BJT 148Vào lúc ta là con voi nuôi dưỡng voi mẹ ở trong rừng rậm. Lúc bấy giờ, ở trên trái đất không có người tương đương với ta về giới đức.
BJT 149Có người đi rừng, sau khi nhìn thấy ta ở khu rừng rậm, đã thông báo với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có con voi được xứng đáng với ngài đang sống ở trong rừng.
BJT 150Không cần phải gây thương tích cho nó, cũng không cần đến cọc trói và hầm hố. Khi được nắm ở vòi của chính nó, tự thân nó sẽ đi đến chỗ này.”
BJT 151Nghe được lời nói ấy của ông ta, ngay cả đức vua cũng có tâm trí hớn hở và đã phái đi người thuần hóa voi, là bậc thầy kinh nghiệm, đã được huấn luyện rành rẽ.
BJT 152Sau khi đi đến, người thuần hóa voi ấy đã nhìn thấy (ta), ở trong hồ sen, đang nhổ lên rễ và ngó sen nhằm mục đích nuôi dưỡng mẹ.
BJT 153Biết được giới đức của ta, người này đã xác định các đặc điểm và đã nói rằng: “Này con trai, hãy đi đến,” rồi đã nắm chặt cái vòi của ta.
BJT 154Khi ấy, sức mạnh tự nhiên đồng hành với cơ thể của ta là tương đương với sức mạnh của một ngàn con voi ngày hôm nay.
BJT 155Nếu ta nổi cơn giận dữ với những người đã đi đến để bắt ta, ta có thừa khả năng đối với bọn họ, thậm chí luôn cả vương quốc của những người ấy nữa.
BJT 156Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi họ xô đẩy ta vào cây cọc trói.
BJT 157Nếu bọn họ có làm tổn thương ta bằng những cái rìu và những cây thương, ta cũng chẳng nổi cơn giận dữ đối với bọn họ vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
Hạnh của Vị Nuôi Dưỡng Mẹ là phần thứ nhất.
“Yadā ahosiṁ pavane,
kuñjaro mātuposako;
Na tadā atthi mahiyā,
guṇena mama sādiso.
Pavane disvā vanacaro,
rañño maṁ paṭivedayi;
‘Tavānucchavo mahārāja,
gajo vasati kānane.
Na tassa parikkhāyattho,
napi āḷakakāsuyā;
Saha gahite soṇḍāya,
sayameva idhehi’ti.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā,
rājāpi tuṭṭhamānaso;
Pesesi hatthidamakaṁ,
chekācariyaṁ susikkhitaṁ.
Gantvā so hatthidamako,
addasa padumassare;
Bhisamuḷālaṁ uddharantaṁ,
yāpanatthāya mātuyā.
Viññāya me sīlaguṇaṁ,
lakkhaṇaṁ upadhārayi;
‘Ehi puttā’ti vatvāna,
mama soṇḍāya aggahi.
Yaṁ me tadā pākatikaṁ,
sarīrānugataṁ balaṁ;
Ajja nāgasahassānaṁ,
balena samasādisaṁ.
Yadihaṁ tesaṁ pakuppeyyaṁ,
upetānaṁ gahaṇāya maṁ;
Paṭibalo bhave tesaṁ,
yāva rajjampi mānusaṁ.
Api cāhaṁ sīlarakkhāya,
Sīlapāramipūriyā;
Na karomi citte aññathattaṁ,
Pakkhipantaṁ mamāḷake.
Yadi te maṁ tattha koṭṭeyyuṁ,
pharasūhi tomarehi ca;
Neva tesaṁ pakuppeyyaṁ,
sīlakhaṇḍabhayā mamā”ti.
Mātuposakacariyaṁ paṭhamaṁ.
“Once I lived in the forest
as a elephant who provided for his mother.
At that time no-one on earth
could equal my virtues.
Seeing me in the forest, a forester
informed the king about me.
‘Great King, an elephant that befits you
is dwelling in the forest grove.
No need to dig a moat around him,
nor tether him to a post in a pit.
Taken by the trunk,
he will come here by himself.’
When he heard these words,
the king, elated,
sent an elephant-tamer,
a well-trained and expert tutor.
When the elephant-tamer reached there,
he saw me in a lotus pond,
pulling out lotus roots
to feed my mother.
Discerning my moral virtue,
he checked me for marks.
Saying, ‘Come, child’,
he took me by the trunk.
What was at that time
the natural strength of my body,
would equal a thousand
of the elephants of today.
If I had been upset
with those who came to capture me,
I would have had the power
to defeat even a kingdom of men.
Nevertheless, for the sake of guarding my ethics,
and fulfilling my perfection of ethics,
I did not let my mind change,
even as they caged me.
And even were they to beat me
with hatchets and lances,
I would never become upset,
for fear of violating my ethics.”
BJT 148Vào lúc ta là con voi nuôi dưỡng voi mẹ ở trong rừng rậm. Lúc bấy giờ, ở trên trái đất không có người tương đương với ta về giới đức.
BJT 149Có người đi rừng, sau khi nhìn thấy ta ở khu rừng rậm, đã thông báo với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có con voi được xứng đáng với ngài đang sống ở trong rừng.
BJT 150Không cần phải gây thương tích cho nó, cũng không cần đến cọc trói và hầm hố. Khi được nắm ở vòi của chính nó, tự thân nó sẽ đi đến chỗ này.”
BJT 151Nghe được lời nói ấy của ông ta, ngay cả đức vua cũng có tâm trí hớn hở và đã phái đi người thuần hóa voi, là bậc thầy kinh nghiệm, đã được huấn luyện rành rẽ.
BJT 152Sau khi đi đến, người thuần hóa voi ấy đã nhìn thấy (ta), ở trong hồ sen, đang nhổ lên rễ và ngó sen nhằm mục đích nuôi dưỡng mẹ.
BJT 153Biết được giới đức của ta, người này đã xác định các đặc điểm và đã nói rằng: “Này con trai, hãy đi đến,” rồi đã nắm chặt cái vòi của ta.
BJT 154Khi ấy, sức mạnh tự nhiên đồng hành với cơ thể của ta là tương đương với sức mạnh của một ngàn con voi ngày hôm nay.
BJT 155Nếu ta nổi cơn giận dữ với những người đã đi đến để bắt ta, ta có thừa khả năng đối với bọn họ, thậm chí luôn cả vương quốc của những người ấy nữa.
BJT 156Hơn nữa, vì gìn giữ giới để làm viên mãn sự toàn hảo về giới, ta không làm thay đổi tâm ý trong khi họ xô đẩy ta vào cây cọc trói.
BJT 157Nếu bọn họ có làm tổn thương ta bằng những cái rìu và những cây thương, ta cũng chẳng nổi cơn giận dữ đối với bọn họ vì ta có nỗi lo sợ bị đứt giới.
Hạnh của Vị Nuôi Dưỡng Mẹ là phần thứ nhất.
“Yadā ahosiṁ pavane,
kuñjaro mātuposako;
Na tadā atthi mahiyā,
guṇena mama sādiso.
Pavane disvā vanacaro,
rañño maṁ paṭivedayi;
‘Tavānucchavo mahārāja,
gajo vasati kānane.
Na tassa parikkhāyattho,
napi āḷakakāsuyā;
Saha gahite soṇḍāya,
sayameva idhehi’ti.
Tassa taṁ vacanaṁ sutvā,
rājāpi tuṭṭhamānaso;
Pesesi hatthidamakaṁ,
chekācariyaṁ susikkhitaṁ.
Gantvā so hatthidamako,
addasa padumassare;
Bhisamuḷālaṁ uddharantaṁ,
yāpanatthāya mātuyā.
Viññāya me sīlaguṇaṁ,
lakkhaṇaṁ upadhārayi;
‘Ehi puttā’ti vatvāna,
mama soṇḍāya aggahi.
Yaṁ me tadā pākatikaṁ,
sarīrānugataṁ balaṁ;
Ajja nāgasahassānaṁ,
balena samasādisaṁ.
Yadihaṁ tesaṁ pakuppeyyaṁ,
upetānaṁ gahaṇāya maṁ;
Paṭibalo bhave tesaṁ,
yāva rajjampi mānusaṁ.
Api cāhaṁ sīlarakkhāya,
Sīlapāramipūriyā;
Na karomi citte aññathattaṁ,
Pakkhipantaṁ mamāḷake.
Yadi te maṁ tattha koṭṭeyyuṁ,
pharasūhi tomarehi ca;
Neva tesaṁ pakuppeyyaṁ,
sīlakhaṇḍabhayā mamā”ti.
Mātuposakacariyaṁ paṭhamaṁ.