Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời, Thế Tôn trú ngụ tại Upavattana (Hồ-bạt-đan) ở Kusinàrà (Câu-thi-la) trong rừng Sà la của giòng họ Mallà, giữa hai cây Sāla song thọ, khi ngài sắp nhập Niết bàn.
SC 3PTS cs 2~2 Lúc ấy, tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 4—Bạch thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Ràjagahà (Vương Xá) Sāvatthi (Xá-vệ), Sāketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiêu-thưởng-di), Bārānasī (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy. Tại những chỗ ấy có đại chúng Sát đế lỵ, có đại chúng Bà la môn, có đại chúng Gia chủ tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.
SC 5PTS cs 3~3 Này Ānanda, chớ có nói như vậy. Này Ānanda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc. Này Ānanda, thuở xưa có vị vua tên là Mahà-Sudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển Luân vương trị vì như pháp, là vị Pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ānanda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Ðại Thiện Kiến, tên là Kusāvatī (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến mười bảy do tuần. Này Ānanda, kinh đô Susāvatī này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực thẩm phong phú. Này Ānanda, cũng như kinh đô Āḷakamandā của chư Thiên rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Cũng vậy này Ānanda, kinh đô Kusāvatī này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn. Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī này ngày đêm vang dậy mười loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiềng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi!”.
SC 6PTS cs 4~4 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bảy bức thành bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh, một loại bằng san hô, một loại bằng xa cừ, một loại bằng mọi thứ báu.
SC 7PTS cs 5~5 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bốn loại cửa: một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tại mỗi cửa, có dựng bảy cột trụ, bề cao khoảng ba hay bốn lần thân người. Một cột trụ bằng vàng, một cột trụ bằng bạc, một cột trụ bằng lưu ly, một cột trụ bằng thủy tinh, một cột trụ bằng san hô, một cột trụ bằng xa cừ, một cột trụ bằng mọi thứ báu.
SC 8PTS cs 6~6 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bảy hàng cây tāla bao học, một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc, một hàng bằng lưu ly, một hàng bằng thủy tinh, một hàng bằng san hô, một hàng bằng xa cừ, một hàng bằng mọi thứ báu. Cây tāla bằng vàng, có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tāla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tāla bằng lưu ly, có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái cây bằng thủy tinh. Cây tāla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tāla bằng san hô, có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tāla bằng xa cừ, có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tāla bằng mọi loại báu, có thân cây bằng mọi loại báu, có lá và trái cây bằng mọi loại báu. Này Ānanda, khi những cây tāla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê lý khởi lên, cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy, Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ, nếu ở tại kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc, rượu chè, họ sẽ nhảy múa theo những âm điệu của những hàng cây tāla này khi được gió thổi.
SC 9PTS cs 7~7 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, có đủ bảy món báu và bốn Như ý đức. Thế nào là bảy?
SC 10Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, vào ngày Bố-tát trăng rằm sau khi tắm rửa, lên cao điện để trai giới, thời Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe, trục xe, đủ mọi bộ phận. Thấy vậy, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Ta nghe như vầy: Khi một vị vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh vào ngày Bố-tát trăng rằm, sau khi tắm rửa, lên cao điện trai giới, nếu có Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe và trục xe, đầy đủ mọi bộ phận, thời vị vua ấy là Chuyển Luân vương. Như vậy ta có thể là Chuyển Luân vương”.
SC 11PTS cs 8~8 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y trên một vai, tay trái cầm bình nước và với tay phải rưới nước trên xe báu và nói: Này xe báu hãy lăn khắp, này xe báu hãy chinh phục!”. Và này Ānanda, xe báu lăn về hướng Ðông và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Và này Ānanda, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.
SC 12PTS cs 9~9 Này Ānanda, các địch vương ở phương Ðông đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.
SC 13Vua Ðại Thiện Kiến nói rằng: “Không được sát sanh. Không được lấy của không cho. Không được tà dâm. Không được nói láo. Không được uống rượu. Hãy ăn uống cho thích nghi”.
SC 14Này Ānanda, tất cả địch vương ở phương Ðông đều trở thành chư hầu vua Ðại Thiện Kiến.
SC 15PTS cs 10~10 Này Ānanda, rồi xe báu lăn xuống biển lớn ở phương Ðông rồi nổi lên rồi lăn về phương Nam…, lặn xuống biển lớn ở phương Nam, rồi nổi lên và lặn về phương Tây…, lặn xuống biển lớn ở phương Tây, rồi nổi lên và lặn về phương Bắc và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Này Ānanda, chỗ nào xe báu dừng lại chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.
SC 16Này Ānanda, các địch vương ở phương Bắc đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương tất cả thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.
SC 17Này Ānanda, tất cả địch vương ở phương Bắc đều trở thành chư hầu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 18Này Ānanda, xe báu ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô Kusāvatī, và đứng trước pháp đình, trên cửa nội cung như một trang bảo cho nội cung của vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 19Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện xe báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 20PTS cs 12~11 Lại nữa này Ānanda, voi báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, bảy xứ kiên cường, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Uposatha (Bố-tát). Thấy voi báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Lành thay được cỡi con voi này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này Ānanda, như một con hiền tượng quí phái chịu sự điều ngự lâu ngày, con voi báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử voi báu này, sáng sớm cỡi voi đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện voi báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 21PTS cs 13~12 Lại nữa này Ānanda, ngựa báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, đầu đen như quạ, bờm ngựa màu đen, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Valāhaka. Thấy ngựa báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Tốt đẹp thay được cỡi con ngựa này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này Ānanda, như một con hiền mã quý phái, chịu sự điều ngự lâu ngày, con ngựa báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử ngựa báu này, sáng sớm cỡi ngựa, đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện ngựa báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 22PTS cs 14~13 Lại nữa, này Ānanda, châu báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến. Châu báu ấy là lưu ly châu, sáng suốt, thuần chất, có tám mặt, khó dũa, khó mài, thanh tịnh, trong suốt, hoàn hảo mọi phương diện. Này Ānanda, hào quang châu báu này chiếu sáng cùng khắp một do tuần. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử châu báu này đã cho dàn bày bốn binh chủng, đặt bảo châu cao trên quân kỳ và có thể tiến quân trong đêm tối âm u. Này Ānanda, mọi người trong làng ở xung quanh đều bắt đầu làm việc, tưởng rằng trời đã sáng rồi. Này Ānanda như vậy là sự xuất hiện châu báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 23PTS cs 15~14 Này Ānanda, nữ báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt trên dung sắc loài Người, sánh đến dung sắc chư Thiên. Này Ānanda, thân xúc nữ báu này êm mịn như bông, như nhung. Này Ānanda, khi trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thành ấm áp, khi trời nóng, trở thành lạnh mát. Này Ānanda, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi thơm hoa sen. Này Ānanda, nữ báu này dậy trước và đi ngủ sau vua Ðại Thiện Kiến, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành khả ái. Này Ānanda, nữ báu này không có một tư tưởng nào bất tín đối với vua Ðại Thiện Kiến huống nữa là về thân thể. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 24PTS cs 16~15 Lại nữa, này Ānanda, gia chủ báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, chứng được thiên nhãn, do nghiệp dị thục sanh và nhờ thiên nhãn này có thể thấy châu báu chôn cất có chủ hay không có chủ. Gia chủ báu này đến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ xử lý thích nghi tài sản Ðại vương”.
SC 25Này Ānanda, thuở xưa vua Ðại Thiện Kiến muốn thử gia chủ báu này, liền cỡi thuyền, chèo ra giữa sông Hằng và bảo gia chủ báu
SC 26—Này Gia chủ, ta cần vàng.
SC 27- Tâu Ðại vương, Ðại vương hãy cho chèo thuyền gần bờ nào cũng được.
SC 28- Này Gia chủ, Ta cần vàng ngay tại đây.
SC 29Này Ānanda, khi ấy gia chủ báu thọc hai tay xuống nước nhắc lên một ghè đầy cả vàng ròng rồi tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 30—Tâu Ðại vương, như vậy đã đủ chưa. Tâu Ðại vương, làm như vậy đã được chưa?
SC 31Vua Ðại Thiện Kiến trả lời
SC 32—Này Gia chủ, như vậy là đủ. Này Gia chủ, làm như vậy là được rồi. Này Gia chủ, cúng dường như vậy là được rồi.
SC 33Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện gia chủ báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 34PTS cs 17~16 Lại nữa, này Ānanda, tướng quân báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, có học thức, thông minh, sáng suốt, có khả năng khuyến cáo. Vua Ðại Thiện Kiến khi đáng tiến thì tiến, khi đáng lui thì lui, khi đáng dừng thì dừng lại.
SC 35Vị này đến tâu vua Ðại Thiện Kiến
SC 36—Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có âu lo, Thần sẽ cố vấn Ðại vương.
SC 37Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện tướng quân báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 38Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến có đầy đủ bảy báu như vậy.
SC 39PTS cs 18~17 Lại nữa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, có đầy đủ bốn Như ý đức. Thế nào là bốn? Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến đẹp trai, khả ái, cử chỉ thanh lịch, sắc diện tuyệt luân, thấy xa hơn mọi người. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ nhất của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 40PTS cs 19~18 Này Ānanda, lại nữa, vua Ðại Thiện Kiến sống lâu, tuổi thọ thắng xa các người khác. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ hai của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 41PTS cs 20~19 Lại nữa này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến ít bệnh tật, ít tai ương, thể nhiệt không quá lạnh, không quá nóng, được quân phân để điều hòa sự tiêu hóa, thắng xa các người khác. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ ba của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 42PTS cs 21~20 Lại nữa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ānanda, như người cha được các người con ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ānanda, như những người con được người cha ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ānanda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ được vua Ðại Thiện Kiến ái kính và yêu mến. Thuở xưa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến đi đến hoa viên cùng với bốn loại binh chủng. Này Ānanda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu rằng: “Tâu Ðại vương, hãy cho đi chậm chậm để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng lâu dài hơn … ” Này Ānanda, nhưng vua Ðại Thiện Kiến lại ra lệnh cho người đánh xe: “Này anh đánh xe, hãy đánh xe chậm chậm để ta có thể thấy các vị Bà-la-môn và Gia chủ lâu dài hơn”. Này Ānanda, như vậy là Như ý đức thứ tư của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 43PTS cs 22~21 Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay ta hãy cho xây những hồ sen giữa các hàng cây tāla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm!”.
SC 44Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây các hồ sen giữa các hàng cây tāla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm. Này Ānanda, những hồ sen ấy được lát bằng bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Này Ānanda, trong bốn loại hồ sen ấy có bốn loại tầm cấp, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly. Này Ānanda, những hồ sen ấy được hai hàng lan can bao bọc, một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc. Hàng lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Hàng lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 45PTS cs 23~22 Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trong những hồ sen này ta sẽ cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để những ai muốn làm tràng hoa có thể lấy dùng”. Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để làm những tràng hoa bằng các thứ bông ấy.
SC 46Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những người hầu tắm cho những người qua kẻ lại”. Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho đặt những người hầu tắm trên bờ những hồ sen này để tắm cho những người qua kẻ lại.
SC 47Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc và vàng cho những ai cần vàng”. Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, trên bờ những hồ sen ấy, cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc, và vàng cho những ai cần vàng.
SC 48PTS cs 24~23 Này Ānanda, các Gia chủ, Bà-la-môn đem theo nhiều tiền bạc đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu vua
SC 49—Tâu Ðại vương, chúng tôi có đem nhiều tiền của này để Ðại vương dùng. Mong đại vương hãy thâu nhận lấy.
SC 50- Này các Khanh, ta có đầy đủ nhiều tiền bạc do đánh thuế đúng pháp đem lại. Hãy giữ tiền bạc của Khanh lại, và đem theo nhiều nữa cho các Khanh!
SC 51Các vị này khi bị vua từ chối, liền đứng qua một bên và suy nghĩ: “Nếu nay chúng ta đem tiền của này về nhà chúng ta thời thật không phải. Chúng ta hãy xây dựng nhà cửa cho vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 52Các vị ấy liền đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu
SC 53—Ðại vương, chúng tôi định xây dựng nhà cửa cho Ðại vương.
SC 54Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời.
SC 55PTS cs 25~24 Này Ānanda, Thiên chủ Sakka biết được tư tưởng của vua Ðại Thiện Kiến với tư tưởng của mình, liền gọi Thiên tử Vissakamma (Tỳ-thủ-yết-ma) và nói
SC 56—Này Vissakamma, hãy đến đây và xây dựng một lâu đài cho vua Ðại Thiện Kiến, đặt tên là Dhamma (Pháp).
- Xin vâng, Tôn giả.
SC 57Này Ānanda, Thiên tử Vissakamma vâng lời Thiên chủ Sakka, như người lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co, hay co lại cánh tay duỗi ra, Thiên tử Vissakamma biến mất từ chư Thiên ở Tāvatiṁsa và hiện ra trước mặt vua Ðại Thiện Kiến. Rồi này Ānanda, Thiên tử Vissakamma tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 58—Ðại vương, tôi sẽ xây dựng một lâu đài tên là Dhamma cho Ðại vương!
SC 59Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời. Và này Ānanda, Thiên tử Vissakamma xây dựng lâu đài tên là Dhamma cho vua Ðại Thiện Kiến.
SC 60PTS cs 26~25 Này Ānanda, lâu đài Dhamma này, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam, bề rộng đến nửa do-tuần.
SC 61Này Ānanda, nền nhà của lâu đài Dhamma cao cho đến ba thân người và làm bằng ba loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 62Này Ānanda, lâu đài Dhamma có đến tám vạn bốn ngàn cột trụ bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 63Này Ānanda, lâu đài Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly.
SC 64Này Ānanda, lâu đài Dhamma có tám vạn bốn ngàn phòng ốc bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Trong phòng ốc bằng vàng có chỗ nằm bằng bạc được trải ra. Trong phòng ốc bằng bạc, có chỗ nằm bằng vàng được trải ra. Trong phòng ốc bằng lưu ly có chỗ nằm bằng ngà được trải ra. Trong phòng ốc bằng thủy tinh, có chỗ nằm bằng san hô được trải ra. Tại cửa phòng ốc bằng vàng, có dựng lên một cây tāla bằng bạc, với thân cây bằng bạc, với lá và trái cây bằng vàng. Tại cửa phòng ốc bằng bạc, có dựng lên một cây tāla bằng vàng, với thân cây bằng vàng, với lá và trái bằng bạc. Tại cửa phòng ốc bằng lưu ly, có dựng lên một cây tāla bằng thủy tinh, với thân cây bằng thủy tinh, với lá và trái cây bằng lưu ly. Tại cửa phòng ốc bằng thủy tinh, có dựng lên một cây tāla bằng lưu ly, với thân cây bằng lưu ly, với lá và trái cây bằng thủy tinh.
SC 65PTS cs 27~26 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, ta hãy cho dựng lên một rừng cây tāla toàn bằng vàng, và tại đây ta sẽ an tọa ban ngày.
SC 66Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, cho dựng lên một rừng cây tāla toàn bằng vàng và tại đây, vua ngồi an tọa ban ngày.
SC 67PTS cs 28~27 Này Ānanda, lâu đài Dhamma được hai dãy lan can bao bọc, một dãy bằng vàng, một dãy bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 68PTS cs 29~28 Này Ānanda, lâu đài Dhamma có hai màn lưới chuông linh, một màn bằng vàng, một màn bằng bạc. Màn lưới bằng vàng có chuông linh bằng bạc, màn lưới bằng bạc có chuông linh bằng vàng. Này Ānanda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ānanda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ nếu tại kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc, rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những màn lưới chuông linh này khi được gió thổi.
SC 69PTS cs 30~29 Này Ānanda, lâu đài Dhamma khi xây xong, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa (vì quá nguy nga tráng lệ). Này Ānanda, như trong tháng cuối mùa mưa, khi bầu trời quang đảng, không bị mây che lấp, mặt trời mọc lên giữa hư không, khó mà nhìn xem vì hai mắt bị chói lòa. Cũng vậy, này Ānanda, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa khi lâu đài Dhamma xây xong.
SC 70PTS cs 31~30 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước mặt lâu đài Dhamma, ta hãy cho xây hồ sen tên gọi là Dhamma!”.
SC 71Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây một hồ sen tên là Dhamma trước mặt lâu đài Dhamma.
SC 72Này Ānanda, hồ sen Dhamma, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam bề rộng đến nửa do tuần.
SC 73Này Ānanda, hồ sen Dhamma có bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 74Này Ānanda, hồ sen Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ và đầu trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly!
SC 75Này Ānanda, hồ sen Dhamma có hai loại lan can bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 76PTS cs 32~31 Này Ānanda, hồ sen Dhamma có bảy hàng cây tāla bao bọc, một hàng cây bằng vàng, một hàng cây bằng bạc, một hàng cây bằng lưu ly, một hàng cây bằng thủy tinh, một hàng cây bằng san hô, một hàng cây bằng xa cừ, một hàng cây bằng mọi thứ báu. Cây tāla bằng vàng có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tāla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tāla bằng lưu ly có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái cây bằng thủy tinh. Cây tāla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tāla bằng san hô có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tāla bằng xa cừ có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tà la bằng mọi thứ báu có thân cây bằng mọi thứ báu, có lá và trái cây bằng mọi thứ báu. Này Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ nếu ở kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những hàng cây này khi được gió thổi.
SC 77PTS cs 33~32 Này Ānanda, khi lâu đài Dhamma và hồ sen Dhamma được xây xong, lúc bấy giờ vua Ðại Thiện Kiến cúng dường cho các vị Sa-môn được tôn kính và các vị Bà-la-môn được tôn kính mọi sự dục lạc cần thiết rồi vua lên lâu đài Dhamma.
Tụng phẩm II
SC 78PTS cs 1~33 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này của ta do nghiệp gì, báo này của ta là do nghiệp gì mà hiện tại ta có thần lực như vậy, có oai lực như vậy?”.
SC 79Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này là do ba loại nghiệp, báo này là do ba loại nghiệp mà hiện tại ta có thần lực như vậy. Ðó là Bố thí, Tự điều, Tự chế”.
SC 80PTS cs 2~34 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến đi đến cao đường Ðại Trang Nghiêm, đứng trước cửa và nói lớn tiếng cao hứng ngữ sau đây:
SC 81Hãy dừng lại, tư tưởng dục vọng!
Hãy dừng lại, tư tưởng sân hận!
Hãy dừng lại, tư tưởng não hại!
Ðến đây thôi, tư tưởng dục vọng!
Ðến đây thôi, tư tưởng sân hận!
Ðến đây thôi, tư tưởng não hại!
SC 82PTS cs 3~35 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến bước vào cao đường Ðại Trang Nghiêm, ngồi trên sàng tọa bằng vàng, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú trong thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Rồi diệt tầm và tứ, chứng và an trú trong thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú vào thiền thứ ba. Rồi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú vào thiền thứ tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 83PTS cs 4~36 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm, bước vào cao đường bằng vàng, ngồi trên sàng tọa bằng bạc, an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên không hận không sân.
SC 84PTS cs 5~37 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến có tám vạn bốn ngàn kinh thành, và kinh thành Kusāvatī (Câu-xá-bà-đề) là đệ nhất.
SC 85Tám vạn bốn ngàn lâu đài, và lâu đài Dhamma là đệ nhất. Tám vạn bốn ngàn cao đường, và cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất.
SC 86Tám vạn bốn ngàn sàng tọa, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thú trắng của con sơn dương được che bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ.
SC 87Tám vạn bốn ngàn con voi, với những trang sức bằng vàng, được che chở bằng lưới vàng, và tượng vương Uposatha (Bố-tát-đà) là đệ nhất.
SC 88Tám vạn bốn ngàn con ngựa, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới vàng, và mã vương Valāhaka (Vân Mã vương) là đệ nhất.
SC 89Tám vạn bốn ngàn cỗ xe, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vai vàng, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta (Nhạc thanh xa hay Chiến thắng kỳ) là đệ nhất.
SC 90Tám vạn bốn ngàn châu ngọc và bảo châu là đệ nhất.
SC 91Tám vạn bốn ngàn phụ nữ và hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi) là đệ nhất.
SC 92Tám vạn bốn ngàn gia chủ và gia chủ báu là đệ nhất.
SC 93Tám vạn bốn ngàn người giòng Sát-đế-lỵ và tướng quân báu là đệ nhất.
SC 94Tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay (Dukùla), với sừng đầu nhọn bịt đồng.
SC 95Tám vạn bốn ngàn vải Koṭi (Cu-chi) với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung.
SC 96Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa (Thàlipàka), buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm.
SC 97PTS cs 6~38 Lúc bấy giờ, này Ānanda, có tám vạn bốn ngàn voi sáng chiều đến phục vụ cho vua Ðại Thiện Kiến. Rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tám vạn bốn ngàn con voi này sáng chiều đến phục vụ cho ta. Nay ta hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm thời bốn vạn hai ngàn con đến”.
SC 98Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến bảo Tướng quân báu
SC 99—Này Hiền giả, nay tám vạn bốn ngàn con voi này, sáng chiều đến phục vụ ta. Nay hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm, mỗi lần cho bốn vạn hai ngàn con đến.
- Tâu Ðại vương, vâng!
SC 100Này Ānanda, vị tướng quân báu vâng lời vua Ðại Thiện Kiến. Này Ānanda, từ đó về sau, cứ mỗi một trăm năm, bốn vạn hai ngàn con voi lần lượt đến với vua Ðại Thiện Kiến.
SC 101PTS cs 7~39 Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Cách đây đã lâu, ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay ta hãy đi để thăm vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 102Này Ānanda, rồi hoàng hậu Subhaddà nói với các cung nữ
SC 103—Các Ngươi hãy gội đầu, mặc áo vàng. Cách đây đã lâu, chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.
- Tâu Hoàng hậu, vâng!
SC 104- Này Ānanda, các cung nữ vâng lời hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi), gội đầu, mặc áo vàng và đi đến hoàng hậu Subhaddà.
SC 105Này Ānanda, rồi hoàng hậu Subhaddà cho gọi Tướng quân báu
SC 106—Này Khanh, hãy cho sắp đặt bốn loại binh chủng. Cách đây đã lâu chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.
- Tâu Hoàng hậu, vâng!
SC 107Này Ānanda, tướng quân báu vâng lời hoàng hậu Subhaddà, cho sắp đặt bốn loại binh chủng và tâu Hoàng hậu
SC 108—Tâu Hoàng hậu, bốn loại binh chủng đã sắp đặt xong. Hãy làm gì Hoàng hậu nghĩ là phải thời.
SC 109PTS cs 8~40 Này Ānanda, hoàng hậu Subhaddà cùng với bốn loại binh chủng và các cung nữ đi đến lâu đài Dhamma, leo lên lâu đài ấy, đến tại cao đường Ðại Trang Nghiêm và đứng dựa vào cánh cửa của cao đường này.
SC 110Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tiếng gì ồn ào như vậy, như cả một quần chúng đông đảo?” Vua bèn bước ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và thấy hoàng hậu Subhaddà đang đứng dựa vào cửa. Thấy vậy, vua liền nói với hoàng hậu Subhaddà
SC 111—Hoàng hậu hãy đứng ở đây, chớ có vào!
SC 112PTS cs 9~41 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến liền bảo một người hầu cận
SC 113—Ngươi hãy nhắc giường bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sāla bằng vàng.
- Tâu Ðại vương, vâng!
SC 114Này Ānanda, người ấy vâng lời dạy của vua Ðại Thiện Kiến, nhắc sàng tọa bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sāla bằng vàng.
SC 115Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến nằm xuống, trong dáng điệu con sư tử, về phía bên hữu, một chân đặt dài trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác.
SC 116PTS cs 10~42 Này Ānanda, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Các căn của vua Ðại Thiện Kiến thật là sáng suốt, màu da thật là thanh tịnh, trong sáng. Mong rằng vua Ðại Thiện Kiến chớ có mệnh chung!”.
SC 117Rồi hoàng hậu tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 118—Tâu Ðại vương, tám ván bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 119Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 120Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 121Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 122Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 123Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và mã vương Valāhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 124Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vải vàng với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 125Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 126Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 127Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này và tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 128Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 129Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 130Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 131PTS cs 11~43 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến nghe hoàng hậu Subhaddà nói vậy liền trả lời
SC 132—Ðã từ lâu Hoàng hậu nói với ta với những lời dễ chịu, hòa ái và dịu dàng. Thế mà nay, trong lần cuối cùng này, Hoàng hậu lại nói với ta bằng những lời không dễ chịu, không hòa ái, không dịu dàng!
SC 133- Tâu Ðại vương, thiếp phải nói với Ðại vương thế nào?
SC 134- Này Hoàng hậu, Hoàng hậu phải nói với ta như thế này:
SC 135“Tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, chịu sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến. Ðáng trách thay, sự mệnh chung còn ái luyến.
SC 136“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 137“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 138“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 139“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng toạ này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 140“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 141“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này với những trang sức bằng vàng, được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valāhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 142“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 143“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 144“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này là phụ nữ báu đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 145“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người thuộc giòng họ Sát-đế-lỵ này là tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 146“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 147“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 148“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buối sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 149PTS cs 12~44 Này Ānanda, khi nghe nói vậy, hoàng hậu Subhaddà buồn khóc, rơi nước mắt và tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 150—Tâu Ðại vương, tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, thực sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Ðáng trách thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vang và mã vương Valāhaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy tử bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 151“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này và phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 152“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa, vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 153PTS cs 13~45 Này Ānanda, không bao lâu, vua Ðại Thiện Kiến mệnh chung. Này Ānanda, giống như một người gia chủ hay con một người gia chủ, sau một bữa cơm thịnh soạn trở nên buồn ngủ, cũng tương tự như vậy cảm giác của vua Ðại Thiện Kiến khi mệnh chung. Này Ānanda, sau khi mệnh chung, vua Ðại Thiện Kiến sanh lên thiên phú cõi Phạm thiên. Này Ānanda, trải tám vạn bốn ngàn năm, vua Ðại Thiện Kiến sống sung sướng đời sống của một hoàng tử, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một phó vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một vị quốc vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm gia chủ, sống phạm hạnh trong lâu đài Dhamma. Ngài tu tập bốn Thần túc như vậy, sau khi thân hoại mạng chung. Ngài được sanh lên cõi Phạm thiên.
SC 154PTS cs 14~46 Này Ānanda, các ngươi có thể nghĩ: “Thời ấy, vua Ðại Thiện Kiến là một vị khác”. Này Ānanda, chớ có quan niệm như vậy. Thời ấy chính Ta là vua Ðại Thiện Kiến.
SC 155Tám vạn bốn ngàn kinh thành với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 156Tám vạn bốn ngàn lâu đài với lâu đài Dhamma là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 157Tám vạn bốn ngàn cao đường với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 158Tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa ấy đều thuộc của ta.
SC 159Tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi ấy đều thuộc của ta.
SC 160Tám vạn bốn ngàn con ngựa với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valāhaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của ta.
SC 161Tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ta.
SC 162Tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 163Tám vạn bốn ngàn phụ nữ này với phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của ta.
SC 164Tám vạn bốn ngàn gia chủ này với gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 165Tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 166Tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng đều thuộc của Ta.
SC 167Tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ta.
SC 168Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ta.
SC 169PTS cs 15~47 Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn kinh thành ấy, chỉ có một kinh thành mà Ta ở vào thời ấy, đó là kinh thành Kusāvatī.
SC 170Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn lâu đài ấy, chỉ có một lâu đài mà Ta ở thời ấy, đó là lâu đài Dhamma.
SC 171Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn cao đường ấy, chỉ có một cao đường mà Ta ở thời ấy, đó là cao đường Ðại Trang Nghiêm.
SC 172Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy, chỉ có một sàng tọa mà Ta dùng thời ấy, đó là sàng tọa bằng vàng, hay bằng bạc, hay bằng ngà, hay bằng gỗ kiên cố.
SC 173Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn con voi ấy, chỉ có một con voi mà Ta cỡi thời ấy, đó là tượng vương Uposatha.
SC 174Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn con ngựa ấy, chỉ có một con ngựa mà Ta cỡi thời ấy, đó là con mã vương Valāhaka.
SC 175Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn cỗ xe ấy, chỉ có một cỗ xe mà Ta cỡi thời ấy, đó là cỗ xe Vejayanta.
SC 176Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn phụ nữ ấy, chỉ có một phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy, đó là phụ nữ của giòng Sát-đế-lỵ hay giòng Velàmikàni.
SC 177Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn loại vải Koṭi ấy, chỉ có một loại vải sắc chất tế nhị mà Ta mặc thời ấy, đó là vải gai, vải bông, vải lụa hay vai nhung.
SC 178Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa ấy, chỉ có một loại cháo sữa mà Ta dùng thời ấy, đó là cơm và đồ ăn.
SC 179PTS cs 16~48 Này Ānanda, tất cả các pháp hữu vi ấy nay đã vào quá khứ, hoại diệt và biến hóa. Này Ānanda, các pháp hữu vi, vô thường là như vậy, không kiên cố là như vậy, không đáng tin tưởng là như vậy; vì rằng, này Ānanda, tất cả các pháp hữu vi cần phải nhàm chán, cần phải thoát ly, cần phải giải thoát.
SC 180PTS cs 17~49 Này Ānanda, nay Ta nhớ lại, như thế nào tại chỗ này thân Ta đã được chôn tất cả là sáu lần; và khi Ta sống làm một vị Chuyển Luân vương, dùng chánh pháp trị nước, một vị pháp vương, trị vì bốn thiên hạ, vị chinh phục, che chở cho quần chúng, đầy đủ bảy món báu, đó là lần thứ bảy. Này Ānanda, Ta không thấy một địa phương nào, trong thế giới loài Người và chư Thiên, trong thế giới Ma vương hay thế giới Phạm thiên, trong giòng họ Sa-môn hay Bà-la-môn mà trong địa phương ấy, Như Lai sẽ bỏ thân này lần thứ tám.
SC 181Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi thuyết xong, Thiện Thệ, bậc Ðạo Sư nói lại bài kệ như sau:
SC 182Tất cả pháp hữu vi,
Thật sự là vô thường,
Khởi lên rồi diệt mất,
Thường tánh là như vậy.
Chúng được sanh khởi lên,
Rồi chúng lại hoại diệt.
Hạnh phúc thay khi chúng
Ðược tịnh chỉ an lạc.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kusinārāyaṁ viharati upavattane mallānaṁ sālavane antarena yamakasālānaṁ parinibbānasamaye.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“mā, bhante, bhagavā imasmiṁ khuddakanagarake ujjaṅgalanagarake sākhānagarake parinibbāyi.
Santi, bhante, aññāni mahānagarāni.
Seyyathidaṁ—campā, rājagahaṁ, sāvatthi, sāketaṁ, kosambī, bārāṇasī;
ettha bhagavā parinibbāyatu.
Ettha bahū khattiyamahāsālā brāhmaṇamahāsālā gahapatimahāsālā tathāgate abhippasannā, te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti.
“Mā hevaṁ, ānanda, avaca; mā hevaṁ, ānanda, avaca:
‘khuddakanagarakaṁ ujjaṅgalanagarakaṁ sākhānagarakan’ti.
1. Kusāvatīrājadhānī
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano nāma ahosi khattiyo muddhāvasitto cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa ayaṁ kusinārā kusāvatī nāma rājadhānī ahosi.
Puratthimena ca pacchimena ca dvādasayojanāni āyāmena, uttarena ca dakkhiṇena ca sattayojanāni vitthārena.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Seyyathāpi, ānanda, devānaṁ āḷakamandā nāma rājadhānī iddhā ceva hoti phītā ca bahujanā ca ākiṇṇayakkhā ca subhikkhā ca;
evameva kho, ānanda, kusāvatī rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī dasahi saddehi avivittā ahosi divā ceva rattiñca, seyyathidaṁ—
hatthisaddena assasaddena rathasaddena bherisaddena mudiṅgasaddena vīṇāsaddena gītasaddena saṅkhasaddena sammasaddena pāṇitāḷasaddena ‘asnātha pivatha khādathā’ti dasamena saddena.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī sattahi pākārehi parikkhittā ahosi.
Eko pākāro sovaṇṇamayo, eko rūpiyamayo, eko veḷuriyamayo, eko phalikamayo, eko lohitaṅkamayo, eko masāragallamayo, eko sabbaratanamayo.
Kusāvatiyā, ānanda, rājadhāniyā catunnaṁ vaṇṇānaṁ dvārāni ahesuṁ.
Ekaṁ dvāraṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Ekekasmiṁ dvāre satta satta esikā nikhātā ahesuṁ tiporisaṅgā tiporisanikhātā dvādasaporisā ubbedhena.
Ekā esikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī sattahi tālapantīhi parikkhittā ahosi.
Ekā tālapanti sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā.
Sovaṇṇamayassa tālassa sovaṇṇamayo khandho ahosi, rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Rūpiyamayassa tālassa rūpiyamayo khandho ahosi, sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca.
Veḷuriyamayassa tālassa veḷuriyamayo khandho ahosi, phalikamayāni pattāni ca phalāni ca.
Phalikamayassa tālassa phalikamayo khandho ahosi, veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Lohitaṅkamayassa tālassa lohitaṅkamayo khandho ahosi, masāragallamayāni pattāni ca phalāni ca.
Masāragallamayassa tālassa masāragallamayo khandho ahosi, lohitaṅkamayāni pattāni ca phalāni ca.
Sabbaratanamayassa tālassa sabbaratanamayo khandho ahosi, sabbaratanamayāni pattāni ca phalāni ca.
Tāsaṁ kho panānanda, tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca;
evameva kho, ānanda, tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
2. Sattaratanasamannāgata
2.1. Cakkaratana
Rājā, ānanda, mahāsudassano sattahi ratanehi samannāgato ahosi catūhi ca iddhīhi.
Katamehi sattahi?
Idhānanda, rañño mahāsudassanassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa
dibbaṁ cakkaratanaṁ pāturahosi sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ.
Disvā rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘sutaṁ kho pana metaṁ: “yassa rañño khattiyassa muddhāvasittassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa dibbaṁ cakkaratanaṁ pātubhavati sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ, so hoti rājā cakkavattī”ti.
Assaṁ nu kho ahaṁ rājā cakkavattī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vāmena hatthena suvaṇṇabhiṅkāraṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena cakkaratanaṁ abbhukkiri:
‘pavattatu bhavaṁ cakkaratanaṁ, abhivijinātu bhavaṁ cakkaratanan’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ puratthimaṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā mahāsudassano saddhiṁ caturaṅginiyā senāya, yasmiṁ kho panānanda, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā mahāsudassano vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Ye kho panānanda, puratthimāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti.
Rājā mahāsudassano evamāha:
‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ na ādātabbaṁ, kāmesu micchā na caritabbā, musā na bhaṇitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti.
Ye kho panānanda, puratthimāya disāya paṭirājāno, te rañño mahāsudassanassa anuyantā ahesuṁ.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ puratthimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā dakkhiṇaṁ disaṁ pavatti …pe…
dakkhiṇaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā pacchimaṁ disaṁ pavatti …pe…
pacchimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā uttaraṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā mahāsudassano saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Yasmiṁ kho panānanda, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā mahāsudassano vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Ye kho panānanda, uttarāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti.
Rājā mahāsudassano evamāha:
‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ na ādātabbaṁ, kāmesu micchā na caritabbā, musā na bhaṇitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti.
Ye kho panānanda, uttarāya disāya paṭirājāno, te rañño mahāsudassanassa anuyantā ahesuṁ.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ samuddapariyantaṁ pathaviṁ abhivijinitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā rañño mahāsudassanassa antepuradvāre atthakaraṇapamukhe akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsi rañño mahāsudassanassa antepuraṁ upasobhayamānaṁ.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ cakkaratanaṁ pāturahosi.
2.2. Hatthiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa hatthiratanaṁ pāturahosi
sabbaseto sattappatiṭṭho iddhimā vehāsaṅgamo uposatho nāma nāgarājā.
Taṁ disvā rañño mahāsudassanassa cittaṁ pasīdi:
‘bhaddakaṁ vata bho hatthiyānaṁ, sace damathaṁ upeyyā’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, hatthiratanaṁ—seyyathāpi nāma gandhahatthājāniyo dīgharattaṁ suparidanto; evameva damathaṁ upagacchi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva hatthiratanaṁ vīmaṁsamāno pubbaṇhasamayaṁ abhiruhitvā samuddapariyantaṁ pathaviṁ anuyāyitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā pātarāsamakāsi.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ hatthiratanaṁ pāturahosi.
2.3. Assaratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa assaratanaṁ pāturahosi
sabbaseto kāḷasīso muñjakeso iddhimā vehāsaṅgamo valāhako nāma assarājā.
Taṁ disvā rañño mahāsudassanassa cittaṁ pasīdi:
‘bhaddakaṁ vata bho assayānaṁ sace damathaṁ upeyyā’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, assaratanaṁ seyyathāpi nāma bhaddo assājāniyo dīgharattaṁ suparidanto; evameva damathaṁ upagacchi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva assaratanaṁ vīmaṁsamāno pubbaṇhasamayaṁ abhiruhitvā samuddapariyantaṁ pathaviṁ anuyāyitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā pātarāsamakāsi.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ assaratanaṁ pāturahosi.
2.4. Maṇiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa maṇiratanaṁ pāturahosi.
So ahosi maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno.
Tassa kho panānanda, maṇiratanassa ābhā samantā yojanaṁ phuṭā ahosi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva maṇiratanaṁ vīmaṁsamāno caturaṅginiṁ senaṁ sannayhitvā maṇiṁ dhajaggaṁ āropetvā rattandhakāratimisāya pāyāsi.
Ye kho panānanda, samantā gāmā ahesuṁ, te tenobhāsena kammante payojesuṁ divāti maññamānā.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ maṇiratanaṁ pāturahosi.
2.5. Itthiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa itthiratanaṁ pāturahosi
abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā nātidīghā nātirassā nātikisā nātithūlā nātikāḷikā nāccodātā atikkantā mānusivaṇṇaṁ appattā dibbavaṇṇaṁ.
Tassa kho panānanda, itthiratanassa evarūpo kāyasamphasso hoti, seyyathāpi nāma tūlapicuno vā kappāsapicuno vā.
Tassa kho panānanda, itthiratanassa sīte uṇhāni gattāni honti, uṇhe sītāni.
Tassa kho panānanda, itthiratanassa kāyato candanagandho vāyati, mukhato uppalagandho.
Taṁ kho panānanda, itthiratanaṁ rañño mahāsudassanassa pubbuṭṭhāyinī ahosi pacchānipātinī kiṅkārapaṭissāvinī manāpacārinī piyavādinī.
Taṁ kho panānanda, itthiratanaṁ rājānaṁ mahāsudassanaṁ manasāpi no aticari, kuto pana kāyena.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ itthiratanaṁ pāturahosi.
2.6. Gahapatiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa gahapatiratanaṁ pāturahosi.
Tassa kammavipākajaṁ dibbacakkhu pāturahosi yena nidhiṁ passati sassāmikampi assāmikampi.
So rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
‘appossukko tvaṁ, deva, hohi, ahaṁ te dhanena dhanakaraṇīyaṁ karissāmī’ti.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva gahapatiratanaṁ vīmaṁsamāno nāvaṁ abhiruhitvā majjhe gaṅgāya nadiyā sotaṁ ogāhitvā gahapatiratanaṁ etadavoca:
‘attho me, gahapati, hiraññasuvaṇṇenā’ti.
‘Tena hi, mahārāja, ekaṁ tīraṁ nāvā upetū’ti.
‘Idheva me, gahapati, attho hiraññasuvaṇṇenā’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, gahapatiratanaṁ ubhohi hatthehi udakaṁ omasitvā pūraṁ hiraññasuvaṇṇassa kumbhiṁ uddharitvā rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘alamettāvatā, mahārāja, katamettāvatā, mahārāja, pūjitamettāvatā, mahārājā’ti?
Rājā mahāsudassano evamāha:
‘alamettāvatā, gahapati, katamettāvatā, gahapati, pūjitamettāvatā, gahapatī’ti.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ gahapatiratanaṁ pāturahosi.
2.7. Pariṇāyakaratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa pariṇāyakaratanaṁ pāturahosi
paṇḍito viyatto medhāvī paṭibalo rājānaṁ mahāsudassanaṁ upayāpetabbaṁ upayāpetuṁ, apayāpetabbaṁ apayāpetuṁ, ṭhapetabbaṁ ṭhapetuṁ.
So rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
‘appossukko tvaṁ, deva, hohi, ahamanusāsissāmī’ti.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ pariṇāyakaratanaṁ pāturahosi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imehi sattahi ratanehi samannāgato ahosi.
3. Catuiddhisamannāgata
Rājā, ānanda, mahāsudassano catūhi iddhīhi samannāgato ahosi.
Katamāhi catūhi iddhīhi?
Idhānanda, rājā mahāsudassano abhirūpo ahosi dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato ativiya aññehi manussehi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya paṭhamāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano dīghāyuko ahosi ciraṭṭhitiko ativiya aññehi manussehi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya dutiyāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano appābādho ahosi appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya ativiya aññehi manussehi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya tatiyāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano brāhmaṇagahapatikānaṁ piyo ahosi manāpo.
Seyyathāpi, ānanda, pitā puttānaṁ piyo hoti manāpo;
evameva kho, ānanda, rājā mahāsudassano brāhmaṇagahapatikānaṁ piyo ahosi manāpo.
Raññopi, ānanda, mahāsudassanassa brāhmaṇagahapatikā piyā ahesuṁ manāpā.
Seyyathāpi, ānanda, pitu puttā piyā honti manāpā;
evameva kho, ānanda, raññopi mahāsudassanassa brāhmaṇagahapatikā piyā ahesuṁ manāpā.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano caturaṅginiyā senāya uyyānabhūmiṁ niyyāsi.
Atha kho, ānanda, brāhmaṇagahapatikā rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘ataramāno, deva, yāhi, yathā taṁ mayaṁ cirataraṁ passeyyāmā’ti.
Rājāpi, ānanda, mahāsudassano sārathiṁ āmantesi:
‘ataramāno, sārathi, rathaṁ pesehi, yathā ahaṁ brāhmaṇagahapatike cirataraṁ passeyyan’ti.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya catutthiyā iddhiyā samannāgato ahosi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāhi catūhi iddhīhi samannāgato ahosi.
4. Dhammapāsādapokkharaṇī
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsu tālantarikāsu dhanusate dhanusate pokkharaṇiyo māpeyyan’ti.
Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsu tālantarikāsu dhanusate dhanusate pokkharaṇiyo.
Tā kho panānanda, pokkharaṇiyo catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi citā ahesuṁ—
ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
Tāsu kho panānanda, pokkharaṇīsu cattāri cattāri sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ,
ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ ekaṁ rūpiyamayaṁ ekaṁ veḷuriyamayaṁ ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ, phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ, veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Tā kho panānanda, pokkharaṇiyo dvīhi vedikāhi parikkhittā ahesuṁ ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā.
Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsu pokkharaṇīsu evarūpaṁ mālaṁ ropāpeyyaṁ uppalaṁ padumaṁ kumudaṁ puṇḍarīkaṁ sabbotukaṁ sabbajanassa anāvaṭan’ti.
Ropāpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsu pokkharaṇīsu evarūpaṁ mālaṁ uppalaṁ padumaṁ kumudaṁ puṇḍarīkaṁ sabbotukaṁ sabbajanassa anāvaṭaṁ.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre nhāpake purise ṭhapeyyaṁ, ye āgatāgataṁ janaṁ nhāpessantī’ti.
Ṭhapesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre nhāpake purise, ye āgatāgataṁ janaṁ nhāpesuṁ.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre evarūpaṁ dānaṁ paṭṭhapeyyaṁ—
annaṁ annaṭṭhikassa, pānaṁ pānaṭṭhikassa, vatthaṁ vatthaṭṭhikassa, yānaṁ yānaṭṭhikassa, sayanaṁ sayanaṭṭhikassa, itthiṁ itthiṭṭhikassa, hiraññaṁ hiraññaṭṭhikassa, suvaṇṇaṁ suvaṇṇaṭṭhikassā’ti.
Paṭṭhapesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre evarūpaṁ dānaṁ—
annaṁ annaṭṭhikassa, pānaṁ pānaṭṭhikassa, vatthaṁ vatthaṭṭhikassa, yānaṁ yānaṭṭhikassa, sayanaṁ sayanaṭṭhikassa, itthiṁ itthiṭṭhikassa, hiraññaṁ hiraññaṭṭhikassa, suvaṇṇaṁ suvaṇṇaṭṭhikassa.
Atha kho, ānanda, brāhmaṇagahapatikā pahūtaṁ sāpateyyaṁ ādāya rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘idaṁ, deva, pahūtaṁ sāpateyyaṁ devaññeva uddissa ābhataṁ, taṁ devo paṭiggaṇhatū’ti.
‘Alaṁ, bho, mamapidaṁ pahūtaṁ sāpateyyaṁ dhammikena balinā abhisaṅkhataṁ, tañca vo hotu, ito ca bhiyyo harathā’ti.
Te raññā paṭikkhittā ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ:
‘na kho etaṁ amhākaṁ patirūpaṁ, yaṁ mayaṁ imāni sāpateyyāni punadeva sakāni gharāni paṭihareyyāma.
Yannūna mayaṁ rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ māpeyyāmā’ti.
Te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘nivesanaṁ te, deva, māpessāmā’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tuṇhībhāvena.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo rañño mahāsudassanassa cetasā cetoparivitakkamaññāya vissakammaṁ devaputtaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, samma vissakamma, rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ māpehi dhammaṁ nāma pāsādan’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, vissakammo devaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito rañño mahāsudassanassa purato pāturahosi.
Atha kho, ānanda, vissakammo devaputto rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘nivesanaṁ te, deva, māpessāmi dhammaṁ nāma pāsādan’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tuṇhībhāvena.
Māpesi kho, ānanda, vissakammo devaputto rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ dhammaṁ nāma pāsādaṁ.
Dhammo, ānanda, pāsādo puratthimena pacchimena ca yojanaṁ āyāmena ahosi. Uttarena dakkhiṇena ca aḍḍhayojanaṁ vitthārena.
Dhammassa, ānanda, pāsādassa tiporisaṁ uccatarena vatthu citaṁ ahosi catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi—
ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
Dhammassa, ānanda, pāsādassa caturāsītithambhasahassāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
eko thambho sovaṇṇamayo, eko rūpiyamayo, eko veḷuriyamayo, eko phalikamayo.
Dhammo, ānanda, pāsādo catunnaṁ vaṇṇānaṁ phalakehi santhato ahosi—
ekaṁ phalakaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Dhammassa, ānanda, pāsādassa catuvīsati sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhamme, ānanda, pāsāde caturāsītikūṭāgārasahassāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
ekaṁ kūṭāgāraṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamaye kūṭāgāre rūpiyamayo pallaṅko paññatto ahosi, rūpiyamaye kūṭāgāre sovaṇṇamayo pallaṅko paññatto ahosi, veḷuriyamaye kūṭāgāre dantamayo pallaṅko paññatto ahosi, phalikamaye kūṭāgāre sāramayo pallaṅko paññatto ahosi.
Sovaṇṇamayassa kūṭāgārassa dvāre rūpiyamayo tālo ṭhito ahosi, tassa rūpiyamayo khandho sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca.
Rūpiyamayassa kūṭāgārassa dvāre sovaṇṇamayo tālo ṭhito ahosi, tassa sovaṇṇamayo khandho, rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Veḷuriyamayassa kūṭāgārassa dvāre phalikamayo tālo ṭhito ahosi, tassa phalikamayo khandho, veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Phalikamayassa kūṭāgārassa dvāre veḷuriyamayo tālo ṭhito ahosi, tassa veḷuriyamayo khandho, phalikamayāni pattāni ca phalāni ca.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre sabbasovaṇṇamayaṁ tālavanaṁ māpeyyaṁ, yattha divāvihāraṁ nisīdissāmī’ti.
Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre sabbasovaṇṇamayaṁ tālavanaṁ, yattha divāvihāraṁ nisīdi.
Dhammo, ānanda, pāsādo dvīhi vedikāhi parikkhitto ahosi, ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā.
Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhammo, ānanda, pāsādo dvīhi kiṅkiṇikajālehi parikkhitto ahosi—
ekaṁ jālaṁ sovaṇṇamayaṁ ekaṁ rūpiyamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa jālassa rūpiyamayā kiṅkiṇikā ahesuṁ, rūpiyamayassa jālassa sovaṇṇamayā kiṅkiṇikā ahesuṁ.
Tesaṁ kho panānanda, kiṅkiṇikajālānaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti, vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca;
evameva kho, ānanda, tesaṁ kiṅkiṇikajālānaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tesaṁ kiṅkiṇikajālānaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
Niṭṭhito kho panānanda, dhammo pāsādo duddikkho ahosi musati cakkhūni.
Seyyathāpi, ānanda, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nabhaṁ abbhussakkamāno duddikkho hoti musati cakkhūni;
evameva kho, ānanda, dhammo pāsādo duddikkho ahosi musati cakkhūni.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ dhammassa pāsādassa purato dhammaṁ nāma pokkharaṇiṁ māpeyyan’ti.
Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano dhammassa pāsādassa purato dhammaṁ nāma pokkharaṇiṁ.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī puratthimena pacchimena ca yojanaṁ āyāmena ahosi, uttarena dakkhiṇena ca aḍḍhayojanaṁ vitthārena.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi citā ahosi—
ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
Dhammāya, ānanda, pokkharaṇiyā catuvīsati sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī dvīhi vedikāhi parikkhittā ahosi—ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā.
Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī sattahi tālapantīhi parikkhittā ahosi—
ekā tālapanti sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā.
Sovaṇṇamayassa tālassa sovaṇṇamayo khandho ahosi rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Rūpiyamayassa tālassa rūpiyamayo khandho ahosi sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca.
Veḷuriyamayassa tālassa veḷuriyamayo khandho ahosi phalikamayāni pattāni ca phalāni ca.
Phalikamayassa tālassa phalikamayo khandho ahosi veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Lohitaṅkamayassa tālassa lohitaṅkamayo khandho ahosi masāragallamayāni pattāni ca phalāni ca.
Masāragallamayassa tālassa masāragallamayo khandho ahosi lohitaṅkamayāni pattāni ca phalāni ca.
Sabbaratanamayassa tālassa sabbaratanamayo khandho ahosi, sabbaratanamayāni pattāni ca phalāni ca.
Tāsaṁ kho panānanda, tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi, vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca;
evameva kho, ānanda, tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
Niṭṭhite kho panānanda, dhamme pāsāde niṭṭhitāya dhammāya ca pokkharaṇiyā rājā mahāsudassano ‘ye tena samayena samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā’, te sabbakāmehi santappetvā dhammaṁ pāsādaṁ abhiruhi.
Paṭhamabhāṇavāro.
5. Jhānasampatti
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘kissa nu kho me idaṁ kammassa phalaṁ kissa kammassa vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo’ti?
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘tiṇṇaṁ kho me idaṁ kammānaṁ phalaṁ tiṇṇaṁ kammānaṁ vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo, seyyathidaṁ—
dānassa damassa saṁyamassā’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano yena mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre ṭhito udānaṁ udānesi:
‘tiṭṭha, kāmavitakka, tiṭṭha, byāpādavitakka, tiṭṭha, vihiṁsāvitakka.
Ettāvatā, kāmavitakka, ettāvatā, byāpādavitakka, ettāvatā, vihiṁsāvitakkā’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ pavisitvā sovaṇṇamaye pallaṅke nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsi, sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedesi, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhā kūṭāgārā nikkhamitvā sovaṇṇamayaṁ kūṭāgāraṁ pavisitvā rūpiyamaye pallaṅke nisinno
mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi. Tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi. Tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihāsi.
6. Caturāsītinagarasahassādi
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa caturāsīti nagarasahassāni ahesuṁ kusāvatīrājadhānippamukhāni;
caturāsīti pāsādasahassāni ahesuṁ dhammapāsādappamukhāni;
caturāsīti kūṭāgārasahassāni ahesuṁ mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni;
caturāsīti pallaṅkasahassāni ahesuṁ sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni;
caturāsīti nāgasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni;
caturāsīti assasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni;
caturāsīti rathasahassāni ahesuṁ sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni;
caturāsīti maṇisahassāni ahesuṁ maṇiratanappamukhāni;
caturāsīti itthisahassāni ahesuṁ subhaddādevippamukhāni;
caturāsīti gahapatisahassāni ahesuṁ gahapatiratanappamukhāni;
caturāsīti khattiyasahassāni ahesuṁ anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni;
caturāsīti dhenusahassāni ahesuṁ duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni;
caturāsīti vatthakoṭisahassāni ahesuṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ;
rañño, ānanda, mahāsudassanassa caturāsīti thālipākasahassāni ahesuṁ sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyittha.
Tena kho panānanda, samayena rañño mahāsudassanassa caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘imāni kho me caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti, yannūna vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgaccheyyun’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano pariṇāyakaratanaṁ āmantesi:
‘imāni kho me, samma pariṇāyakaratana, caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti, tena hi, samma pariṇāyakaratana, vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgacchantū’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, pariṇāyakaratanaṁ rañño mahāsudassanassa paccassosi.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa aparena samayena vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgamaṁsu.
7. Subhaddādeviupasaṅkamana
Atha kho, ānanda, subhaddāya deviyā bahunnaṁ vassānaṁ bahunnaṁ vassasatānaṁ bahunnaṁ vassasahassānaṁ accayena etadahosi:
‘ciraṁ diṭṭho kho me rājā mahāsudassano. Yannūnāhaṁ rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkameyyan’ti.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī itthāgāraṁ āmantesi:
‘etha tumhe sīsāni nhāyatha pītāni vatthāni pārupatha.
Ciraṁ diṭṭho no rājā mahāsudassano, rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā’ti.
‘Evaṁ, ayye’ti kho, ānanda, itthāgāraṁ subhaddāya deviyā paṭissutvā sīsāni nhāyitvā pītāni vatthāni pārupitvā yena subhaddā devī tenupasaṅkami.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī pariṇāyakaratanaṁ āmantesi:
‘kappehi, samma pariṇāyakaratana, caturaṅginiṁ senaṁ, ciraṁ diṭṭho no rājā mahāsudassano, rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā’ti.
‘Evaṁ, devī’ti kho, ānanda, pariṇāyakaratanaṁ subhaddāya deviyā paṭissutvā caturaṅginiṁ senaṁ kappāpetvā subhaddāya deviyā paṭivedesi:
‘kappitā kho, devi, caturaṅginī senā,
yassadāni kālaṁ maññasī’ti.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī caturaṅginiyā senāya saddhiṁ itthāgārena yena dhammo pāsādo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dhammaṁ pāsādaṁ abhiruhitvā yena mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ tenupasaṅkami.
Upasaṅkamitvā mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvārabāhaṁ ālambitvā aṭṭhāsi.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano saddaṁ sutvā:
‘kiṁ nu kho mahato viya janakāyassa saddo’ti mahāviyūhā kūṭāgārā nikkhamanto addasa subhaddaṁ deviṁ dvārabāhaṁ ālambitvā ṭhitaṁ, disvāna subhaddaṁ deviṁ etadavoca:
‘ettheva, devi, tiṭṭha mā pāvisī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, ambho purisa, mahāviyūhā kūṭāgārā sovaṇṇamayaṁ pallaṅkaṁ nīharitvā sabbasovaṇṇamaye tālavane paññapehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, so puriso rañño mahāsudassanassa paṭissutvā mahāviyūhā kūṭāgārā sovaṇṇamayaṁ pallaṅkaṁ nīharitvā sabbasovaṇṇamaye tālavane paññapesi.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno.
Atha kho, ānanda, subhaddāya deviyā etadahosi:
‘vippasannāni kho rañño mahāsudassanassa indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto, mā heva kho rājā mahāsudassano kālamakāsī’ti rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘Imāni te, deva, caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi, jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni itthiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Ettha, deva, chandaṁ janehi, jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohī’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, rājā mahāsudassano subhaddaṁ deviṁ etadavoca:
‘Dīgharattaṁ kho maṁ tvaṁ, devi, iṭṭhehi kantehi piyehi manāpehi samudācarittha;
atha ca pana maṁ tvaṁ pacchime kāle aniṭṭhehi akantehi appiyehi amanāpehi samudācarasī’ti.
‘Kathaṁ carahi taṁ, deva, samudācarāmī’ti?
‘Evaṁ kho maṁ tvaṁ, devi, samudācara:
“sabbeheva, deva, piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo, mā kho tvaṁ, deva, sāpekkho kālamakāsi, dukkhā sāpekkhassa kālaṅkiriyā, garahitā ca sāpekkhassa kālaṅkiriyā.
Imāni te, deva, caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni subhaddādevippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsī”’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, subhaddā devī parodi assūni pavattesi.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī assūni puñchitvā rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘Sabbeheva, deva, piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo, mā kho tvaṁ, deva, sāpekkho kālamakāsi, dukkhā sāpekkhassa kālaṅkiriyā, garahitā ca sāpekkhassa kālaṅkiriyā.
Imāni te, deva, caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha, jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni itthiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha, jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsī’ti.
8. Brahmalokūpagama
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano na cirasseva kālamakāsi.
Seyyathāpi, ānanda, gahapatissa vā gahapatiputtassa vā manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāvissa bhattasammado hoti; evameva kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa māraṇantikā vedanā ahosi.
Kālaṅkato ca, ānanda, rājā mahāsudassano sugatiṁ brahmalokaṁ upapajji.
Rājā, ānanda, mahāsudassano caturāsīti vassasahassāni kumārakīḷaṁ kīḷi.
Caturāsīti vassasahassāni oparajjaṁ kāresi.
Caturāsīti vassasahassāni rajjaṁ kāresi.
Caturāsīti vassasahassāni gihibhūto dhamme pāsāde brahmacariyaṁ cari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Siyā kho panānanda, evamassa:
‘añño nūna tena samayena rājā mahāsudassano ahosī’ti,
na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ tena samayena rājā mahāsudassano ahosiṁ.
Mama tāni caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni, mama tāni caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni, mama tāni caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni, mama tāni caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni, mama tāni caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni, mama tāni caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni, mama tāni caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni, mama tāni caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti itthisahassāni subhaddādevippamukhāni, mama tāni caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni, mama tāni caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ, mama tāni caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyittha.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsītinagarasahassānaṁ ekaññeva taṁ nagaraṁ hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ kusāvatī rājadhānī.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti pāsādasahassānaṁ ekoyeva so pāsādo hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ dhammo pāsādo.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti kūṭāgārasahassānaṁ ekaññeva taṁ kūṭāgāraṁ hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti pallaṅkasahassānaṁ ekoyeva so pallaṅko hoti, yaṁ tena samayena paribhuñjāmi yadidaṁ sovaṇṇamayo vā rūpiyamayo vā dantamayo vā sāramayo vā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti nāgasahassānaṁ ekoyeva so nāgo hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ uposatho nāgarājā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti assasahassānaṁ ekoyeva so asso hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ valāhako assarājā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti rathasahassānaṁ ekoyeva so ratho hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ vejayantaratho.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti itthisahassānaṁ ekāyeva sā itthī hoti, yā tena samayena paccupaṭṭhāti khattiyānī vā vessinī vā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti vatthakoṭisahassānaṁ ekaṁyeva taṁ dussayugaṁ hoti, yaṁ tena samayena paridahāmi khomasukhumaṁ vā kappāsikasukhumaṁ vā koseyyasukhumaṁ vā kambalasukhumaṁ vā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti thālipākasahassānaṁ ekoyeva so thālipāko hoti, yato nāḷikodanaparamaṁ bhuñjāmi tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Passānanda, sabbete saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā.
Evaṁ aniccā kho, ānanda, saṅkhārā;
evaṁ addhuvā kho, ānanda, saṅkhārā;
evaṁ anassāsikā kho, ānanda, saṅkhārā.
Yāvañcidaṁ, ānanda, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccituṁ.
Chakkhattuṁ kho panāhaṁ, ānanda, abhijānāmi imasmiṁ padese sarīraṁ nikkhipitaṁ, tañca kho rājāva samāno cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato, ayaṁ sattamo sarīranikkhepo.
Na kho panāhaṁ, ānanda, taṁ padesaṁ samanupassāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yattha tathāgato aṭṭhamaṁ sarīraṁ nikkhipeyyā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Aniccā vata saṅkhārā,
uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti,
tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
Mahāsudassanasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Chapter 1
PTS vp Pali 1.1Thus have I heard. The Blessed One was once staying at Kusinārā in the Upavattana, the Sāla grove of the Mallas, between the twin Sāla trees, at the time of his death.
PTS vp Pali 1.2Now the venerable Ānanda went up to the place where the Blessed One was, and bowed down before him, and took his seat respectfully on one side. And when he was so seated, the venerable Ānanda said to the Blessed One:
“Let not the Blessed One die in this little wattle and daub town, in this town in the midst of the jungle, in this branch township. For, Lord, there are other great cities, such as Campā, Rājagaha, Sāvatthī, Sāketa, Kosambī and Benāres. Let the Blessed One die in one of them. There are many wealthy nobles and Brahmans and heads of houses, believers in the Tathāgata, who will pay due honour to the remains of the Tathāgata.”
PTS vp Pali 1.3“Say not so, Ānanda! Say not so, Ānanda, that this is but a small wattle and daub town, a town in the midst of the jungle, a branch township. Long ago, Ānanda, there was a king, by name Mahā-Sudassana, a king of kings, a righteous man who ruled in righteousness, an anointed Kshatriya, Lord of the four quarters of the earth, conqueror, the protector of his people, possessor of the seven royal treasures. This Kusinārā, Ānanda, was the royal city of king Mahā-Sudassana, under the name of Kusāvatī, and on the east and on the west it was twelve leagues in length, and on the north and on the south it was seven leagues in breadth. That royal city Kusāvatī, Ānanda, was mighty, and prosperous, and full of people, crowded with men, and provided with all things for food. Just, Ānanda, as the royal city of the gods, Ālakamandā by name, is mighty, prosperous, and full of people, crowded with the gods, and provided with all kinds of food, so. Ānanda, was the royal city Kusāvatī mighty and prosperous, full of people, crowded with men, and provided with all kinds of food. Both by day and by night, Ānanda, the royal city Kusāvatī resounded with the ten cries; that is to say, the noise of elephants, and the noise of horses, and the noise of chariots; the sounds of the drum, of the tabor, and of the lute; the sound of singing, and the sounds of the cymbal and of the gong; and lastly, with the cry, ‘Eat, drink, and be merry!’
PTS vp Pali 1.4“The royal city Kusāvatī, Ānanda, was surrounded by Seven Ramparts. Of these, one rampart was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal, and one of agate, and one of coral, and one of all kinds of gems!
PTS vp Pali 1.5“To the royal city Kusāvatī, Ānanda, there were Four Gates. One gate was of gold, and one of silver, and one of jade, and one of crystal. At each gate seven pillars were fixed; in height as three times or as four times the height of a man. And one pillar was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal, and one of agate, and one of coral, and one of all kinds of gems.
PTS vp Pali 1.6“The royal city Kusāvatī, Ānanda, was surrounded by Seven Rows of Palm Trees. One row was of palms of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal, and one of agate, and one of coral, and one of all kinds of gems.
PTS vp Pali 1.7“And the Golden Palms had trunks of gold, and leaves and fruits of silver. And the Silver Palms had trunks of silver, and leaves and fruits of gold. And the Palms of Beryl had trunks of beryl, and leaves and fruits of crystal. And the Crystal Palms had trunks of crystal, and leaves and fruits of beryl. And the Agate Palms had trunks of agate, and leaves and fruits of coral. And the Coral Palms had trunks of coral, and leaves and fruits of agate. And the Palms of every kind of Gem had trunks and leaves and fruits of every kind of gem.
PTS vp Pali 1.8“And when those rows of palm trees, Ānanda, were shaken by the wind, there arose a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating. Just, Ānanda, as the seven kind of instruments yield, when well played upon, to the skilful man, a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating—just so, Ānanda, when those rows of palm trees were shaken by the wind, there arose a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating.
PTS vp Pali 1.9“And whoever, Ānanda, in the royal city Kusāvatī were at that time gamblers, drunkards, and given to drink, they used to dance round together to the sound of those palms when shaken by the wind.
PTS vp Pali 1.10“The Great King of Glory, Ānanda, was the possessor of Seven Precious Things, and was gifted with Four Marvellous Powers. What are those seven?
PTS vp Pali 1.11“In the first place, Ānanda, when the Great King of Glory, on the Sabbath day, on the day of the full moon, had purified himself, and had gone up into the upper story of his palace to keep the sacred day, there then appeared to him the heavenly Treasure of the Wheel, with its nave, its tire, and all its thousand spokes complete.
PTS vp Pali 1.12“When he beheld it the Great King of Glory thought: ‘This saying have I heard, “When a king of the warrior race, an anointed king, has purified himself on the Sabbath day, on the day of the full moon, and has gone up into the upper story of his palace to keep the sacred day; if there appear to him the heavenly Treasure of the Wheel, with its nave, its tire, and all its thousand spokes complete-that king becomes a king of kings invincible.” May I, then, become a king of kings invincible.’
PTS vp Pali 1.13“Then, Ānanda, the Great King of Glory rose from his seat, and reverently uncovering from one shoulder his robe, he held in his left hand a pitcher, and with his right hand he sprinkled water up over the Wheel, as he said: ‘Roll onward, O my Lord, the Wheel! O my Lord, go forth and overcome!’
PTS vp Pali 1.14“Then the wondrous Wheel, Ānanda, rolled onwards towards the region of the East, and after it went the Great King of Glory, and with him his army, horses, and chariots, and elephants, and men. And in whatever place, Ānanda, the Wheel stopped, there the Great King of Glory took up his abode, and with him his army, horses, and chariots, and elephants, and men.
PTS vp Pali 1.15“Then, Ānanda, all the rival kings in the region of the East came to the Great King of Glory and said: ‘Come, O mighty king! Welcome, O mighty king! All is thine, O mighty king! Do thou, O mighty king, be a Teacher to us!’
PTS vp Pali 1.16“Thus spake the Great King of Glory: ‘Ye shall slay no living thing. Ye shall not take that which has not been given. Ye shall not act wrongly touching the bodily desires. Ye shall speak no lie. Ye shall drink no maddening drink. Ye shall eat as ye have eaten.’
PTS vp Pali 1.17“Then, Ānanda, all the rival kings in the region of the East became subject unto the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.18“But the wondrous Wheel, Ānanda, having plunged down into the great waters in the East, rose up out again, and rolled onward to the region of the South [and there all happened as had happened in the region of the East. And in like manner the wondrous Wheel rolled onward to the most extreme boundary of the West and of the North; and there, too, all happened as had happened in the region of the East].
PTS vp Pali 1.19“Now when the wondrous Wheel, Ānanda, had gone forth conquering and to conquer o’er the whole earth to its very ocean boundary, it returned back again to the royal city of Kusāvatī and remained fixed on the open terrace in front of the entrance to the inner apartments of the Great King of Glory, as a glorious adornment to the inner apartments of the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.20“Such, Ānanda, was the wondrous Wheel which appeared to the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.21“Now further, Ānanda, there appeared to the Great King of Glory the Elephant Treasure, all white, sevenfold firm, wonderful in power, flying through the sky—the Elephant-King, whose name was ‘The Changes of the Moon.’
PTS vp Pali 1.22“When he beheld it the Great King of Glory was pleased at heart at the thought ‘Auspicious were it to ride upon that Elephant, if only it would submit to be controlled!’
PTS vp Pali 1.23“Then, Ānanda, the wondrous Elephant—like a fine elephant of noble blood long since well trained—submitted to control.
PTS vp Pali 1.24“When as before, Ānanda, the Great King of Glory, to test that wondrous Elephant, mounted on to it early in the morning, it passed over along the broad earth to its very ocean boundary, and then returned again, in time for the morning meal, to the royal city of Kusāvatī.
PTS vp Pali 1.25“Such, Ānanda, was the wondrous Elephant that appeared to the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.26“Now further, Ānanda, there appeared to the Great King of Glory the Horse Treasure, all white with a black head, and a dark mane, wonderful in power, flying through the sky—the Charger-King, whose name was ‘Thunder-cloud.’
PTS vp Pali 1.27“When he beheld it, the Great King of Glory was pleased at heart at the thought: ‘Auspicious were it to ride upon that Horse if only it would submit to be controlled!’
PTS vp Pali 1.28“Then, Ānanda, the wondrous Horse—like a fine horse of the best blood, long since well trained—submitted to control.
PTS vp Pali 1.29“When as before, Ānanda, the Great King of Glory, to test that wondrous Horse, mounted on to it early in the morning, it passed over along the broad earth to its very ocean boundary, and then returned again, in time for the morning meal, to the royal city of Kusāvatī.
PTS vp Pali 1.30“Such, Ānanda, was the wondrous Horse that appeared to the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.31“Now further, Ānanda, there appeared to the Great King of Glory the Gem-Treasure. That Gem was the Veluriya, bright, of the finest species, with eight facets, excellently wrought, clear, transparent, perfect in every way.
PTS vp Pali 1.32“The splendour, Ānanda, of that wondrous Gem spread round about a league on every side.
PTS vp Pali 1.33“When as before, Ānanda, the Great King of Glory, to test that wondrous Gem, set all his fourfold army in array and raised aloft the Gem upon his standard top, he was able to march out in the gloom and darkness of the night.
PTS vp Pali 1.34“And then too, Ānanda, all the dwellers in the villages, round about, set about their daily work, thinking, ‘The daylight hath appeared.’
PTS vp Pali 1.35“Such, Ānanda, was the wondrous Gem that appeared to the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.36“Now further, Ānanda, there appeared to the Great King of Glory the Woman-Treasure, graceful in figure, beautiful in appearance, charming in manner, and of the most fine complexion; neither very tall, nor very short; neither very stout, nor very slim; neither very dark, nor very fair; surpassing human beauty, she had attained unto the beauty of the gods.
PTS vp Pali 1.37“The touch too, Ānanda, of the skin of that wondrous Woman was as the touch of cotton or of cotton wool: in the cold her limbs were warm, in the heat her limbs were cool; while from her body was wafted the perfume of sandal wood and from her mouth the perfume of the lotus.
PTS vp Pali 1.38“That Pearl among Women too, Ānanda, used to rise up before the Great King of Glory, and after him retire to rest; pleasant was she in speech, and ever on the watch to hear what she might do in order so to act as to give him pleasure.
PTS vp Pali 1.39“That Pearl among Women too, Ānanda, was never, even in thought, unfaithful to the Great King of Glory—how much less then could she be so with the body!
PTS vp Pali 1.40“Such, Ānanda, was the Pearl among Women who appeared to the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.41“Now further, Ānanda, there appeared unto the Great King of Glory a Wonderful Treasurer, possessed, through good deeds done in a former birth, of a marvellous power of vision by which he could discover treasure, whether it had an owner or whether it had not.
PTS vp Pali 1.42“He went up to the Great King of Glory, and said: ‘Do thou, O king, take thine case! I will deal with thy wealth even as wealth should be dealt with.’
PTS vp Pali 1.43“Then, as before, Ānanda, the Great King of Glory, to test that wonderful Treasurer, went on board a boat, and had it pushed out into the current in the midst of the river Ganges. Then he said to the wonderful steward: ‘I have need, O Treasurer, of yellow gold!’ ‘Let the ship then, O Great King, go alongside either of the banks.’ ‘It is here, O Treasurer, that I have need of yellow gold.’
PTS vp Pali 1.44“Then the wonderful Treasurer reached down to the water with both his hands, and drew up a jar full of yellow gold, and said to the Great King of Glory—‘Is that enough, O Great King? Have I done enough, O Great King?’ And the Great King of Glory replied: ‘It is enough, O Treasurer. You have done enough, O Treasurer. You have offered me enough, O Treasurer!’
PTS vp Pali 1.45“Such was the wonderful Treasurer, Ānanda, who appeared to the Great King of Glory. Now further, Ānanda, there appeared to the Great King of Glory a Wonderful Adviser, learned, clever, and wise; and qualified to lead the Great King of Glory to undertake what he ought to undertake, and to leave undone what he ought to leave undone.
PTS vp Pali 1.46“He went up to the Great King of Glory, and said: ‘Do thou, O King, take thine ease! I will be thy guide.’
PTS vp Pali 1.47“Such, Ānanda, was the wonderful Adviser who appeared to the Great King of Glory. The Great King of Glory was possessed of these Seven Precious Things.
PTS vp Pali 1.48“Now further, Ānanda, the Great King of Glory was gifted with Four Marvellous Gifts. What are the Four Marvellous Gifts?”
PTS vp Pali 1.49“In the first place, Ānanda, the Great King of Glory was graceful in figure, handsome in appearance, pleasing in manner, and of most beautiful complexion, beyond what other men are. The Great King of Glory, Ānanda, was endowed with this First Marvellous Gift.
PTS vp Pali 1.50“And besides that, Ānanda, the Great King of Glory was of long life, and of many years, beyond those of other men. The Great King of Glory, Ānanda, was endowed with this Second Marvellous Gift.
PTS vp Pali 1.51“And besides that, Ānanda, the Great King of Glory was free from disease, and free from bodily suffering; and his internal fire was neither too hot nor too cold, but such as to promote good digestion, beyond that of other men. The Great King of Glory, Ānanda, was endowed with this Third Marvellous Gift.
PTS vp Pali 1.52“And besides that, Ānanda, the Great King of Glory was beloved and popular with Brahmans and with laymen alike. Just, Ānanda, as a father is near and dear to his own sons, just so, Ānanda, was the Great King of Glory beloved and popular with Brahmans and with laymen alike. And just, Ānanda, as his sons are near and dear to a father, just so, Ānanda, were Brahmans and laymen alike near and dear to the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.53“Once, Ānanda, the Great King of Glory marched out with all his fourfold army to the pleasure ground. There, Ānanda, the Brahmans and laymen went up to the Great King of Glory, and said: “‘O King, pass slowly by, that we may look upon thee for a longer time!’
PTS vp Pali 1.54“But the Great King of Glory, Ānanda, addressed his charioteer, and said: ‘Drive on the chariot slowly, charioteer, that I may look upon my people (Brahmans and laymen) for a longer time!’
PTS vp Pali 1.55“This was the Fourth Marvellous Gift, Ānanda, with which the Great King of Glory was endowed.
PTS vp Pali 1.56“These are the Four Marvellous Gifts, Ānanda, with which the Great King of Glory was endowed.
PTS vp Pali 1.57“Now to the Great King of Glory, Ānanda, there occurred the thought: ‘Suppose, now, I were to make Lotus-ponds in the spaces between these palms, at every hundred bow lengths.’ Then, Ānanda, the Great King of Glory, in the spaces between those palms, at distances of a hundred bow lengths, made Lotus-ponds.
PTS vp Pali 1.58“And those Lotus-ponds, Ānanda, were faced with tiles of four kinds. One kind of tile was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal.
PTS vp Pali 1.59“And to each of those Lotus-ponds, Ānanda, there were four flights of steps, of four different kinds. One flight of steps was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal. The flight of golden steps had balustrades of gold, with the cross bars and the figure head of silver. The flight of silver steps had balustrades of silver, with the cross bars and the figure head of gold. The flight of beryl steps had balustrades of beryl, with the cross bars and the figure head of crystal. The flight of crystal steps had balustrades of crystal, with cross bars and figure head of beryl.
PTS vp Pali 1.60“And round those Lotus-ponds there ran, Ānanda, a double railing. One railing was of gold, and one was of silver. The golden railing had its posts of gold, and its cross bars and its capitals of silver. The silver railing had its posts of silver, and its cross bars and its capitals of gold.
PTS vp Pali 1.61“Now, to the Great King of Glory, Ānanda, there occurred the thought: ‘Suppose, now, I were to have flowers of every season planted in those Lotus-ponds for the use of all the people-to wit, blue water lilies and blue lotuses, white lotuses and white water lilies.’ Then, Ānanda, the Great King of Glory had flowers of every season planted in those Lotus-ponds for the use of all the people-to wit, blue water lilies and blue lotuses, white lotuses and white water lilies.
PTS vp Pali 1.62“Now, to the Great King of Glory, Ānanda, occurred the thought: ‘Suppose, now, I were to place bathing-men on the banks of those Lotus-ponds, to bathe such of the people as come there from time to time.’ Then, Ānanda, the Great King of Glory placed bathing-men on the banks of those Lotus-ponds, to bathe such of the people as come there from time to time.
PTS vp Pali 1.63“Now, to the Great King of Glory, Ānanda, occurred the thought: ‘Suppose, now, I were to establish a perpetual grant by the banks of those Lotus-ponds—to wit, food for the hungry, drink for the thirsty, raiment for the naked, means of conveyance for those who have need of it, couches for the tired, wives for those who want wives, gold for the poor, and money for those who are in want.’ Then, Ānanda, the Great King of Glory established a perpetual grant by the banks of those Lotus-ponds—to wit, food for the hungry, drink for the thirsty, raiment for the naked, means of conveyance for those who needed it, couches for the tired, wives for those who wanted wives, gold for the poor, and money for those who were in want.
PTS vp Pali 1.64“Now, Ānanda, the people (Brahmans and laymen) went to the Great King of Glory, taking with them much wealth. And they said: ‘This abundant wealth, O King, have we brought here for the use of the King of Kings. Let the King accept it of us!’ ‘I have enough wealth, my friends, laid up for myself, the produce of righteous taxation. Do you keep this, and take away more with you!’
PTS vp Pali 1.65“When those men were thus refused by the King they went aside and considered together, saying: ‘It would not beseem us now, were we to take back this wealth to our own houses. Suppose, now, we were to build a mansion for the Great King of Glory.’
PTS vp Pali 1.66“Then they went to the Great King of Glory, and said: ‘A mansion would we build for thee, O King!"”
"Then, Ānanda, the Great King of Glory signified, by silence, his consent.
PTS vp Pali 1.67“Then Sakka, ruler of the gods, knowing in his mind the heart of the Great King of Glory, he addressed Vissakamma the god, and said: ‘Come now, Vissakamma, create me a mansion for the Great King of Glory—a palace which shall be called “Righteousness.”’
PTS vp Pali 1.68“‘Even so, Lord!’ said Vissakamma, in assent, Ānanda, to Sakka, the king of the gods. And as instantaneously as a strong man might stretch forth his folded arm, or draw in his arm again when it was stretched forth, so quickly did he vanish from the heaven of the Great Thirty-Three, and appeared before the Great King of Glory.
PTS vp Pali 1.69“Then, Ānanda, Vissakamma the god said to the Great King of Glory: ‘I would create for thee, O King, a mansion—a palace which shall be called “Righteousness!”’ Then, Ānanda, the Great King of Glory signified, by silence, his consent.
PTS vp Pali 1.70“So Vissakamma the god, Ānanda, created for the Great King of Glory a mansion—a palace to be called ‘Righteousness.’
PTS vp Pali 1.71“The Palace of Righteousness, Ānanda, was on the east and on the west a league in length, and on the north and on the south half a league in breadth.
PTS vp Pali 1.72“The ground-floor, Ānanda, of the Palace of Righteousness, in height as three times the height to which a man can reach, was built of bricks, of four kinds. One kind of brick was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal.
PTS vp Pali 1.73“To the Palace of Righteousness, Ānanda, there were eighty-four thousand pillars of four kinds. One kind of pillar was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal.
PTS vp Pali 1.74“The Palace of Righteousness, Ānanda, was fitted up with seats of four kinds. One kind of seat was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal.
PTS vp Pali 1.75“In the Palace of Righteousness, Ānanda, there were twenty-four staircases of four kinds. One staircase was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal. The staircase of gold had balustrades of gold, with the cross bars and the figure-head of silver. The staircase of silver had balustrades of silver, with the cross bars and the figure-head of gold. The staircase of beryl had balustrades of beryl, with the cross bars and the figure-head of crystal. The staircase of crystal had balustrades of crystal, with cross bars and figure-head of beryl.
PTS vp Pali 1.76“In the Palace of Righteousness, Ānanda, there were eighty-four thousand chambers of four kinds. One kind of chamber was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal.
“In the golden chamber a silver couch was spread; in the silver chamber a golden couch; in the beryl chamber a couch of ivory; and in the crystal chamber a couch of coral.
“At the door of the golden chamber there stood a palm tree of silver; and its trunk was of silver, and its leaves and fruits of gold.
“At the door of the silver chamber there stood a palm tree of gold; and its trunk was of gold, and its leaves and fruits of silver.
“At the door of the beryl chamber there stood a palm tree of crystal; and its trunk was of crystal, and its leaves and fruits of beryl.
“At the door of the crystal chamber there stood a palm tree of beryl; and its trunk was of beryl, and its leaves and fruits of crystal.
PTS vp Pali 1.77“Now there occurred, Ānanda, to the Great King of Glory this thought: ‘Suppose, now, I were to make a grove of palm trees, all of gold, at the entrance to the chamber of the Great Complex, under the shade of which I may pass the heat of the day.’
“Then, Ānanda, the Great King of Glory made a grove of palm trees, all of gold, at the entrance to the chamber of the Great Complex, under the shade of which he might pass the heat of the day.
PTS vp Pali 1.78“The Palace of Righteousness, Ānanda, was surrounded by a double railing. One railing was of gold, and one was of silver. The golden railing had its posts of gold, and its cross bars and its figure head of silver. The silver railing had its posts of silver, and its cross bars and its figure head of gold.
PTS vp Pali 1.79“The Palace of Righteousness, Ānanda, was hung round with two networks of bells. One network of bells was of gold, and one was of silver.
PTS vp Pali 1.80“And when those networks of bells, Ānanda, were shaken by the wind there arose a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating. Just, Ānanda, as the seven kind of instruments yield, when well played upon, to the skilful man, a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating—just even so, Ānanda, when those networks of bells were shaken by the wind, there arose a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating.
PTS vp Pali 1.81“And whoever, Ānanda, in the royal city Kusāvatī were at that time gamblers, drunkards, and given to drink, they used to dance round together to the sound of those networks of bells when shaken by the wind.
PTS vp Pali 1.82“When the Palace of Righteousness, Ānanda, was finished it was hard to look at, destructive to the eyes. Just, Ānanda, as in the last month of the rains in the autumn time, when the sky has become clear and the clouds have vanished away, the sun, springing up along the heavens, is hard to look at, and destructive to the eyes—just so, Ānanda, when the Palace of Righteousness was finished was it hard to look at, and destructive to the eyes.
PTS vp Pali 1.83“Now there occurred, Ānanda, to the Great King of Glory this thought: ‘Suppose, now, in front of the Palace of Righteousness, I were to make a Lotus-lake to bear the name of “Righteousness.”’
PTS vp Pali 1.84“Then, Ānanda, the Great King of Glory made a Lotus-lake to bear the name of ‘Righteousness.’
PTS vp Pali 1.85“The Lake of Righteousness, Ānanda, was on the east and on the west a league in length, and on the north and on the south half a league in breadth. The Lake of Righteousness, Ānanda, was faced with tiles of four kinds. One kind of tile was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal.
PTS vp Pali 1.86“The Lake of Righteousness, Ānanda, had four and twenty flights of steps, of four different kinds. One flight of steps was of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal. The flight of golden steps had balustrades of gold, with the cross bars and the figure-head of silver. The flight of silver steps had balustrades of silver, with the cross bars and the figure-head of gold. The flight of beryl steps had balustrades of beryl, with the cross bars and the figure-head of crystal. The flight of crystal steps had balustrades of crystal, with cross bars and figure-head of beryl.
PTS vp Pali 1.87“Round the Lake of Righteousness, Ānanda, there ran a double railing. One railing was of gold, and one was of silver. The golden railing had its posts of gold, and its cross bars and its capitals of silver. The silver railing had its posts of silver, and its cross bars and its capitals of gold.
PTS vp Pali 1.88“The Lake of Righteousness, Ānanda, was surrounded by seven rows of palm trees. One row was of palms of gold, and one of silver, and one of beryl, and one of crystal, and one of agate, and one of coral, and one of all kinds of gems.
PTS vp Pali 1.89“And the golden palms had trunks of gold, and leaves and fruits of silver. And the silver palms had trunks of silver, and leaves and fruits of gold. And the palms of beryl had trunks of beryl, and leaves and fruits of crystal. And the crystal palms had trunks of crystal, and leaves and fruits of beryl. And the agate palms had trunks of agate, and leaves and fruits of coral. And the coral palms had trunks of coral, and leaves and fruits of agate. And the palms of every kind of gem had trunks and leaves and fruits of every kind of gem.
PTS vp Pali 1.90“And when those rows of palm trees, Ānanda, were shaken by the wind, there arose a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating.
“Just, Ānanda, as the seven kind of instruments yield, when well played upon, to the skilful man, a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating—just so, Ānanda, when those rows of palm trees were shaken by the wind, there arose a sound sweet, and pleasant, and charming, and intoxicating.
PTS vp Pali 1.91“And whoever, Ānanda, in the royal city Kusāvatī were at that time gamblers, drunkards, and given to drink, they used to dance round together to the sound of those palms when shaken by the wind.
PTS vp Pali 1.92“When the Palace of Righteousness, Ānanda, was finished, and the Lotus-lake of Righteousness was finished, the Great King of Glory entertained with all good things those of the Samaṇas who, at that time, were held in high esteem, and those of the Brahmans who, at that time, were held in high esteem. Then he ascended up into the Palace of Righteousness.”
Chapter 2
PTS vp Pali 2.1“Now there occurred, Ānanda, this thought to the Great King of Glory: ‘Of what previous character, now, may this be the fruit, of what previous character the result, that I am now so mighty and so great?’
PTS vp Pali 2.2“And then occurred, Ānanda, to the Great King of Glory this thought: ‘Of three qualities is this the fruit, of three qualities the result, that I am now so mighty and so great—that is to say, of giving, of self-conquest, and of self-control.’
PTS vp Pali 2.3“Now the Great King of Glory, Ānanda, ascended up into the chamber of the Great Complex; and when he had come there he stood at the door, and there he broke out into a cry of intense emotion:
“‘Stay here, O thoughts of lust! Stay here, O thoughts of ill-will! Stay here, O thoughts of hatred! Thus far only, O thoughts of lust! Thus far only, O thoughts of ill-will! Thus far only, O thoughts of hatred!’
PTS vp Pali 2.4“And when, Ānanda, the Great King of Glory had entered the chamber of the Great Complex, and had seated himself upon the couch of gold, having put away all passion and all unrighteousness, he entered into, and remained in, the First Jhāna—a state of joy and ease, born of seclusion, full of reflection, full of investigation.
PTS vp Pali 2.5“By suppressing reflection and investigation, he entered into, and remained in, the Second Jhāna—a state of joy and ease, born of serenity, without reflection, without investigation, a state of elevation of mind, of internal calm.
PTS vp Pali 2.6“By absence of the longing after joy, he remained indifferent, conscious, self-possessed, experiencing in his body that ease which the noble ones announce, saying, ‘The man indifferent and self-possessed is well at ease,’ and thus he entered into, and remained in, the Third Jhāna.
PTS vp Pali 2.7“By putting away ease, by putting away pain, by the previous dying away both of gladness and of sorrow, he entered into, and remained in, the Fourth Jhāna—a state of purified self-possession and equanimity, without ease, and without pain.
PTS vp Pali 2.8“Then, Ānanda, the Great King of Glory went out from the chamber of the Great Complex, and entered the golden chamber and sat himself down on the silver couch. And he let his mind pervade one quarter of the world with thoughts of Love; and so the second quarter, and so the third, and so the fourth. And thus the whole wide world, above, below, around, and everywhere, did he continue to pervade with heart of Love, far-reaching, grown great, and beyond measure, free from the least trace of anger or ill-will.
PTS vp Pali 2.9“And he let his mind pervade one quarter of the world with thoughts of Pity; and so the second quarter, and so the third, and so the fourth. And thus the whole wide world, above, below, around, and everywhere, did he continue to pervade with heart of Pity, far-reaching, grown great, and beyond measure, free from the least trace of anger or ill-will.
PTS vp Pali 2.10“And he let his mind pervade one quarter of the world with thoughts of Sympathy; and so the second quarter, and so the third, and so the fourth. And thus the whole wide world, above, below, around, and everywhere, did he continue to pervade with heart of Sympathy, far-reaching, grown great, and beyond measure, free from the least trace of anger or ill-will.
PTS vp Pali 2.11“And he let his mind pervade one quarter of the world with thoughts of Equanimity; and so the second quarter, and so the third, and so the fourth. And thus the whole wide world, above, below, around, and everywhere, did he continue to pervade with heart of Equanimity, far-reaching, grown great, and beyond measure, free from the least trace of anger or ill-will.
PTS vp Pali 2.12“The Great King of Glory, Ānanda, had four and eighty thousand cities, the chief of which was the royal city of Kusāvatī:
“Four and eighty thousand palaces, the chief of which was the Palace of Righteousness:
“Four and eighty thousand chambers, the chief of which was the chamber of the Great Complex:
“Four and eighty thousand divans, of gold, and silver, and ivory, and sandal wood, spread with long-haired rugs, and cloths embroidered with flowers, and magnificent antelope skins; covered with lofty canopies; and provided at both ends with purple cushions:
“Four and eighty thousand state elephants, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which the king of elephants, called ‘the Changes of the Moon,’ was chief:
“Four and eighty thousand state horses, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which ‘Thunder-cloud,’ the king of horses, was the chief:
“Four and eighty thousand chariots, with coverings of the skins of lions, and of tigers, and of panthers—of which the chariot called ‘the Flag of Victory’ was the chief:
“Four and eighty thousand gems, of which the Wondrous Gem was the chief:
“Four and eighty thousand wives, of whom the Queen of Glory was the chief:
“Four and eighty thousand yeomen, of whom the Wonderful Steward was the chief:
“Four and eighty thousand nobles, of whom the Wonderful Adviser was the chief:
“Four and eighty thousand cows, with jute trappings, and horns tipped with bronze:
“Four and eighty thousand myriads of garments, of delicate textures, of flax, and cotton, and silk, and wool:
“Four and eighty thousand dishes, in which, in the evening and in the morning, rice was served.
PTS vp Pali 2.13“Now at that time, Ānanda, the four and eighty thousand state elephants used to come every evening and every morning to be of service to the Great King of Glory.
PTS vp Pali 2.14“And this thought occurred to the Great King of Glory: ‘These eighty thousand elephants come every evening and every morning to be of service to me. Now, let the elephants come, O my friend, the Great Adviser, in alternate forty thousands, once each, every alternate hundred years!’
PTS vp Pali 2.15“Then, Ānanda, the Great King of Glory said to the Great Adviser: ‘O, my friend, the Great Adviser! These eighty thousand elephants come every evening and every morning to be of service to me. Now, let the elephants come, O my friend, the Great Adviser, in alternate forty thousands, once each, every alternate hundred years!’ ‘Even so, Lord!’ said the Wonderful Adviser, in assent, to the Great King of Glory.’
PTS vp Pali 2.16“From that time forth, Ānanda, the elephants came in alternate forty thousands, once each, every alternate hundred years.
PTS vp Pali 2.17“Now, Ānanda, after the lapse of many years, of many hundred years, of many thousand years, there occurred to the Queen of Glory this thought:
“’Tis long since I have beheld the Great King of Glory. Suppose, now, I were to go and visit the Great King of Glory.’
PTS vp Pali 2.18“Then, Ānanda, the Queen of Glory said to the women of the harem: ‘Arise now, dress your hair, and clad yourselves in fresh raiment. Tis long since we have beheld the Great King of Glory. Let us go and visit the Great King of Glory!’
PTS vp Pali 2.19“‘Even so, Lady!’ said the women of the harem, Ānanda, in assent, to the Queen of Glory. And they dressed their hair, and clad themselves in fresh raiment, and came near to the Queen of Glory.
PTS vp Pali 2.20“Then, Ānanda, the Queen of Glory said to the Great Adviser: ‘Arrange, O Great Adviser, the fourfold army in array. ’Tis long since I have beheld the Great King of Glory. I am about to go to visit the Great King of Glory.’
PTS vp Pali 2.21“‘Even so, O Queen!’ said the Great Adviser, Ānanda, in assent, to the Queen of Glory. And he set the fourfold army in array, and had the fact announced to the Queen of Glory in the words:
“‘The fourfold army, O Queen, is set for thee in array. Do now whatever seemeth to thee fit.’
PTS vp Pali 2.22“Then, Ānanda, the Queen of Glory, with the fourfold army, repaired, with the women of the harem, to the Palace of Righteousness. And when she had arrived there she mounted up into the Palace of Righteousness, and went on to the chamber of the Great Complex. And when she had reached it, she stopped and leant against the side of the door.
PTS vp Pali 2.23“When, Ānanda, the Great King of Glory heard the noise he thought: ‘What, now, may this noise, as of a great multitude of people, mean?’
PTS vp Pali 2.24“And going out from the chamber of the Great Complex, he beheld the Queen of Glory standing leaning up against the side of the door. And when he beheld her, he said to the Queen of Glory: ‘Stop there, O Queen! Enter not!’
PTS vp Pali 2.25“Then the Great King of Glory, Ānanda, said to one of his attendants: ‘Arise, good man! Take the golden couch out of the chamber of the Great Complex, and make it ready under that grove of palm trees which is all of gold.’
PTS vp Pali 2.26“‘Even so, Lord!’ said the man, in assent, to the Great King of Glory. And he took the golden couch out of the chamber of the Great Complex, and made it ready under that grove of palm trees which was all of gold.
PTS vp Pali 2.27“Then, Ānanda, the Great King of Glory laid himself down in the dignified way a lion does; and lay with one leg resting on the other, calm and self-possessed.
PTS vp Pali 2.28“Then, Ānanda, there occurred to the Queen of Glory this thought:
“‘How calm are all the limbs of the Great King of Glory! How clear and bright is his appearance! O may it not be that the Great King of Glory is dead!’
PTS vp Pali 2.29“And she said to the Great King of Glory:
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand cities, the chief of which is the royal city of Kusāvatī. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand palaces, the chief of which is the Palace of Righteousness. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand chambers, the chief of which is the chamber of the Great Complex. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand divans, of gold, and silver, and ivory, and sandal wood, spread with long-haired rugs, and cloths embroidered with flowers, and magnificent antelope skins; covered with lofty canopies; and provided at both ends with purple cushions. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand state elephants, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network,-of which the king of elephants, called “the Changes of the Moon,” is chief. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand state horses, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network, of which “Thunder-cloud,” the king of horses, is the chief. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand chariots, with coverings of the skins of lions, and of tigers, and of panthers,-of which the chariot called “the Flag of Victory” is the chief. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand gems, of which the Wondrous Gem is the chief. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand wives, of whom the Queen of Glory is the chief. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand yeomen, of whom the Wonderful Steward is the chief. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand nobles, of whom the Wonderful Adviser is the chief Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand cows, with jute trappings, and horns tipped with bronze. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand myriads of garments, of delicate textures, of flax, and cotton, and silk, and wool. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!
“‘Thine, O King, are those four and eighty thousand dishes, in which, in the evening and in the morning, rice is served. Arise, O King, re-awaken thy desire for these! Quicken thy longing after life!’
PTS vp Pali 2.30“When she had thus spoken, Ānanda, the Great King of Glory said to the Queen of Glory:
“‘Long hast thou addressed me, O Queen, in pleasant words, much to be desired, and sweet. Yet now in this last time you speak in words unpleasant, disagreeable, not to be desired.’
PTS vp Pali 2.31“‘How then, O King, shall I address thee?’
“‘Thus, O Queen, shouldst thou address me—The nature of all things near and dear to us, O King, is such that we must leave them, divide ourselves from them, separate ourselves from them. Pass not away, O King, with longing in thy heart. Sad is the death of him who longs, unworthy is the death of him who longs. Thine, O King, are these four and eighty thousand cities, the chief of which is the royal city of Kusāvatī. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand palaces, the chief of which is the Palace of Righteousness. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand chambers, the chief of which is the chamber of the Great Complex. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand divans, of gold, and silver, and ivory, and sandal wood, spread with long-haired rugs, and cloths embroidered with flowers, and magnificent antelope skins; covered with lofty canopies; and provided at both ends with purple cushions. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand state elephants, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which the king of elephants, called “the Changes of the Moon,” is chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand state horses, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which “Thunder-cloud,” the king of horses, is the chief Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand chariots, with coverings of the skins of lions, and of tigers, and of panthers—of which the chariot called “the Flag of Victory” is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand gems, of which the Wondrous Gem is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand wives, of whom the Queen of Glory is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand yeomen, of whom the Wonderful Steward is the chief Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand nobles, of whom the Wonderful Adviser is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and. eighty thousand cows, with jute trappings, and horns tipped with bronze. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand myriads of garments, of delicate textures, of flax, and cotton, and silk, and wool. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand dishes, in which, in the evening and in the morning, rice is served. Cast away desire for these! Long not after life!’
PTS vp Pali 2.32“When he thus spake, Ānanda, the Queen of Glory wept and poured forth tears.
PTS vp Pali 2.33“Then, Ānanda, the Queen of Glory wiped away her tears, and addressed the Great King of Glory, and said:
“‘The nature of all things near and dear to us, O King, is such that we must leave them, divide ourselves from them, separate ourselves from them. Pass not away, O King, with longing in thy heart. Sad is the death of him who longs, unworthy is the death of him who longs. Thine, O King, are these four and eighty thousand cities, the chief of which is the royal city of Kusāvatī. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand palaces, the chief of which is the Palace of Righteousness. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand chambers, the chief of which is the chamber of the Great Complex. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand divans, of gold, and silver, and ivory, and sandal wood, spread with long-haired rugs, and cloths embroidered with flowers, and magnificent antelope skins; covered with lofty canopies; and provided at both ends with purple cushions. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand state elephants, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which the king of elephants, called “the Changes of the Moon,” is chief Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand state horses, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which “Thunder-cloud,” the king of horses, is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand chariots, with coverings of the skins of lions, and of tigers, and of panthers—of which the chariot called “the Flag of Victory” is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand gems, of which the Wondrous Gem is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand wives, of whom the Queen of Glory is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand yeomen, of whom the Wonderful Steward is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand nobles, of whom the Wonderful Adviser is the chief. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand cows, with jute trappings, and horns tipped with bronze. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand myriads of garments, of delicate textures, of flax, and cotton, and silk, and wool. Cast away desire for these! Long not after life!
“‘Thine, O King, are these four and eighty thousand dishes, in which, in the evening and in the morning, rice is served. Cast away desire for these! Long not after life!
PTS vp Pali 2.34“Then immediately, Ānanda, the Great King of Glory died. Just, Ānanda, as when a yeoman has eaten a hearty meal he becomes all drowsy, just so were the feelings he experienced, Ānanda, as death came upon the Great King of Glory.
PTS vp Pali 2.35“When the Great King of Glory, Ānanda, had died, he came to life again in the happy world of Brahmā.
PTS vp Pali 2.36“For eight and forty thousand years, Ānanda, the Great King of Glory lived the happy life of a prince; for eight and forty thousand years he was viceroy and heir-apparent; for eight and forty thousand years he ruled the kingdom; and for eight and forty thousand years he lived, as a layman, the noble life in the Palace of Righteousness. And then, when full of noble thoughts, he died; he entered, after the dissolution of the body, the noble world of Brahma.
PTS vp Pali 2.37“Now it may be, Ānanda, that you may think ‘The Great King of Glory of that time was another person.’ But, Ānanda, you should not view the matter thus. I at that time was the Great King of Glory.
“Mine at that time were the four and eighty thousand cities, of which the chief was the royal city of Kusāvatī.
“Mine were the four and eighty thousand palaces, of which the chief was the Palace of Righteousness.
“Mine were the four and eighty thousand chambers, of which the chief was the chamber of the Great Complex.
“Mine were the four and eighty thousand divans, of gold, and silver, and ivory, and sandal wood, spread with long-haired rugs, and cloths embroidered with flowers, and magnificent antelope skins; covered with lofty canopies; and provided at both ends with purple cushions.
“Mine were the four and eighty thousand state elephants, with trappings of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which the king of elephants, called ‘the Changes of the Moon,’ was chief.
“Mine were the four and eighty thousand state horses, with trappings, of gold, and gilded flags, and golden coverings of network—of which ‘Thunder-cloud,’ the king of horses, was the chief.
“Mine were the four and eighty thousand chariots, with coverings of the skins of lions, and of tigers, and of panthers—of which the chariot called ‘the Flag of Victory’ was the chief.
“Mine were the four and eighty thousand gems, of which the Wondrous Gem was the chief.
“Mine were the four and eighty thousand wives, of whom the Queen of Glory was the chief.
“Mine were the four and eighty thousand yeomen, of whom the Wonderful Steward was the chief.
“Mine were the four and eighty thousand nobles, of whom the Wonderful Adviser was the chief,
“Mine were the four and eighty thousand cows, with jute trappings, and horns tipped with bronze.
“Mine were the four and eighty thousand myriads of garments, of delicate textures, of flax, and cotton, and silk, and wool.
“Mine were the four and eighty thousand dishes, in which, in the evening and in the morning, rice was served.
PTS vp Pali 2.38“Of those four and eighty thousand cities, Ānanda, one was that city in which, at that time, I used to dwell—to wit, the royal city of Kusāvatī.
“Of those four and eighty thousand palaces too, Ānanda, one was that palace in which, at that time, I used to dwell—to wit, the Palace of Righteousness.
“Of those four and eighty thousand chambers too, Ānanda, one was that chamber in which, at that time, I used to dwell—to wit, the chamber of the Great Complex. Of those four and eighty thousand divans too, Ānanda, one was that divan which, at that time, I used to occupy—to wit, one of gold, or one of silver, or one of ivory, or one of sandal wood.
“Of those four and eighty thousand state elephants too, Ānanda, one was that elephant which, at that time, I used to ride—to wit, the king of elephants, ‘the Changes of the Moon.’
“Of those four and eighty thousand horses too, Ānanda, one was that horse which, at that time, I used to ride—to wit, the king of horses, ‘the Thunder-cloud.’
“Of those four and eighty thousand chariots too, Ānanda, one was that chariot in which, at that time, I used to ride—to wit, the chariot called ‘the Flag of Victory.’
“Of those four and eighty thousand wives too, Ānanda, one was that wife who, at that time, used to wait upon me—to wit, either a lady of noble birth, or a Velāmikānī.
“Of those four and eighty thousand myriads of suits of apparel too, Ānanda, one was the suit of apparel which, at that time, I wore—to wit, one of delicate texture, of linen, or cotton, or silk, or wool.
“Of those four and eighty thousand dishes too, Ānanda, one was that dish from which, at that time, I ate a measure of rice and the curry suitable thereto.
PTS vp Pali 2.39“See, Ānanda, how all these things are now past, are ended, have vanished away. Thus impermanent, Ānanda, are component things; thus transitory, Ānanda, are component things; thus untrustworthy, Ānanda, are component things. Insomuch, Ānanda, is it meet to be weary of, is it meet to be estranged from, is it meet to be set quite free from the bondage of all component things!
PTS vp Pali 2.40“Now I call to mind, Ānanda, how in this spot my body had been six times buried. And when I was dwelling here as the righteous king who ruled in righteousness, the lord of the four regions of the earth, the conqueror, the protector of his people, the possessor of the seven royal treasures— that was the seventh time.
PTS vp Pali 2.41“But I behold not any spot, Ānanda, in the world of men and gods, nor in the world of Māra, nor in the world of Brahma—no, not among the race of Samaṇas or Brahmans, of gods or men— where the Tathāgata for the eighth time will lay aside his body.”
PTS vp Pali 2.42Thus spake the Blessed One; and when the Happy One had thus spoken, once again the Teacher said:
“How transient are all component things!
Growth is their nature and decay:
They are produced, they are dissolved again:
Their stilling is happiness.”
Tụng phẩm I
SC 1PTS cs 1~1 Như vầy tôi nghe.
SC 2Một thời, Thế Tôn trú ngụ tại Upavattana (Hồ-bạt-đan) ở Kusinàrà (Câu-thi-la) trong rừng Sà la của giòng họ Mallà, giữa hai cây Sāla song thọ, khi ngài sắp nhập Niết bàn.
SC 3PTS cs 2~2 Lúc ấy, tôn giả Ānanda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 4—Bạch thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như Campà (Chiêm-bà), Ràjagahà (Vương Xá) Sāvatthi (Xá-vệ), Sāketa (Sa-kỳ), Kosambi (Kiêu-thưởng-di), Bārānasī (Ba-la-nại). Thế Tôn hãy diệt độ tại những chỗ ấy. Tại những chỗ ấy có đại chúng Sát đế lỵ, có đại chúng Bà la môn, có đại chúng Gia chủ tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi Như Lai.
SC 5PTS cs 3~3 Này Ānanda, chớ có nói như vậy. Này Ānanda, chớ có nói đô thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc. Này Ānanda, thuở xưa có vị vua tên là Mahà-Sudassana (Ðại Thiện Kiến). Vị này là Chuyển Luân vương trị vì như pháp, là vị Pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ānanda, đô thị Kusinàrà này là kinh đô của vua Ðại Thiện Kiến, tên là Kusāvatī (Câu-xá-bà-đề), phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía Bắc và phía Nam rộng đến mười bảy do tuần. Này Ānanda, kinh đô Susāvatī này rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực thẩm phong phú. Này Ānanda, cũng như kinh đô Āḷakamandā của chư Thiên rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn, thực phẩm phong phú. Cũng vậy này Ānanda, kinh đô Kusāvatī này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn. Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī này ngày đêm vang dậy mười loại tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống lớn, tiếng trống nhỏ, tiềng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi: “Hãy uống đi, hãy ăn đi!”.
SC 6PTS cs 4~4 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bảy bức thành bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh, một loại bằng san hô, một loại bằng xa cừ, một loại bằng mọi thứ báu.
SC 7PTS cs 5~5 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bốn loại cửa: một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tại mỗi cửa, có dựng bảy cột trụ, bề cao khoảng ba hay bốn lần thân người. Một cột trụ bằng vàng, một cột trụ bằng bạc, một cột trụ bằng lưu ly, một cột trụ bằng thủy tinh, một cột trụ bằng san hô, một cột trụ bằng xa cừ, một cột trụ bằng mọi thứ báu.
SC 8PTS cs 6~6 Này Ānanda, kinh đô Kusāvatī có bảy hàng cây tāla bao học, một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc, một hàng bằng lưu ly, một hàng bằng thủy tinh, một hàng bằng san hô, một hàng bằng xa cừ, một hàng bằng mọi thứ báu. Cây tāla bằng vàng, có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tāla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tāla bằng lưu ly, có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái cây bằng thủy tinh. Cây tāla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tāla bằng san hô, có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tāla bằng xa cừ, có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tāla bằng mọi loại báu, có thân cây bằng mọi loại báu, có lá và trái cây bằng mọi loại báu. Này Ānanda, khi những cây tāla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê lý khởi lên, cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy, Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển, một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ, nếu ở tại kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc, rượu chè, họ sẽ nhảy múa theo những âm điệu của những hàng cây tāla này khi được gió thổi.
SC 9PTS cs 7~7 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, có đủ bảy món báu và bốn Như ý đức. Thế nào là bảy?
SC 10Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, vào ngày Bố-tát trăng rằm sau khi tắm rửa, lên cao điện để trai giới, thời Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe, trục xe, đủ mọi bộ phận. Thấy vậy, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Ta nghe như vầy: Khi một vị vua Sát-đế-lỵ, đã làm lễ quán đảnh vào ngày Bố-tát trăng rằm, sau khi tắm rửa, lên cao điện trai giới, nếu có Thiên luân báu hiện ra, đủ một ngàn cọng xe, với vành xe và trục xe, đầy đủ mọi bộ phận, thời vị vua ấy là Chuyển Luân vương. Như vậy ta có thể là Chuyển Luân vương”.
SC 11PTS cs 8~8 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y trên một vai, tay trái cầm bình nước và với tay phải rưới nước trên xe báu và nói: Này xe báu hãy lăn khắp, này xe báu hãy chinh phục!”. Và này Ānanda, xe báu lăn về hướng Ðông và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Và này Ānanda, chỗ nào xe báu dừng lại, chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.
SC 12PTS cs 9~9 Này Ānanda, các địch vương ở phương Ðông đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh, đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương, tất cả đều thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.
SC 13Vua Ðại Thiện Kiến nói rằng: “Không được sát sanh. Không được lấy của không cho. Không được tà dâm. Không được nói láo. Không được uống rượu. Hãy ăn uống cho thích nghi”.
SC 14Này Ānanda, tất cả địch vương ở phương Ðông đều trở thành chư hầu vua Ðại Thiện Kiến.
SC 15PTS cs 10~10 Này Ānanda, rồi xe báu lăn xuống biển lớn ở phương Ðông rồi nổi lên rồi lăn về phương Nam…, lặn xuống biển lớn ở phương Nam, rồi nổi lên và lặn về phương Tây…, lặn xuống biển lớn ở phương Tây, rồi nổi lên và lặn về phương Bắc và vua Ðại Thiện Kiến cùng với bốn loại binh chủng đi theo sau. Này Ānanda, chỗ nào xe báu dừng lại chỗ ấy vua Ðại Thiện Kiến an trú cùng với bốn loại binh chủng.
SC 16Này Ānanda, các địch vương ở phương Bắc đến yết kiến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây, Ðại vương! Hoan nghênh đón mừng Ðại vương! Tâu Ðại vương tất cả thuộc của Ngài. Ðại vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!”.
SC 17Này Ānanda, tất cả địch vương ở phương Bắc đều trở thành chư hầu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 18Này Ānanda, xe báu ấy sau khi chinh phục trái đất cho đến hải biên, liền trở về kinh đô Kusāvatī, và đứng trước pháp đình, trên cửa nội cung như một trang bảo cho nội cung của vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 19Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện xe báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 20PTS cs 12~11 Lại nữa này Ānanda, voi báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, bảy xứ kiên cường, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Uposatha (Bố-tát). Thấy voi báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Lành thay được cỡi con voi này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này Ānanda, như một con hiền tượng quí phái chịu sự điều ngự lâu ngày, con voi báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử voi báu này, sáng sớm cỡi voi đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện voi báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 21PTS cs 13~12 Lại nữa này Ānanda, ngựa báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, thuần trắng, đầu đen như quạ, bờm ngựa màu đen, có thần lực, phi hành trên hư không và tên là Valāhaka. Thấy ngựa báu, vua Ðại Thiện Kiến sanh tâm hoan hỷ và nghĩ: “Tốt đẹp thay được cỡi con ngựa này nếu nó chịu sự điều ngự”. Và này Ānanda, như một con hiền mã quý phái, chịu sự điều ngự lâu ngày, con ngựa báu ấy tự đến để chịu sự điều ngự. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử ngựa báu này, sáng sớm cỡi ngựa, đi khắp quả đất cho đến hải biên rồi về lại kinh đô Kusāvatī kịp giờ ăn sáng. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện ngựa báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 22PTS cs 14~13 Lại nữa, này Ānanda, châu báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến. Châu báu ấy là lưu ly châu, sáng suốt, thuần chất, có tám mặt, khó dũa, khó mài, thanh tịnh, trong suốt, hoàn hảo mọi phương diện. Này Ānanda, hào quang châu báu này chiếu sáng cùng khắp một do tuần. Này Ānanda, thuở xưa, vua Ðại Thiện Kiến để thử châu báu này đã cho dàn bày bốn binh chủng, đặt bảo châu cao trên quân kỳ và có thể tiến quân trong đêm tối âm u. Này Ānanda, mọi người trong làng ở xung quanh đều bắt đầu làm việc, tưởng rằng trời đã sáng rồi. Này Ānanda như vậy là sự xuất hiện châu báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 23PTS cs 15~14 Này Ānanda, nữ báu lại xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, mỹ miều, khả ái, cử chỉ đoan trang, màu da tuyệt mỹ, không quá cao, không quá thấp, không béo, không gầy, không quá đen, không quá trắng, vượt trên dung sắc loài Người, sánh đến dung sắc chư Thiên. Này Ānanda, thân xúc nữ báu này êm mịn như bông, như nhung. Này Ānanda, khi trời lạnh, chân tay nữ báu này trở thành ấm áp, khi trời nóng, trở thành lạnh mát. Này Ānanda, thân nữ báu tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng tỏa mùi thơm hoa sen. Này Ānanda, nữ báu này dậy trước và đi ngủ sau vua Ðại Thiện Kiến, mọi hành động làm vua thỏa thích, yên lành khả ái. Này Ānanda, nữ báu này không có một tư tưởng nào bất tín đối với vua Ðại Thiện Kiến huống nữa là về thân thể. Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện nữ báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 24PTS cs 16~15 Lại nữa, này Ānanda, gia chủ báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, chứng được thiên nhãn, do nghiệp dị thục sanh và nhờ thiên nhãn này có thể thấy châu báu chôn cất có chủ hay không có chủ. Gia chủ báu này đến vua Ðại Thiện Kiến và nói: “Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có lo âu, thần sẽ xử lý thích nghi tài sản Ðại vương”.
SC 25Này Ānanda, thuở xưa vua Ðại Thiện Kiến muốn thử gia chủ báu này, liền cỡi thuyền, chèo ra giữa sông Hằng và bảo gia chủ báu
SC 26—Này Gia chủ, ta cần vàng.
SC 27- Tâu Ðại vương, Ðại vương hãy cho chèo thuyền gần bờ nào cũng được.
SC 28- Này Gia chủ, Ta cần vàng ngay tại đây.
SC 29Này Ānanda, khi ấy gia chủ báu thọc hai tay xuống nước nhắc lên một ghè đầy cả vàng ròng rồi tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 30—Tâu Ðại vương, như vậy đã đủ chưa. Tâu Ðại vương, làm như vậy đã được chưa?
SC 31Vua Ðại Thiện Kiến trả lời
SC 32—Này Gia chủ, như vậy là đủ. Này Gia chủ, làm như vậy là được rồi. Này Gia chủ, cúng dường như vậy là được rồi.
SC 33Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện gia chủ báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 34PTS cs 17~16 Lại nữa, này Ānanda, tướng quân báu xuất hiện cho vua Ðại Thiện Kiến, có học thức, thông minh, sáng suốt, có khả năng khuyến cáo. Vua Ðại Thiện Kiến khi đáng tiến thì tiến, khi đáng lui thì lui, khi đáng dừng thì dừng lại.
SC 35Vị này đến tâu vua Ðại Thiện Kiến
SC 36—Tâu Ðại vương, Ðại vương chớ có âu lo, Thần sẽ cố vấn Ðại vương.
SC 37Này Ānanda, như vậy là sự xuất hiện tướng quân báu của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 38Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến có đầy đủ bảy báu như vậy.
SC 39PTS cs 18~17 Lại nữa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, có đầy đủ bốn Như ý đức. Thế nào là bốn? Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến đẹp trai, khả ái, cử chỉ thanh lịch, sắc diện tuyệt luân, thấy xa hơn mọi người. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ nhất của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 40PTS cs 19~18 Này Ānanda, lại nữa, vua Ðại Thiện Kiến sống lâu, tuổi thọ thắng xa các người khác. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ hai của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 41PTS cs 20~19 Lại nữa này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến ít bệnh tật, ít tai ương, thể nhiệt không quá lạnh, không quá nóng, được quân phân để điều hòa sự tiêu hóa, thắng xa các người khác. Này Ānanda, đó là Như ý đức thứ ba của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 42PTS cs 21~20 Lại nữa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ānanda, như người cha được các người con ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến được các vị Bà-la-môn và Gia chủ ái kính và yêu mến. Này Ānanda, như những người con được người cha ái kính và yêu mến, cũng vậy này Ānanda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ được vua Ðại Thiện Kiến ái kính và yêu mến. Thuở xưa, này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến đi đến hoa viên cùng với bốn loại binh chủng. Này Ānanda, các vị Bà-la-môn và Gia chủ đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu rằng: “Tâu Ðại vương, hãy cho đi chậm chậm để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng lâu dài hơn … ” Này Ānanda, nhưng vua Ðại Thiện Kiến lại ra lệnh cho người đánh xe: “Này anh đánh xe, hãy đánh xe chậm chậm để ta có thể thấy các vị Bà-la-môn và Gia chủ lâu dài hơn”. Này Ānanda, như vậy là Như ý đức thứ tư của vua Ðại Thiện Kiến.
SC 43PTS cs 22~21 Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay ta hãy cho xây những hồ sen giữa các hàng cây tāla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm!”.
SC 44Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây các hồ sen giữa các hàng cây tāla, cứ cách khoảng một trăm cung tầm. Này Ānanda, những hồ sen ấy được lát bằng bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Này Ānanda, trong bốn loại hồ sen ấy có bốn loại tầm cấp, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly. Này Ānanda, những hồ sen ấy được hai hàng lan can bao bọc, một hàng bằng vàng, một hàng bằng bạc. Hàng lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Hàng lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 45PTS cs 23~22 Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trong những hồ sen này ta sẽ cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để những ai muốn làm tràng hoa có thể lấy dùng”. Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho đem trồng các loại sen xanh, sen hồng, sen vàng, sen trắng khắp bốn mùa để làm những tràng hoa bằng các thứ bông ấy.
SC 46Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những người hầu tắm cho những người qua kẻ lại”. Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho đặt những người hầu tắm trên bờ những hồ sen này để tắm cho những người qua kẻ lại.
SC 47Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trên bờ những hồ sen này, ta sẽ cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc và vàng cho những ai cần vàng”. Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến, trên bờ những hồ sen ấy, cho đặt những vật bố thí, đồ ăn cho những ai đói, đồ uống cho những ai khát, áo quần cho những ai cần áo quần, xe cộ cho những ai cần xe, đồ nằm cho những ai cần nằm, đàn bà cho những ai cần đàn bà, bạc cho những ai cần bạc, và vàng cho những ai cần vàng.
SC 48PTS cs 24~23 Này Ānanda, các Gia chủ, Bà-la-môn đem theo nhiều tiền bạc đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu vua
SC 49—Tâu Ðại vương, chúng tôi có đem nhiều tiền của này để Ðại vương dùng. Mong đại vương hãy thâu nhận lấy.
SC 50- Này các Khanh, ta có đầy đủ nhiều tiền bạc do đánh thuế đúng pháp đem lại. Hãy giữ tiền bạc của Khanh lại, và đem theo nhiều nữa cho các Khanh!
SC 51Các vị này khi bị vua từ chối, liền đứng qua một bên và suy nghĩ: “Nếu nay chúng ta đem tiền của này về nhà chúng ta thời thật không phải. Chúng ta hãy xây dựng nhà cửa cho vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 52Các vị ấy liền đến vua Ðại Thiện Kiến và tâu
SC 53—Ðại vương, chúng tôi định xây dựng nhà cửa cho Ðại vương.
SC 54Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời.
SC 55PTS cs 25~24 Này Ānanda, Thiên chủ Sakka biết được tư tưởng của vua Ðại Thiện Kiến với tư tưởng của mình, liền gọi Thiên tử Vissakamma (Tỳ-thủ-yết-ma) và nói
SC 56—Này Vissakamma, hãy đến đây và xây dựng một lâu đài cho vua Ðại Thiện Kiến, đặt tên là Dhamma (Pháp).
- Xin vâng, Tôn giả.
SC 57Này Ānanda, Thiên tử Vissakamma vâng lời Thiên chủ Sakka, như người lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co, hay co lại cánh tay duỗi ra, Thiên tử Vissakamma biến mất từ chư Thiên ở Tāvatiṁsa và hiện ra trước mặt vua Ðại Thiện Kiến. Rồi này Ānanda, Thiên tử Vissakamma tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 58—Ðại vương, tôi sẽ xây dựng một lâu đài tên là Dhamma cho Ðại vương!
SC 59Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến im lặng nhận lời. Và này Ānanda, Thiên tử Vissakamma xây dựng lâu đài tên là Dhamma cho vua Ðại Thiện Kiến.
SC 60PTS cs 26~25 Này Ānanda, lâu đài Dhamma này, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam, bề rộng đến nửa do-tuần.
SC 61Này Ānanda, nền nhà của lâu đài Dhamma cao cho đến ba thân người và làm bằng ba loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 62Này Ānanda, lâu đài Dhamma có đến tám vạn bốn ngàn cột trụ bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 63Này Ānanda, lâu đài Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly.
SC 64Này Ānanda, lâu đài Dhamma có tám vạn bốn ngàn phòng ốc bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Trong phòng ốc bằng vàng có chỗ nằm bằng bạc được trải ra. Trong phòng ốc bằng bạc, có chỗ nằm bằng vàng được trải ra. Trong phòng ốc bằng lưu ly có chỗ nằm bằng ngà được trải ra. Trong phòng ốc bằng thủy tinh, có chỗ nằm bằng san hô được trải ra. Tại cửa phòng ốc bằng vàng, có dựng lên một cây tāla bằng bạc, với thân cây bằng bạc, với lá và trái cây bằng vàng. Tại cửa phòng ốc bằng bạc, có dựng lên một cây tāla bằng vàng, với thân cây bằng vàng, với lá và trái bằng bạc. Tại cửa phòng ốc bằng lưu ly, có dựng lên một cây tāla bằng thủy tinh, với thân cây bằng thủy tinh, với lá và trái cây bằng lưu ly. Tại cửa phòng ốc bằng thủy tinh, có dựng lên một cây tāla bằng lưu ly, với thân cây bằng lưu ly, với lá và trái cây bằng thủy tinh.
SC 65PTS cs 27~26 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, ta hãy cho dựng lên một rừng cây tāla toàn bằng vàng, và tại đây ta sẽ an tọa ban ngày.
SC 66Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến trước cửa phòng lầu Ðại Trang Nghiêm, cho dựng lên một rừng cây tāla toàn bằng vàng và tại đây, vua ngồi an tọa ban ngày.
SC 67PTS cs 28~27 Này Ānanda, lâu đài Dhamma được hai dãy lan can bao bọc, một dãy bằng vàng, một dãy bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 68PTS cs 29~28 Này Ānanda, lâu đài Dhamma có hai màn lưới chuông linh, một màn bằng vàng, một màn bằng bạc. Màn lưới bằng vàng có chuông linh bằng bạc, màn lưới bằng bạc có chuông linh bằng vàng. Này Ānanda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ānanda, khi những màn lưới chuông linh này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ nếu tại kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc, rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những màn lưới chuông linh này khi được gió thổi.
SC 69PTS cs 30~29 Này Ānanda, lâu đài Dhamma khi xây xong, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa (vì quá nguy nga tráng lệ). Này Ānanda, như trong tháng cuối mùa mưa, khi bầu trời quang đảng, không bị mây che lấp, mặt trời mọc lên giữa hư không, khó mà nhìn xem vì hai mắt bị chói lòa. Cũng vậy, này Ānanda, thật khó mà nhìn xem, hai mắt bị chói lòa khi lâu đài Dhamma xây xong.
SC 70PTS cs 31~30 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến lại suy nghĩ: “Trước mặt lâu đài Dhamma, ta hãy cho xây hồ sen tên gọi là Dhamma!”.
SC 71Và này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến cho xây một hồ sen tên là Dhamma trước mặt lâu đài Dhamma.
SC 72Này Ānanda, hồ sen Dhamma, về hướng Ðông và hướng Tây bề dài đến một do tuần, và về hướng Bắc và hướng Nam bề rộng đến nửa do tuần.
SC 73Này Ānanda, hồ sen Dhamma có bốn loại gạch, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh.
SC 74Này Ānanda, hồ sen Dhamma có hai mươi bốn tầm cấp bằng bốn loại, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc, một loại bằng lưu ly, một loại bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Tầm cấp bằng bạc có cột trụ và đầu trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng. Tầm cấp bằng lưu ly có cột trụ bằng lưu ly, có chắn ngang và đầu trụ bằng thủy tinh. Tầm cấp bằng thủy tinh có cột trụ bằng thủy tinh, có chắn ngang và đầu trụ bằng lưu ly!
SC 75Này Ānanda, hồ sen Dhamma có hai loại lan can bao bọc, một loại bằng vàng, một loại bằng bạc. Lan can bằng vàng có cột trụ bằng vàng, có chắn ngang và đầu trụ bằng bạc. Lan can bằng bạc có cột trụ bằng bạc, có chắn ngang và đầu trụ bằng vàng.
SC 76PTS cs 32~31 Này Ānanda, hồ sen Dhamma có bảy hàng cây tāla bao bọc, một hàng cây bằng vàng, một hàng cây bằng bạc, một hàng cây bằng lưu ly, một hàng cây bằng thủy tinh, một hàng cây bằng san hô, một hàng cây bằng xa cừ, một hàng cây bằng mọi thứ báu. Cây tāla bằng vàng có thân cây bằng vàng, có lá và trái cây bằng bạc. Cây tāla bằng bạc có thân cây bằng bạc, có lá và trái cây bằng vàng. Cây tāla bằng lưu ly có thân cây bằng lưu ly, có lá và trái cây bằng thủy tinh. Cây tāla bằng thủy tinh, có thân cây bằng thủy tinh, có lá và trái cây bằng lưu ly. Cây tāla bằng san hô có thân cây bằng san hô, có lá và trái cây bằng xa cừ. Cây tāla bằng xa cừ có thân cây bằng xa cừ, có lá và trái cây bằng san hô. Cây tà la bằng mọi thứ báu có thân cây bằng mọi thứ báu, có lá và trái cây bằng mọi thứ báu. Này Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển, thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Cũng như năm loại nhạc khí, khi được một nhạc sĩ thiện xảo tấu nhạc, phát ra một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly. Cũng vậy này Ānanda, khi những hàng cây tāla này được gió rung chuyển thời một âm thanh vi diệu, khả ái, đẹp ý, mê ly khởi lên. Này Ānanda, lúc bấy giờ nếu ở kinh đô Kusāvatī có những kẻ cờ bạc rượu chè, chúng sẽ nhảy múa theo âm điệu của những hàng cây này khi được gió thổi.
SC 77PTS cs 33~32 Này Ānanda, khi lâu đài Dhamma và hồ sen Dhamma được xây xong, lúc bấy giờ vua Ðại Thiện Kiến cúng dường cho các vị Sa-môn được tôn kính và các vị Bà-la-môn được tôn kính mọi sự dục lạc cần thiết rồi vua lên lâu đài Dhamma.
Tụng phẩm II
SC 78PTS cs 1~33 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này của ta do nghiệp gì, báo này của ta là do nghiệp gì mà hiện tại ta có thần lực như vậy, có oai lực như vậy?”.
SC 79Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Quả này là do ba loại nghiệp, báo này là do ba loại nghiệp mà hiện tại ta có thần lực như vậy. Ðó là Bố thí, Tự điều, Tự chế”.
SC 80PTS cs 2~34 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến đi đến cao đường Ðại Trang Nghiêm, đứng trước cửa và nói lớn tiếng cao hứng ngữ sau đây:
SC 81Hãy dừng lại, tư tưởng dục vọng!
Hãy dừng lại, tư tưởng sân hận!
Hãy dừng lại, tư tưởng não hại!
Ðến đây thôi, tư tưởng dục vọng!
Ðến đây thôi, tư tưởng sân hận!
Ðến đây thôi, tư tưởng não hại!
SC 82PTS cs 3~35 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến bước vào cao đường Ðại Trang Nghiêm, ngồi trên sàng tọa bằng vàng, ly dục, ly ác pháp, chứng và an trú trong thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Rồi diệt tầm và tứ, chứng và an trú trong thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú vào thiền thứ ba. Rồi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và an trú vào thiền thứ tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
SC 83PTS cs 4~36 Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm, bước vào cao đường bằng vàng, ngồi trên sàng tọa bằng bạc, an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân … với tâm câu hữu với bi … với tâm câu hữu với hỷ … với tâm câu hữu với xả; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên không hận không sân.
SC 84PTS cs 5~37 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến có tám vạn bốn ngàn kinh thành, và kinh thành Kusāvatī (Câu-xá-bà-đề) là đệ nhất.
SC 85Tám vạn bốn ngàn lâu đài, và lâu đài Dhamma là đệ nhất. Tám vạn bốn ngàn cao đường, và cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất.
SC 86Tám vạn bốn ngàn sàng tọa, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thú trắng của con sơn dương được che bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ.
SC 87Tám vạn bốn ngàn con voi, với những trang sức bằng vàng, được che chở bằng lưới vàng, và tượng vương Uposatha (Bố-tát-đà) là đệ nhất.
SC 88Tám vạn bốn ngàn con ngựa, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới vàng, và mã vương Valāhaka (Vân Mã vương) là đệ nhất.
SC 89Tám vạn bốn ngàn cỗ xe, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vai vàng, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta (Nhạc thanh xa hay Chiến thắng kỳ) là đệ nhất.
SC 90Tám vạn bốn ngàn châu ngọc và bảo châu là đệ nhất.
SC 91Tám vạn bốn ngàn phụ nữ và hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi) là đệ nhất.
SC 92Tám vạn bốn ngàn gia chủ và gia chủ báu là đệ nhất.
SC 93Tám vạn bốn ngàn người giòng Sát-đế-lỵ và tướng quân báu là đệ nhất.
SC 94Tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay (Dukùla), với sừng đầu nhọn bịt đồng.
SC 95Tám vạn bốn ngàn vải Koṭi (Cu-chi) với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung.
SC 96Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa (Thàlipàka), buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm.
SC 97PTS cs 6~38 Lúc bấy giờ, này Ānanda, có tám vạn bốn ngàn voi sáng chiều đến phục vụ cho vua Ðại Thiện Kiến. Rồi vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tám vạn bốn ngàn con voi này sáng chiều đến phục vụ cho ta. Nay ta hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm thời bốn vạn hai ngàn con đến”.
SC 98Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến bảo Tướng quân báu
SC 99—Này Hiền giả, nay tám vạn bốn ngàn con voi này, sáng chiều đến phục vụ ta. Nay hãy để cho chúng đến, cứ cách một trăm năm, mỗi lần cho bốn vạn hai ngàn con đến.
- Tâu Ðại vương, vâng!
SC 100Này Ānanda, vị tướng quân báu vâng lời vua Ðại Thiện Kiến. Này Ānanda, từ đó về sau, cứ mỗi một trăm năm, bốn vạn hai ngàn con voi lần lượt đến với vua Ðại Thiện Kiến.
SC 101PTS cs 7~39 Này Ānanda, sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều trăm ngàn năm, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Cách đây đã lâu, ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay ta hãy đi để thăm vua Ðại Thiện Kiến”.
SC 102Này Ānanda, rồi hoàng hậu Subhaddà nói với các cung nữ
SC 103—Các Ngươi hãy gội đầu, mặc áo vàng. Cách đây đã lâu, chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.
- Tâu Hoàng hậu, vâng!
SC 104- Này Ānanda, các cung nữ vâng lời hoàng hậu Subhaddà (Thiện Hiền phi), gội đầu, mặc áo vàng và đi đến hoàng hậu Subhaddà.
SC 105Này Ānanda, rồi hoàng hậu Subhaddà cho gọi Tướng quân báu
SC 106—Này Khanh, hãy cho sắp đặt bốn loại binh chủng. Cách đây đã lâu chúng ta được thấy vua Ðại Thiện Kiến. Vậy nay chúng ta sẽ đi yết kiến vua Ðại Thiện Kiến.
- Tâu Hoàng hậu, vâng!
SC 107Này Ānanda, tướng quân báu vâng lời hoàng hậu Subhaddà, cho sắp đặt bốn loại binh chủng và tâu Hoàng hậu
SC 108—Tâu Hoàng hậu, bốn loại binh chủng đã sắp đặt xong. Hãy làm gì Hoàng hậu nghĩ là phải thời.
SC 109PTS cs 8~40 Này Ānanda, hoàng hậu Subhaddà cùng với bốn loại binh chủng và các cung nữ đi đến lâu đài Dhamma, leo lên lâu đài ấy, đến tại cao đường Ðại Trang Nghiêm và đứng dựa vào cánh cửa của cao đường này.
SC 110Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến suy nghĩ: “Nay tiếng gì ồn ào như vậy, như cả một quần chúng đông đảo?” Vua bèn bước ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và thấy hoàng hậu Subhaddà đang đứng dựa vào cửa. Thấy vậy, vua liền nói với hoàng hậu Subhaddà
SC 111—Hoàng hậu hãy đứng ở đây, chớ có vào!
SC 112PTS cs 9~41 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến liền bảo một người hầu cận
SC 113—Ngươi hãy nhắc giường bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sāla bằng vàng.
- Tâu Ðại vương, vâng!
SC 114Này Ānanda, người ấy vâng lời dạy của vua Ðại Thiện Kiến, nhắc sàng tọa bằng vàng ra khỏi cao đường Ðại Trang Nghiêm và đặt trong khu rừng cây sāla bằng vàng.
SC 115Này Ānanda, rồi vua Ðại Thiện Kiến nằm xuống, trong dáng điệu con sư tử, về phía bên hữu, một chân đặt dài trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác.
SC 116PTS cs 10~42 Này Ānanda, hoàng hậu Subhaddà suy nghĩ: “Các căn của vua Ðại Thiện Kiến thật là sáng suốt, màu da thật là thanh tịnh, trong sáng. Mong rằng vua Ðại Thiện Kiến chớ có mệnh chung!”.
SC 117Rồi hoàng hậu tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 118—Tâu Ðại vương, tám ván bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 119Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 120Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 121Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 122Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 123Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và mã vương Valāhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 124Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, bằng vải vàng với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 125Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 126Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 127Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này và tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với họ. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 128Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 129Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 130Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy khởi tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương hãy ái luyến đời sống!
SC 131PTS cs 11~43 Này Ānanda, vua Ðại Thiện Kiến nghe hoàng hậu Subhaddà nói vậy liền trả lời
SC 132—Ðã từ lâu Hoàng hậu nói với ta với những lời dễ chịu, hòa ái và dịu dàng. Thế mà nay, trong lần cuối cùng này, Hoàng hậu lại nói với ta bằng những lời không dễ chịu, không hòa ái, không dịu dàng!
SC 133- Tâu Ðại vương, thiếp phải nói với Ðại vương thế nào?
SC 134- Này Hoàng hậu, Hoàng hậu phải nói với ta như thế này:
SC 135“Tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, chịu sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến. Ðáng trách thay, sự mệnh chung còn ái luyến.
SC 136“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn kinh thành này với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 137“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 138“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 139“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở bởi những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng toạ này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ tâm ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 140“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất, những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 141“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này với những trang sức bằng vàng, được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valāhaka là đệ nhất, những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 142“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 143“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 144“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này là phụ nữ báu đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 145“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người thuộc giòng họ Sát-đế-lỵ này là tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 146“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 147“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 148“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buối sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 149PTS cs 12~44 Này Ānanda, khi nghe nói vậy, hoàng hậu Subhaddà buồn khóc, rơi nước mắt và tâu với vua Ðại Thiện Kiến
SC 150—Tâu Ðại vương, tất cả mọi sự vật khả ái, khả lạc đều thay đổi, không có thực thể, thực sự biến hóa. Ðại vương chớ có mệnh chung với tâm quyến luyến chúng. Ðau khổ thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Ðáng trách thay, sự mệnh chung với tâm còn ái luyến! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn lâu đài này với lâu đài Dhamma là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cao đường này với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn sàng tọa này, bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn con ngựa này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vang và mã vương Valāhaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy tử bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những đồ trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 151“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn phụ nữ này và phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn gia chủ này và gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với họ. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 152“Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất, đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu, như vải gai, vải bông, vải lụa, vải nhung này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống! Tâu Ðại vương, tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ðại vương. Ðại vương hãy từ bỏ lòng ái dục đối với chúng. Ðại vương chớ có ái luyến đời sống!
SC 153PTS cs 13~45 Này Ānanda, không bao lâu, vua Ðại Thiện Kiến mệnh chung. Này Ānanda, giống như một người gia chủ hay con một người gia chủ, sau một bữa cơm thịnh soạn trở nên buồn ngủ, cũng tương tự như vậy cảm giác của vua Ðại Thiện Kiến khi mệnh chung. Này Ānanda, sau khi mệnh chung, vua Ðại Thiện Kiến sanh lên thiên phú cõi Phạm thiên. Này Ānanda, trải tám vạn bốn ngàn năm, vua Ðại Thiện Kiến sống sung sướng đời sống của một hoàng tử, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một phó vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm một vị quốc vương, trải tám vạn bốn ngàn năm làm gia chủ, sống phạm hạnh trong lâu đài Dhamma. Ngài tu tập bốn Thần túc như vậy, sau khi thân hoại mạng chung. Ngài được sanh lên cõi Phạm thiên.
SC 154PTS cs 14~46 Này Ānanda, các ngươi có thể nghĩ: “Thời ấy, vua Ðại Thiện Kiến là một vị khác”. Này Ānanda, chớ có quan niệm như vậy. Thời ấy chính Ta là vua Ðại Thiện Kiến.
SC 155Tám vạn bốn ngàn kinh thành với kinh thành Kusāvatī là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 156Tám vạn bốn ngàn lâu đài với lâu đài Dhamma là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 157Tám vạn bốn ngàn cao đường với cao đường Ðại Trang Nghiêm là đệ nhất ấy thuộc của Ta.
SC 158Tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy bằng vàng, bằng bạc, bằng ngà, bằng gỗ kiên cố, được trải với những tấm nệm lông dài, với vải có thêu bông hoa, và với những tấm da thù thắng của con sơn dương, được che chở với những tán che cao và hai đầu có gối màu đỏ, những sàng tọa ấy đều thuộc của ta.
SC 159Tám vạn bốn ngàn con voi này, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và tượng vương Uposatha là đệ nhất. Những con voi ấy đều thuộc của ta.
SC 160Tám vạn bốn ngàn con ngựa với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng và mã vương Valāhaka là đệ nhất. Những con ngựa này đều thuộc của ta.
SC 161Tám vạn bốn ngàn cỗ xe này, với những tấm thảm bằng da sư tử, bằng da cọp, bằng da báo, với những trang sức bằng vàng, cờ vàng, được che chở với lưới bằng vàng, và cỗ xe tên Vejayanta là đệ nhất. Những cỗ xe này đều thuộc của Ta.
SC 162Tám vạn bốn ngàn châu ngọc này với bảo châu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 163Tám vạn bốn ngàn phụ nữ này với phụ nữ báu là đệ nhất đều thuộc của ta.
SC 164Tám vạn bốn ngàn gia chủ này với gia chủ báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 165Tám vạn bốn ngàn người giòng họ Sát-đế-lỵ này với tướng quân báu là đệ nhất đều thuộc của Ta.
SC 166Tám vạn bốn ngàn nhũ ngưu với trang sức bằng vải cây đay, với sừng đầu nhọn bịt đồng đều thuộc của Ta.
SC 167Tám vạn bốn ngàn vải Koṭi với sắc chất tinh diệu như vải gai, vải bông, vải lụa và vải nhung này đều thuộc của Ta.
SC 168Tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa, và buổi sáng buổi chiều có cúng dường cơm này đều thuộc của Ta.
SC 169PTS cs 15~47 Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn kinh thành ấy, chỉ có một kinh thành mà Ta ở vào thời ấy, đó là kinh thành Kusāvatī.
SC 170Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn lâu đài ấy, chỉ có một lâu đài mà Ta ở thời ấy, đó là lâu đài Dhamma.
SC 171Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn cao đường ấy, chỉ có một cao đường mà Ta ở thời ấy, đó là cao đường Ðại Trang Nghiêm.
SC 172Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn sàng tọa ấy, chỉ có một sàng tọa mà Ta dùng thời ấy, đó là sàng tọa bằng vàng, hay bằng bạc, hay bằng ngà, hay bằng gỗ kiên cố.
SC 173Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn con voi ấy, chỉ có một con voi mà Ta cỡi thời ấy, đó là tượng vương Uposatha.
SC 174Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn con ngựa ấy, chỉ có một con ngựa mà Ta cỡi thời ấy, đó là con mã vương Valāhaka.
SC 175Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn cỗ xe ấy, chỉ có một cỗ xe mà Ta cỡi thời ấy, đó là cỗ xe Vejayanta.
SC 176Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn phụ nữ ấy, chỉ có một phụ nữ hầu hạ Ta thời ấy, đó là phụ nữ của giòng Sát-đế-lỵ hay giòng Velàmikàni.
SC 177Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn loại vải Koṭi ấy, chỉ có một loại vải sắc chất tế nhị mà Ta mặc thời ấy, đó là vải gai, vải bông, vải lụa hay vai nhung.
SC 178Này Ānanda, trong tám vạn bốn ngàn loại cháo sữa ấy, chỉ có một loại cháo sữa mà Ta dùng thời ấy, đó là cơm và đồ ăn.
SC 179PTS cs 16~48 Này Ānanda, tất cả các pháp hữu vi ấy nay đã vào quá khứ, hoại diệt và biến hóa. Này Ānanda, các pháp hữu vi, vô thường là như vậy, không kiên cố là như vậy, không đáng tin tưởng là như vậy; vì rằng, này Ānanda, tất cả các pháp hữu vi cần phải nhàm chán, cần phải thoát ly, cần phải giải thoát.
SC 180PTS cs 17~49 Này Ānanda, nay Ta nhớ lại, như thế nào tại chỗ này thân Ta đã được chôn tất cả là sáu lần; và khi Ta sống làm một vị Chuyển Luân vương, dùng chánh pháp trị nước, một vị pháp vương, trị vì bốn thiên hạ, vị chinh phục, che chở cho quần chúng, đầy đủ bảy món báu, đó là lần thứ bảy. Này Ānanda, Ta không thấy một địa phương nào, trong thế giới loài Người và chư Thiên, trong thế giới Ma vương hay thế giới Phạm thiên, trong giòng họ Sa-môn hay Bà-la-môn mà trong địa phương ấy, Như Lai sẽ bỏ thân này lần thứ tám.
SC 181Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Sau khi thuyết xong, Thiện Thệ, bậc Ðạo Sư nói lại bài kệ như sau:
SC 182Tất cả pháp hữu vi,
Thật sự là vô thường,
Khởi lên rồi diệt mất,
Thường tánh là như vậy.
Chúng được sanh khởi lên,
Rồi chúng lại hoại diệt.
Hạnh phúc thay khi chúng
Ðược tịnh chỉ an lạc.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kusinārāyaṁ viharati upavattane mallānaṁ sālavane antarena yamakasālānaṁ parinibbānasamaye.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“mā, bhante, bhagavā imasmiṁ khuddakanagarake ujjaṅgalanagarake sākhānagarake parinibbāyi.
Santi, bhante, aññāni mahānagarāni.
Seyyathidaṁ—campā, rājagahaṁ, sāvatthi, sāketaṁ, kosambī, bārāṇasī;
ettha bhagavā parinibbāyatu.
Ettha bahū khattiyamahāsālā brāhmaṇamahāsālā gahapatimahāsālā tathāgate abhippasannā, te tathāgatassa sarīrapūjaṁ karissantī”ti.
“Mā hevaṁ, ānanda, avaca; mā hevaṁ, ānanda, avaca:
‘khuddakanagarakaṁ ujjaṅgalanagarakaṁ sākhānagarakan’ti.
1. Kusāvatīrājadhānī
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano nāma ahosi khattiyo muddhāvasitto cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa ayaṁ kusinārā kusāvatī nāma rājadhānī ahosi.
Puratthimena ca pacchimena ca dvādasayojanāni āyāmena, uttarena ca dakkhiṇena ca sattayojanāni vitthārena.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Seyyathāpi, ānanda, devānaṁ āḷakamandā nāma rājadhānī iddhā ceva hoti phītā ca bahujanā ca ākiṇṇayakkhā ca subhikkhā ca;
evameva kho, ānanda, kusāvatī rājadhānī iddhā ceva ahosi phītā ca bahujanā ca ākiṇṇamanussā ca subhikkhā ca.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī dasahi saddehi avivittā ahosi divā ceva rattiñca, seyyathidaṁ—
hatthisaddena assasaddena rathasaddena bherisaddena mudiṅgasaddena vīṇāsaddena gītasaddena saṅkhasaddena sammasaddena pāṇitāḷasaddena ‘asnātha pivatha khādathā’ti dasamena saddena.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī sattahi pākārehi parikkhittā ahosi.
Eko pākāro sovaṇṇamayo, eko rūpiyamayo, eko veḷuriyamayo, eko phalikamayo, eko lohitaṅkamayo, eko masāragallamayo, eko sabbaratanamayo.
Kusāvatiyā, ānanda, rājadhāniyā catunnaṁ vaṇṇānaṁ dvārāni ahesuṁ.
Ekaṁ dvāraṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Ekekasmiṁ dvāre satta satta esikā nikhātā ahesuṁ tiporisaṅgā tiporisanikhātā dvādasaporisā ubbedhena.
Ekā esikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā.
Kusāvatī, ānanda, rājadhānī sattahi tālapantīhi parikkhittā ahosi.
Ekā tālapanti sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā.
Sovaṇṇamayassa tālassa sovaṇṇamayo khandho ahosi, rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Rūpiyamayassa tālassa rūpiyamayo khandho ahosi, sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca.
Veḷuriyamayassa tālassa veḷuriyamayo khandho ahosi, phalikamayāni pattāni ca phalāni ca.
Phalikamayassa tālassa phalikamayo khandho ahosi, veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Lohitaṅkamayassa tālassa lohitaṅkamayo khandho ahosi, masāragallamayāni pattāni ca phalāni ca.
Masāragallamayassa tālassa masāragallamayo khandho ahosi, lohitaṅkamayāni pattāni ca phalāni ca.
Sabbaratanamayassa tālassa sabbaratanamayo khandho ahosi, sabbaratanamayāni pattāni ca phalāni ca.
Tāsaṁ kho panānanda, tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca;
evameva kho, ānanda, tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
2. Sattaratanasamannāgata
2.1. Cakkaratana
Rājā, ānanda, mahāsudassano sattahi ratanehi samannāgato ahosi catūhi ca iddhīhi.
Katamehi sattahi?
Idhānanda, rañño mahāsudassanassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa
dibbaṁ cakkaratanaṁ pāturahosi sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ.
Disvā rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘sutaṁ kho pana metaṁ: “yassa rañño khattiyassa muddhāvasittassa tadahuposathe pannarase sīsaṁnhātassa uposathikassa uparipāsādavaragatassa dibbaṁ cakkaratanaṁ pātubhavati sahassāraṁ sanemikaṁ sanābhikaṁ sabbākāraparipūraṁ, so hoti rājā cakkavattī”ti.
Assaṁ nu kho ahaṁ rājā cakkavattī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā vāmena hatthena suvaṇṇabhiṅkāraṁ gahetvā dakkhiṇena hatthena cakkaratanaṁ abbhukkiri:
‘pavattatu bhavaṁ cakkaratanaṁ, abhivijinātu bhavaṁ cakkaratanan’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ puratthimaṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā mahāsudassano saddhiṁ caturaṅginiyā senāya, yasmiṁ kho panānanda, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā mahāsudassano vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Ye kho panānanda, puratthimāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti.
Rājā mahāsudassano evamāha:
‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ na ādātabbaṁ, kāmesu micchā na caritabbā, musā na bhaṇitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti.
Ye kho panānanda, puratthimāya disāya paṭirājāno, te rañño mahāsudassanassa anuyantā ahesuṁ.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ puratthimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā dakkhiṇaṁ disaṁ pavatti …pe…
dakkhiṇaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā pacchimaṁ disaṁ pavatti …pe…
pacchimaṁ samuddaṁ ajjhogāhetvā paccuttaritvā uttaraṁ disaṁ pavatti, anvadeva rājā mahāsudassano saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Yasmiṁ kho panānanda, padese cakkaratanaṁ patiṭṭhāsi, tattha rājā mahāsudassano vāsaṁ upagacchi saddhiṁ caturaṅginiyā senāya.
Ye kho panānanda, uttarāya disāya paṭirājāno, te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘ehi kho, mahārāja, svāgataṁ te, mahārāja, sakaṁ te, mahārāja, anusāsa, mahārājā’ti.
Rājā mahāsudassano evamāha:
‘pāṇo na hantabbo, adinnaṁ na ādātabbaṁ, kāmesu micchā na caritabbā, musā na bhaṇitabbā, majjaṁ na pātabbaṁ, yathābhuttañca bhuñjathā’ti.
Ye kho panānanda, uttarāya disāya paṭirājāno, te rañño mahāsudassanassa anuyantā ahesuṁ.
Atha kho taṁ, ānanda, cakkaratanaṁ samuddapariyantaṁ pathaviṁ abhivijinitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā rañño mahāsudassanassa antepuradvāre atthakaraṇapamukhe akkhāhataṁ maññe aṭṭhāsi rañño mahāsudassanassa antepuraṁ upasobhayamānaṁ.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ cakkaratanaṁ pāturahosi.
2.2. Hatthiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa hatthiratanaṁ pāturahosi
sabbaseto sattappatiṭṭho iddhimā vehāsaṅgamo uposatho nāma nāgarājā.
Taṁ disvā rañño mahāsudassanassa cittaṁ pasīdi:
‘bhaddakaṁ vata bho hatthiyānaṁ, sace damathaṁ upeyyā’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, hatthiratanaṁ—seyyathāpi nāma gandhahatthājāniyo dīgharattaṁ suparidanto; evameva damathaṁ upagacchi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva hatthiratanaṁ vīmaṁsamāno pubbaṇhasamayaṁ abhiruhitvā samuddapariyantaṁ pathaviṁ anuyāyitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā pātarāsamakāsi.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ hatthiratanaṁ pāturahosi.
2.3. Assaratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa assaratanaṁ pāturahosi
sabbaseto kāḷasīso muñjakeso iddhimā vehāsaṅgamo valāhako nāma assarājā.
Taṁ disvā rañño mahāsudassanassa cittaṁ pasīdi:
‘bhaddakaṁ vata bho assayānaṁ sace damathaṁ upeyyā’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, assaratanaṁ seyyathāpi nāma bhaddo assājāniyo dīgharattaṁ suparidanto; evameva damathaṁ upagacchi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva assaratanaṁ vīmaṁsamāno pubbaṇhasamayaṁ abhiruhitvā samuddapariyantaṁ pathaviṁ anuyāyitvā kusāvatiṁ rājadhāniṁ paccāgantvā pātarāsamakāsi.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ assaratanaṁ pāturahosi.
2.4. Maṇiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa maṇiratanaṁ pāturahosi.
So ahosi maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṁso suparikammakato accho vippasanno anāvilo sabbākārasampanno.
Tassa kho panānanda, maṇiratanassa ābhā samantā yojanaṁ phuṭā ahosi.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva maṇiratanaṁ vīmaṁsamāno caturaṅginiṁ senaṁ sannayhitvā maṇiṁ dhajaggaṁ āropetvā rattandhakāratimisāya pāyāsi.
Ye kho panānanda, samantā gāmā ahesuṁ, te tenobhāsena kammante payojesuṁ divāti maññamānā.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ maṇiratanaṁ pāturahosi.
2.5. Itthiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa itthiratanaṁ pāturahosi
abhirūpā dassanīyā pāsādikā paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgatā nātidīghā nātirassā nātikisā nātithūlā nātikāḷikā nāccodātā atikkantā mānusivaṇṇaṁ appattā dibbavaṇṇaṁ.
Tassa kho panānanda, itthiratanassa evarūpo kāyasamphasso hoti, seyyathāpi nāma tūlapicuno vā kappāsapicuno vā.
Tassa kho panānanda, itthiratanassa sīte uṇhāni gattāni honti, uṇhe sītāni.
Tassa kho panānanda, itthiratanassa kāyato candanagandho vāyati, mukhato uppalagandho.
Taṁ kho panānanda, itthiratanaṁ rañño mahāsudassanassa pubbuṭṭhāyinī ahosi pacchānipātinī kiṅkārapaṭissāvinī manāpacārinī piyavādinī.
Taṁ kho panānanda, itthiratanaṁ rājānaṁ mahāsudassanaṁ manasāpi no aticari, kuto pana kāyena.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ itthiratanaṁ pāturahosi.
2.6. Gahapatiratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa gahapatiratanaṁ pāturahosi.
Tassa kammavipākajaṁ dibbacakkhu pāturahosi yena nidhiṁ passati sassāmikampi assāmikampi.
So rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
‘appossukko tvaṁ, deva, hohi, ahaṁ te dhanena dhanakaraṇīyaṁ karissāmī’ti.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano tameva gahapatiratanaṁ vīmaṁsamāno nāvaṁ abhiruhitvā majjhe gaṅgāya nadiyā sotaṁ ogāhitvā gahapatiratanaṁ etadavoca:
‘attho me, gahapati, hiraññasuvaṇṇenā’ti.
‘Tena hi, mahārāja, ekaṁ tīraṁ nāvā upetū’ti.
‘Idheva me, gahapati, attho hiraññasuvaṇṇenā’ti.
Atha kho taṁ, ānanda, gahapatiratanaṁ ubhohi hatthehi udakaṁ omasitvā pūraṁ hiraññasuvaṇṇassa kumbhiṁ uddharitvā rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘alamettāvatā, mahārāja, katamettāvatā, mahārāja, pūjitamettāvatā, mahārājā’ti?
Rājā mahāsudassano evamāha:
‘alamettāvatā, gahapati, katamettāvatā, gahapati, pūjitamettāvatā, gahapatī’ti.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ gahapatiratanaṁ pāturahosi.
2.7. Pariṇāyakaratana
Puna caparaṁ, ānanda, rañño mahāsudassanassa pariṇāyakaratanaṁ pāturahosi
paṇḍito viyatto medhāvī paṭibalo rājānaṁ mahāsudassanaṁ upayāpetabbaṁ upayāpetuṁ, apayāpetabbaṁ apayāpetuṁ, ṭhapetabbaṁ ṭhapetuṁ.
So rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
‘appossukko tvaṁ, deva, hohi, ahamanusāsissāmī’ti.
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa evarūpaṁ pariṇāyakaratanaṁ pāturahosi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imehi sattahi ratanehi samannāgato ahosi.
3. Catuiddhisamannāgata
Rājā, ānanda, mahāsudassano catūhi iddhīhi samannāgato ahosi.
Katamāhi catūhi iddhīhi?
Idhānanda, rājā mahāsudassano abhirūpo ahosi dassanīyo pāsādiko paramāya vaṇṇapokkharatāya samannāgato ativiya aññehi manussehi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya paṭhamāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano dīghāyuko ahosi ciraṭṭhitiko ativiya aññehi manussehi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya dutiyāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano appābādho ahosi appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya ativiya aññehi manussehi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya tatiyāya iddhiyā samannāgato ahosi.
Puna caparaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano brāhmaṇagahapatikānaṁ piyo ahosi manāpo.
Seyyathāpi, ānanda, pitā puttānaṁ piyo hoti manāpo;
evameva kho, ānanda, rājā mahāsudassano brāhmaṇagahapatikānaṁ piyo ahosi manāpo.
Raññopi, ānanda, mahāsudassanassa brāhmaṇagahapatikā piyā ahesuṁ manāpā.
Seyyathāpi, ānanda, pitu puttā piyā honti manāpā;
evameva kho, ānanda, raññopi mahāsudassanassa brāhmaṇagahapatikā piyā ahesuṁ manāpā.
Bhūtapubbaṁ, ānanda, rājā mahāsudassano caturaṅginiyā senāya uyyānabhūmiṁ niyyāsi.
Atha kho, ānanda, brāhmaṇagahapatikā rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘ataramāno, deva, yāhi, yathā taṁ mayaṁ cirataraṁ passeyyāmā’ti.
Rājāpi, ānanda, mahāsudassano sārathiṁ āmantesi:
‘ataramāno, sārathi, rathaṁ pesehi, yathā ahaṁ brāhmaṇagahapatike cirataraṁ passeyyan’ti.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāya catutthiyā iddhiyā samannāgato ahosi.
Rājā, ānanda, mahāsudassano imāhi catūhi iddhīhi samannāgato ahosi.
4. Dhammapāsādapokkharaṇī
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsu tālantarikāsu dhanusate dhanusate pokkharaṇiyo māpeyyan’ti.
Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsu tālantarikāsu dhanusate dhanusate pokkharaṇiyo.
Tā kho panānanda, pokkharaṇiyo catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi citā ahesuṁ—
ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
Tāsu kho panānanda, pokkharaṇīsu cattāri cattāri sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ,
ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ ekaṁ rūpiyamayaṁ ekaṁ veḷuriyamayaṁ ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ, phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ, veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Tā kho panānanda, pokkharaṇiyo dvīhi vedikāhi parikkhittā ahesuṁ ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā.
Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsu pokkharaṇīsu evarūpaṁ mālaṁ ropāpeyyaṁ uppalaṁ padumaṁ kumudaṁ puṇḍarīkaṁ sabbotukaṁ sabbajanassa anāvaṭan’ti.
Ropāpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsu pokkharaṇīsu evarūpaṁ mālaṁ uppalaṁ padumaṁ kumudaṁ puṇḍarīkaṁ sabbotukaṁ sabbajanassa anāvaṭaṁ.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre nhāpake purise ṭhapeyyaṁ, ye āgatāgataṁ janaṁ nhāpessantī’ti.
Ṭhapesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre nhāpake purise, ye āgatāgataṁ janaṁ nhāpesuṁ.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ imāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre evarūpaṁ dānaṁ paṭṭhapeyyaṁ—
annaṁ annaṭṭhikassa, pānaṁ pānaṭṭhikassa, vatthaṁ vatthaṭṭhikassa, yānaṁ yānaṭṭhikassa, sayanaṁ sayanaṭṭhikassa, itthiṁ itthiṭṭhikassa, hiraññaṁ hiraññaṭṭhikassa, suvaṇṇaṁ suvaṇṇaṭṭhikassā’ti.
Paṭṭhapesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tāsaṁ pokkharaṇīnaṁ tīre evarūpaṁ dānaṁ—
annaṁ annaṭṭhikassa, pānaṁ pānaṭṭhikassa, vatthaṁ vatthaṭṭhikassa, yānaṁ yānaṭṭhikassa, sayanaṁ sayanaṭṭhikassa, itthiṁ itthiṭṭhikassa, hiraññaṁ hiraññaṭṭhikassa, suvaṇṇaṁ suvaṇṇaṭṭhikassa.
Atha kho, ānanda, brāhmaṇagahapatikā pahūtaṁ sāpateyyaṁ ādāya rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘idaṁ, deva, pahūtaṁ sāpateyyaṁ devaññeva uddissa ābhataṁ, taṁ devo paṭiggaṇhatū’ti.
‘Alaṁ, bho, mamapidaṁ pahūtaṁ sāpateyyaṁ dhammikena balinā abhisaṅkhataṁ, tañca vo hotu, ito ca bhiyyo harathā’ti.
Te raññā paṭikkhittā ekamantaṁ apakkamma evaṁ samacintesuṁ:
‘na kho etaṁ amhākaṁ patirūpaṁ, yaṁ mayaṁ imāni sāpateyyāni punadeva sakāni gharāni paṭihareyyāma.
Yannūna mayaṁ rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ māpeyyāmā’ti.
Te rājānaṁ mahāsudassanaṁ upasaṅkamitvā evamāhaṁsu:
‘nivesanaṁ te, deva, māpessāmā’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tuṇhībhāvena.
Atha kho, ānanda, sakko devānamindo rañño mahāsudassanassa cetasā cetoparivitakkamaññāya vissakammaṁ devaputtaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, samma vissakamma, rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ māpehi dhammaṁ nāma pāsādan’ti.
‘Evaṁ, bhaddantavā’ti kho, ānanda, vissakammo devaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito rañño mahāsudassanassa purato pāturahosi.
Atha kho, ānanda, vissakammo devaputto rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘nivesanaṁ te, deva, māpessāmi dhammaṁ nāma pāsādan’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano tuṇhībhāvena.
Māpesi kho, ānanda, vissakammo devaputto rañño mahāsudassanassa nivesanaṁ dhammaṁ nāma pāsādaṁ.
Dhammo, ānanda, pāsādo puratthimena pacchimena ca yojanaṁ āyāmena ahosi. Uttarena dakkhiṇena ca aḍḍhayojanaṁ vitthārena.
Dhammassa, ānanda, pāsādassa tiporisaṁ uccatarena vatthu citaṁ ahosi catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi—
ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
Dhammassa, ānanda, pāsādassa caturāsītithambhasahassāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
eko thambho sovaṇṇamayo, eko rūpiyamayo, eko veḷuriyamayo, eko phalikamayo.
Dhammo, ānanda, pāsādo catunnaṁ vaṇṇānaṁ phalakehi santhato ahosi—
ekaṁ phalakaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Dhammassa, ānanda, pāsādassa catuvīsati sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhamme, ānanda, pāsāde caturāsītikūṭāgārasahassāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
ekaṁ kūṭāgāraṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamaye kūṭāgāre rūpiyamayo pallaṅko paññatto ahosi, rūpiyamaye kūṭāgāre sovaṇṇamayo pallaṅko paññatto ahosi, veḷuriyamaye kūṭāgāre dantamayo pallaṅko paññatto ahosi, phalikamaye kūṭāgāre sāramayo pallaṅko paññatto ahosi.
Sovaṇṇamayassa kūṭāgārassa dvāre rūpiyamayo tālo ṭhito ahosi, tassa rūpiyamayo khandho sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca.
Rūpiyamayassa kūṭāgārassa dvāre sovaṇṇamayo tālo ṭhito ahosi, tassa sovaṇṇamayo khandho, rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Veḷuriyamayassa kūṭāgārassa dvāre phalikamayo tālo ṭhito ahosi, tassa phalikamayo khandho, veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Phalikamayassa kūṭāgārassa dvāre veḷuriyamayo tālo ṭhito ahosi, tassa veḷuriyamayo khandho, phalikamayāni pattāni ca phalāni ca.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre sabbasovaṇṇamayaṁ tālavanaṁ māpeyyaṁ, yattha divāvihāraṁ nisīdissāmī’ti.
Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre sabbasovaṇṇamayaṁ tālavanaṁ, yattha divāvihāraṁ nisīdi.
Dhammo, ānanda, pāsādo dvīhi vedikāhi parikkhitto ahosi, ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā.
Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ, rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ, sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhammo, ānanda, pāsādo dvīhi kiṅkiṇikajālehi parikkhitto ahosi—
ekaṁ jālaṁ sovaṇṇamayaṁ ekaṁ rūpiyamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa jālassa rūpiyamayā kiṅkiṇikā ahesuṁ, rūpiyamayassa jālassa sovaṇṇamayā kiṅkiṇikā ahesuṁ.
Tesaṁ kho panānanda, kiṅkiṇikajālānaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti, vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca;
evameva kho, ānanda, tesaṁ kiṅkiṇikajālānaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tesaṁ kiṅkiṇikajālānaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
Niṭṭhito kho panānanda, dhammo pāsādo duddikkho ahosi musati cakkhūni.
Seyyathāpi, ānanda, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nabhaṁ abbhussakkamāno duddikkho hoti musati cakkhūni;
evameva kho, ānanda, dhammo pāsādo duddikkho ahosi musati cakkhūni.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘yannūnāhaṁ dhammassa pāsādassa purato dhammaṁ nāma pokkharaṇiṁ māpeyyan’ti.
Māpesi kho, ānanda, rājā mahāsudassano dhammassa pāsādassa purato dhammaṁ nāma pokkharaṇiṁ.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī puratthimena pacchimena ca yojanaṁ āyāmena ahosi, uttarena dakkhiṇena ca aḍḍhayojanaṁ vitthārena.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī catunnaṁ vaṇṇānaṁ iṭṭhakāhi citā ahosi—
ekā iṭṭhakā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā.
Dhammāya, ānanda, pokkharaṇiyā catuvīsati sopānāni ahesuṁ catunnaṁ vaṇṇānaṁ—
ekaṁ sopānaṁ sovaṇṇamayaṁ, ekaṁ rūpiyamayaṁ, ekaṁ veḷuriyamayaṁ, ekaṁ phalikamayaṁ.
Sovaṇṇamayassa sopānassa sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayassa sopānassa rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Veḷuriyamayassa sopānassa veḷuriyamayā thambhā ahesuṁ phalikamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Phalikamayassa sopānassa phalikamayā thambhā ahesuṁ veḷuriyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī dvīhi vedikāhi parikkhittā ahosi—ekā vedikā sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā.
Sovaṇṇamayāya vedikāya sovaṇṇamayā thambhā ahesuṁ rūpiyamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Rūpiyamayāya vedikāya rūpiyamayā thambhā ahesuṁ sovaṇṇamayā sūciyo ca uṇhīsañca.
Dhammā, ānanda, pokkharaṇī sattahi tālapantīhi parikkhittā ahosi—
ekā tālapanti sovaṇṇamayā, ekā rūpiyamayā, ekā veḷuriyamayā, ekā phalikamayā, ekā lohitaṅkamayā, ekā masāragallamayā, ekā sabbaratanamayā.
Sovaṇṇamayassa tālassa sovaṇṇamayo khandho ahosi rūpiyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Rūpiyamayassa tālassa rūpiyamayo khandho ahosi sovaṇṇamayāni pattāni ca phalāni ca.
Veḷuriyamayassa tālassa veḷuriyamayo khandho ahosi phalikamayāni pattāni ca phalāni ca.
Phalikamayassa tālassa phalikamayo khandho ahosi veḷuriyamayāni pattāni ca phalāni ca.
Lohitaṅkamayassa tālassa lohitaṅkamayo khandho ahosi masāragallamayāni pattāni ca phalāni ca.
Masāragallamayassa tālassa masāragallamayo khandho ahosi lohitaṅkamayāni pattāni ca phalāni ca.
Sabbaratanamayassa tālassa sabbaratanamayo khandho ahosi, sabbaratanamayāni pattāni ca phalāni ca.
Tāsaṁ kho panānanda, tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi, vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Seyyathāpi, ānanda, pañcaṅgikassa tūriyassa suvinītassa suppaṭitāḷitassa sukusalehi samannāhatassa saddo hoti vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca;
evameva kho, ānanda, tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddo ahosi vaggu ca rajanīyo ca khamanīyo ca madanīyo ca.
Ye kho panānanda, tena samayena kusāvatiyā rājadhāniyā dhuttā ahesuṁ soṇḍā pipāsā, te tāsaṁ tālapantīnaṁ vāteritānaṁ saddena paricāresuṁ.
Niṭṭhite kho panānanda, dhamme pāsāde niṭṭhitāya dhammāya ca pokkharaṇiyā rājā mahāsudassano ‘ye tena samayena samaṇesu vā samaṇasammatā brāhmaṇesu vā brāhmaṇasammatā’, te sabbakāmehi santappetvā dhammaṁ pāsādaṁ abhiruhi.
Paṭhamabhāṇavāro.
5. Jhānasampatti
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘kissa nu kho me idaṁ kammassa phalaṁ kissa kammassa vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo’ti?
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘tiṇṇaṁ kho me idaṁ kammānaṁ phalaṁ tiṇṇaṁ kammānaṁ vipāko, yenāhaṁ etarahi evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo, seyyathidaṁ—
dānassa damassa saṁyamassā’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano yena mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvāre ṭhito udānaṁ udānesi:
‘tiṭṭha, kāmavitakka, tiṭṭha, byāpādavitakka, tiṭṭha, vihiṁsāvitakka.
Ettāvatā, kāmavitakka, ettāvatā, byāpādavitakka, ettāvatā, vihiṁsāvitakkā’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ pavisitvā sovaṇṇamaye pallaṅke nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihāsi, sato ca sampajāno sukhañca kāyena paṭisaṁvedesi, yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja vihāsi.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano mahāviyūhā kūṭāgārā nikkhamitvā sovaṇṇamayaṁ kūṭāgāraṁ pavisitvā rūpiyamaye pallaṅke nisinno
mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi. Tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihāsi.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
muditāsahagatena cetasā …pe…
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā vihāsi. Tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā vihāsi.
6. Caturāsītinagarasahassādi
Rañño, ānanda, mahāsudassanassa caturāsīti nagarasahassāni ahesuṁ kusāvatīrājadhānippamukhāni;
caturāsīti pāsādasahassāni ahesuṁ dhammapāsādappamukhāni;
caturāsīti kūṭāgārasahassāni ahesuṁ mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni;
caturāsīti pallaṅkasahassāni ahesuṁ sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni;
caturāsīti nāgasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni;
caturāsīti assasahassāni ahesuṁ sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni;
caturāsīti rathasahassāni ahesuṁ sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni;
caturāsīti maṇisahassāni ahesuṁ maṇiratanappamukhāni;
caturāsīti itthisahassāni ahesuṁ subhaddādevippamukhāni;
caturāsīti gahapatisahassāni ahesuṁ gahapatiratanappamukhāni;
caturāsīti khattiyasahassāni ahesuṁ anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni;
caturāsīti dhenusahassāni ahesuṁ duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni;
caturāsīti vatthakoṭisahassāni ahesuṁ khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ;
rañño, ānanda, mahāsudassanassa caturāsīti thālipākasahassāni ahesuṁ sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyittha.
Tena kho panānanda, samayena rañño mahāsudassanassa caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa etadahosi:
‘imāni kho me caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti, yannūna vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgaccheyyun’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano pariṇāyakaratanaṁ āmantesi:
‘imāni kho me, samma pariṇāyakaratana, caturāsīti nāgasahassāni sāyaṁ pātaṁ upaṭṭhānaṁ āgacchanti, tena hi, samma pariṇāyakaratana, vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgacchantū’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, pariṇāyakaratanaṁ rañño mahāsudassanassa paccassosi.
Atha kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa aparena samayena vassasatassa vassasatassa accayena dvecattālīsaṁ dvecattālīsaṁ nāgasahassāni sakiṁ sakiṁ upaṭṭhānaṁ āgamaṁsu.
7. Subhaddādeviupasaṅkamana
Atha kho, ānanda, subhaddāya deviyā bahunnaṁ vassānaṁ bahunnaṁ vassasatānaṁ bahunnaṁ vassasahassānaṁ accayena etadahosi:
‘ciraṁ diṭṭho kho me rājā mahāsudassano. Yannūnāhaṁ rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkameyyan’ti.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī itthāgāraṁ āmantesi:
‘etha tumhe sīsāni nhāyatha pītāni vatthāni pārupatha.
Ciraṁ diṭṭho no rājā mahāsudassano, rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā’ti.
‘Evaṁ, ayye’ti kho, ānanda, itthāgāraṁ subhaddāya deviyā paṭissutvā sīsāni nhāyitvā pītāni vatthāni pārupitvā yena subhaddā devī tenupasaṅkami.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī pariṇāyakaratanaṁ āmantesi:
‘kappehi, samma pariṇāyakaratana, caturaṅginiṁ senaṁ, ciraṁ diṭṭho no rājā mahāsudassano, rājānaṁ mahāsudassanaṁ dassanāya upasaṅkamissāmā’ti.
‘Evaṁ, devī’ti kho, ānanda, pariṇāyakaratanaṁ subhaddāya deviyā paṭissutvā caturaṅginiṁ senaṁ kappāpetvā subhaddāya deviyā paṭivedesi:
‘kappitā kho, devi, caturaṅginī senā,
yassadāni kālaṁ maññasī’ti.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī caturaṅginiyā senāya saddhiṁ itthāgārena yena dhammo pāsādo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā dhammaṁ pāsādaṁ abhiruhitvā yena mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ tenupasaṅkami.
Upasaṅkamitvā mahāviyūhassa kūṭāgārassa dvārabāhaṁ ālambitvā aṭṭhāsi.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano saddaṁ sutvā:
‘kiṁ nu kho mahato viya janakāyassa saddo’ti mahāviyūhā kūṭāgārā nikkhamanto addasa subhaddaṁ deviṁ dvārabāhaṁ ālambitvā ṭhitaṁ, disvāna subhaddaṁ deviṁ etadavoca:
‘ettheva, devi, tiṭṭha mā pāvisī’ti.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
‘ehi tvaṁ, ambho purisa, mahāviyūhā kūṭāgārā sovaṇṇamayaṁ pallaṅkaṁ nīharitvā sabbasovaṇṇamaye tālavane paññapehī’ti.
‘Evaṁ, devā’ti kho, ānanda, so puriso rañño mahāsudassanassa paṭissutvā mahāviyūhā kūṭāgārā sovaṇṇamayaṁ pallaṅkaṁ nīharitvā sabbasovaṇṇamaye tālavane paññapesi.
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi pāde pādaṁ accādhāya sato sampajāno.
Atha kho, ānanda, subhaddāya deviyā etadahosi:
‘vippasannāni kho rañño mahāsudassanassa indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto, mā heva kho rājā mahāsudassano kālamakāsī’ti rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘Imāni te, deva, caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi, jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni itthiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Ettha, deva, chandaṁ janehi, jīvite apekkhaṁ karohi.
Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati.
Ettha, deva, chandaṁ janehi jīvite apekkhaṁ karohī’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, rājā mahāsudassano subhaddaṁ deviṁ etadavoca:
‘Dīgharattaṁ kho maṁ tvaṁ, devi, iṭṭhehi kantehi piyehi manāpehi samudācarittha;
atha ca pana maṁ tvaṁ pacchime kāle aniṭṭhehi akantehi appiyehi amanāpehi samudācarasī’ti.
‘Kathaṁ carahi taṁ, deva, samudācarāmī’ti?
‘Evaṁ kho maṁ tvaṁ, devi, samudācara:
“sabbeheva, deva, piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo, mā kho tvaṁ, deva, sāpekkho kālamakāsi, dukkhā sāpekkhassa kālaṅkiriyā, garahitā ca sāpekkhassa kālaṅkiriyā.
Imāni te, deva, caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni subhaddādevippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsī”’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, subhaddā devī parodi assūni pavattesi.
Atha kho, ānanda, subhaddā devī assūni puñchitvā rājānaṁ mahāsudassanaṁ etadavoca:
‘Sabbeheva, deva, piyehi manāpehi nānābhāvo vinābhāvo aññathābhāvo, mā kho tvaṁ, deva, sāpekkho kālamakāsi, dukkhā sāpekkhassa kālaṅkiriyā, garahitā ca sāpekkhassa kālaṅkiriyā.
Imāni te, deva, caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha, jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti itthisahassāni itthiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha, jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsi.
Imāni te, deva, caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyati.
Ettha, deva, chandaṁ pajaha jīvite apekkhaṁ mākāsī’ti.
8. Brahmalokūpagama
Atha kho, ānanda, rājā mahāsudassano na cirasseva kālamakāsi.
Seyyathāpi, ānanda, gahapatissa vā gahapatiputtassa vā manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāvissa bhattasammado hoti; evameva kho, ānanda, rañño mahāsudassanassa māraṇantikā vedanā ahosi.
Kālaṅkato ca, ānanda, rājā mahāsudassano sugatiṁ brahmalokaṁ upapajji.
Rājā, ānanda, mahāsudassano caturāsīti vassasahassāni kumārakīḷaṁ kīḷi.
Caturāsīti vassasahassāni oparajjaṁ kāresi.
Caturāsīti vassasahassāni rajjaṁ kāresi.
Caturāsīti vassasahassāni gihibhūto dhamme pāsāde brahmacariyaṁ cari.
So cattāro brahmavihāre bhāvetvā kāyassa bhedā paraṁ maraṇā brahmalokūpago ahosi.
Siyā kho panānanda, evamassa:
‘añño nūna tena samayena rājā mahāsudassano ahosī’ti,
na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ. Ahaṁ tena samayena rājā mahāsudassano ahosiṁ.
Mama tāni caturāsīti nagarasahassāni kusāvatīrājadhānippamukhāni, mama tāni caturāsīti pāsādasahassāni dhammapāsādappamukhāni, mama tāni caturāsīti kūṭāgārasahassāni mahāviyūhakūṭāgārappamukhāni, mama tāni caturāsīti pallaṅkasahassāni sovaṇṇamayāni rūpiyamayāni dantamayāni sāramayāni gonakatthatāni paṭikatthatāni paṭalikatthatāni kadalimigapavarapaccattharaṇāni sauttaracchadāni ubhatolohitakūpadhānāni, mama tāni caturāsīti nāgasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni uposathanāgarājappamukhāni, mama tāni caturāsīti assasahassāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni valāhakaassarājappamukhāni, mama tāni caturāsīti rathasahassāni sīhacammaparivārāni byagghacammaparivārāni dīpicammaparivārāni paṇḍukambalaparivārāni sovaṇṇālaṅkārāni sovaṇṇadhajāni hemajālapaṭicchannāni vejayantarathappamukhāni, mama tāni caturāsīti maṇisahassāni maṇiratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti itthisahassāni subhaddādevippamukhāni, mama tāni caturāsīti gahapatisahassāni gahapatiratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti khattiyasahassāni anuyantāni pariṇāyakaratanappamukhāni, mama tāni caturāsīti dhenusahassāni duhasandanāni kaṁsūpadhāraṇāni, mama tāni caturāsīti vatthakoṭisahassāni khomasukhumānaṁ kappāsikasukhumānaṁ koseyyasukhumānaṁ kambalasukhumānaṁ, mama tāni caturāsīti thālipākasahassāni sāyaṁ pātaṁ bhattābhihāro abhihariyittha.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsītinagarasahassānaṁ ekaññeva taṁ nagaraṁ hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ kusāvatī rājadhānī.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti pāsādasahassānaṁ ekoyeva so pāsādo hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ dhammo pāsādo.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti kūṭāgārasahassānaṁ ekaññeva taṁ kūṭāgāraṁ hoti, yaṁ tena samayena ajjhāvasāmi yadidaṁ mahāviyūhaṁ kūṭāgāraṁ.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti pallaṅkasahassānaṁ ekoyeva so pallaṅko hoti, yaṁ tena samayena paribhuñjāmi yadidaṁ sovaṇṇamayo vā rūpiyamayo vā dantamayo vā sāramayo vā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti nāgasahassānaṁ ekoyeva so nāgo hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ uposatho nāgarājā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti assasahassānaṁ ekoyeva so asso hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ valāhako assarājā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti rathasahassānaṁ ekoyeva so ratho hoti, yaṁ tena samayena abhiruhāmi yadidaṁ vejayantaratho.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti itthisahassānaṁ ekāyeva sā itthī hoti, yā tena samayena paccupaṭṭhāti khattiyānī vā vessinī vā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti vatthakoṭisahassānaṁ ekaṁyeva taṁ dussayugaṁ hoti, yaṁ tena samayena paridahāmi khomasukhumaṁ vā kappāsikasukhumaṁ vā koseyyasukhumaṁ vā kambalasukhumaṁ vā.
Tesaṁ kho panānanda, caturāsīti thālipākasahassānaṁ ekoyeva so thālipāko hoti, yato nāḷikodanaparamaṁ bhuñjāmi tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Passānanda, sabbete saṅkhārā atītā niruddhā vipariṇatā.
Evaṁ aniccā kho, ānanda, saṅkhārā;
evaṁ addhuvā kho, ānanda, saṅkhārā;
evaṁ anassāsikā kho, ānanda, saṅkhārā.
Yāvañcidaṁ, ānanda, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccituṁ.
Chakkhattuṁ kho panāhaṁ, ānanda, abhijānāmi imasmiṁ padese sarīraṁ nikkhipitaṁ, tañca kho rājāva samāno cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato, ayaṁ sattamo sarīranikkhepo.
Na kho panāhaṁ, ānanda, taṁ padesaṁ samanupassāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya yattha tathāgato aṭṭhamaṁ sarīraṁ nikkhipeyyā”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Aniccā vata saṅkhārā,
uppādavayadhammino;
Uppajjitvā nirujjhanti,
tesaṁ vūpasamo sukho”ti.
Mahāsudassanasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.