti tassa sattassa sahabyataṁ.
Tepi tattha honti manomayā pītibhakkhā sayaṁpabhā antalikkhacarā subhaṭṭhāyino, ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭhanti.
Tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṁ upapanno, tassa evaṁ hoti—
ahamasmi brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ, mayā ime sattā nimmitā.
Taṁ kissa hetu?
Mamañhi pubbe etadahosi—
aho vata aññepi sattā itthattaṁ āgaccheyyunti;
iti mama ca manopaṇidhi. Ime ca sattā itthattaṁ āgatāti.
Yepi te sattā pacchā upapannā, tesampi evaṁ hoti—
ayaṁ kho bhavaṁ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ;
iminā mayaṁ bhotā brahmunā nimmitā.
Taṁ kissa hetu?
Imañhi mayaṁ addasāma idha paṭhamaṁ upapannaṁ; mayaṁ panāmha pacchā upapannāti.
Tatrāvuso, yo so satto paṭhamaṁ upapanno, so dīghāyukataro ca hoti vaṇṇavantataro ca mahesakkhataro ca.
Ye pana te sattā pacchā upapannā, te appāyukatarā ca honti dubbaṇṇatarā ca appesakkhatarā ca.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati.
Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati; tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
“yo kho so bhavaṁ brahmā mahābrahmā abhibhū anabhibhūto aññadatthudaso vasavattī issaro kattā nimmātā seṭṭho sajitā vasī pitā bhūtabhabyānaṁ, yena mayaṁ bhotā brahmunā nimmitā. So nicco dhuvo sassato avipariṇāmadhammo sassatisamaṁ tatheva ṭhassati.
Ye pana mayaṁ ahumhā tena bhotā brahmunā nimmitā, te mayaṁ aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā”ti.
Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto issarakuttaṁ brahmakuttaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti.
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi.
Tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā. Yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti,
tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Santāvuso, khiḍḍāpadosikā nāma devā. Te ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. Tesaṁ ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati sammussati, satiyā sammosā te devā tamhā kāyā cavanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati,
itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati,
agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati; tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
“ye kho te bhonto devā na khiḍḍāpadosikā te na ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharanti. Tesaṁ nātivelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati na sammussati, satiyā asammosā te devā tamhā kāyā na cavanti,
niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassanti.
Ye pana mayaṁ ahumhā khiḍḍāpadosikā te mayaṁ ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannā viharimhā, tesaṁ no ativelaṁ hassakhiḍḍāratidhammasamāpannānaṁ viharataṁ sati sammussati, satiyā sammosā evaṁ mayaṁ tamhā kāyā cutā,
aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā”ti.
Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto khiḍḍāpadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti.
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi …pe…
yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti.
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Santāvuso, manopadosikā nāma devā. Te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyanti. Te ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsenti. Te aññamaññaṁ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Te devā tamhā kāyā cavanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati, yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati.
Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ pubbenivāsaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati.
So evamāha:
“ye kho te bhonto devā na manopadosikā te nātivelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyanti. Te nātivelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni nappadūsenti. Te aññamaññaṁ appaduṭṭhacittā akilantakāyā akilantacittā. Te devā tamhā kāyā na cavanti,
niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā sassatisamaṁ tatheva ṭhassanti.
Ye pana mayaṁ ahumhā manopadosikā, te mayaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyimhā. Te mayaṁ ativelaṁ aññamaññaṁ upanijjhāyantā aññamaññamhi cittāni padūsimhā. Te mayaṁ aññamaññaṁ paduṭṭhacittā kilantakāyā kilantacittā. Evaṁ mayaṁ tamhā kāyā cutā,
aniccā addhuvā appāyukā cavanadhammā itthattaṁ āgatā”ti.
Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto manopadosikaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti.
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ, yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi …pe…
yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Santi, bhaggava, eke samaṇabrāhmaṇā adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapenti.
Tyāhaṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadāmi:
‘saccaṁ kira tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te ca me evaṁ puṭṭhā ‘āmo’ti paṭijānanti.
Tyāhaṁ evaṁ vadāmi:
‘kathaṁvihitakaṁ pana tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te mayā puṭṭhā na sampāyanti, asampāyantā mamaññeva paṭipucchanti.
Tesāhaṁ puṭṭho byākaromi:
‘Santāvuso, asaññasattā nāma devā.
Saññuppādā ca pana te devā tamhā kāyā cavanti.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, āvuso, vijjati yaṁ aññataro satto tamhā kāyā cavitvā itthattaṁ āgacchati.
Itthattaṁ āgato samāno agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
Agārasmā anagāriyaṁ pabbajito samāno ātappamanvāya padhānamanvāya anuyogamanvāya appamādamanvāya sammāmanasikāramanvāya tathārūpaṁ cetosamādhiṁ phusati, yathāsamāhite citte taṁ saññuppādaṁ anussarati, tato paraṁ nānussarati’.
So evamāha:
‘adhiccasamuppanno attā ca loko ca.
Taṁ kissa hetu?
Ahañhi pubbe nāhosiṁ, somhi etarahi ahutvā santatāya pariṇato’ti.
‘Evaṁvihitakaṁ no tumhe āyasmanto adhiccasamuppannaṁ ācariyakaṁ aggaññaṁ paññapethā’ti?
Te evamāhaṁsu:
‘evaṁ kho no, āvuso gotama, sutaṁ yathevāyasmā gotamo āhā’ti.
Aggaññañcāhaṁ, bhaggava, pajānāmi tañca pajānāmi, tato ca uttaritaraṁ pajānāmi, tañca pajānaṁ na parāmasāmi, aparāmasato ca me paccattaññeva nibbuti viditā.
Yadabhijānaṁ tathāgato no anayaṁ āpajjati.
Evaṁvādiṁ kho maṁ, bhaggava, evamakkhāyiṁ eke samaṇabrāhmaṇā asatā tucchā musā abhūtena abbhācikkhanti:
‘viparīto samaṇo gotamo bhikkhavo ca.
Samaṇo gotamo evamāha—
yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, sabbaṁ tasmiṁ samaye asubhantveva pajānātī’ti.
Na kho panāhaṁ, bhaggava, evaṁ vadāmi:
‘yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, sabbaṁ tasmiṁ samaye asubhantveva pajānātī’ti.
Evañca khvāhaṁ, bhaggava, vadāmi:
‘yasmiṁ samaye subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharati, subhantveva tasmiṁ samaye pajānātī’”ti.
“Te ca, bhante, viparītā, ye bhagavantaṁ viparītato dahanti bhikkhavo ca.
Evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati. Pahoti me bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ, yathā ahaṁ subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja vihareyyan”ti.
“Dukkaraṁ kho etaṁ, bhaggava, tayā aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharituṁ.
Iṅgha tvaṁ, bhaggava, yo ca te ayaṁ mayi pasādo, tameva tvaṁ sādhukamanurakkhā”ti.
“Sace taṁ, bhante, mayā dukkaraṁ aññadiṭṭhikena aññakhantikena aññarucikena aññatrāyogena aññatrācariyakena subhaṁ vimokkhaṁ upasampajja viharituṁ.
Yo ca me ayaṁ, bhante, bhagavati pasādo, tamevāhaṁ sādhukamanurakkhissāmī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano bhaggavagotto paribbājako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Pāthikasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.