BJT 173Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Cullabodhi, là người có giới hạnh. Nhìn thấy hiện hữu là nguy hiểm, ta đã ra đi theo hạnh xuất ly.
BJT 174Ta có người vợ dòng dõi Bà-la-môn có nước da như vàng ròng. Cô ta cũng không mong muốn luân hồi nên đã ra đi theo hạnh xuất ly.
BJT 175Không dính mắc, thân quyến đã lìa, không mong muốn về gia đình, (hay) về đồ chúng, chúng tôi du hành qua làng mạc phố chợ và đã đi đến Bārāṇasī.
BJT 176Ở tại nơi ấy, chúng tôi đã sống khôn khéo, không cấu kết gia đình, bè đảng. Cả hai đã sống trong khu vườn của đức vua, không bị quấy rầy, ít có tiếng động.
BJT 177Đức vua đã đi đến ngoạn cảnh khu vườn và đã nhìn thấy người nữ Bà-la-môn. Ngài đã đi đến gặp ta và hỏi rằng: “Nàng ấy là vợ của khanh hay của ai?”
BJT 178Được nói như vậy, ta đã nói với đức vua lời này: “Nàng ấy không phải là vợ của thần, nàng là người đồng đạo, cùng chung giáo lý.”
BJT 179Bị ái luyến và khát khao nàng ấy, đức vua đã ra lệnh các thuộc hạ bắt giữ rồi dùng sức mạnh để ép buộc đưa nàng vào nội cung.
BJT 180Nàng là người vợ của ta theo nghi thức chạm vào bát nước, đồng thời xuất gia cùng chung giáo lý. Trong khi nàng bị lôi kéo đưa đi, sự giận dữ đã khởi lên ở ta.
BJT 181Cùng lúc khi cơn giận đã được phát khởi, ta đã nhớ lại giới cấm. Ngay tại nơi ấy, ta đã nén lại cơn giận và đã không cho bộc phát lên.
BJT 182Nếu như có ai dùng con dao bén đâm chém người nữ Bà-la-môn ấy, ta cũng không thể nào làm đứt giới với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 183Người nữ Bà-la-môn ấy không có bị ta ghét bỏ, cũng không phải là sức mạnh của ta không có. Ðối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta sẽ gìn giữ giới hạnh.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Cullabodhi là phần thứ tư.
“Punāparaṁ yadā homi,
cūḷabodhi susīlavā;
Bhavaṁ disvāna bhayato,
nekkhammaṁ abhinikkhamiṁ.
Yā me dutiyikā āsi,
brāhmaṇī kanakasannibhā;
Sāpi vaṭṭe anapekkhā,
nekkhammaṁ abhinikkhami.
Nirālayā chinnabandhū,
anapekkhā kule gaṇe;
Carantā gāmanigamaṁ,
bārāṇasimupāgamuṁ.
Tattha vasāma nipakā,
asaṁsaṭṭhā kule gaṇe;
Nirākule appasadde,
rājuyyāne vasāmubho.
Uyyānadassanaṁ gantvā,
rājā addasa brāhmaṇiṁ;
Upagamma mamaṁ pucchi,
‘tuyhesā kā kassa bhariyā’.
Evaṁ vutte, ahaṁ tassa,
idaṁ vacanamabraviṁ;
‘Na mayhaṁ bhariyā esā,
sahadhammā ekasāsanī’.
Tissā sārattagadhito,
gāhāpetvāna ceṭake;
Nippīḷayanto balasā,
antepuraṁ pavesayi.
Odapattakiyā mayhaṁ,
sahajā ekasāsanī;
Ākaḍḍhitvā nayantiyā,
kopo me upapajjatha.
Saha kope samuppanne,
sīlabbatamanussariṁ;
Tattheva kopaṁ niggaṇhiṁ,
nādāsiṁ vaḍḍhitūpari.
Yadi naṁ brāhmaṇiṁ koci,
koṭṭeyya tiṇhasattiyā;
Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Na mesā brāhmaṇī dessā,
napi me balaṁ na vijjati;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā sīlānurakkhisan”ti.
Cūḷabodhicariyaṁ catutthaṁ.
“Then again when I was
the very virtuous Cūḷabodhi,
seeing rebirth as fearful,
I renounced worldly life.
She who had been my partner,
a brahmin lady with golden skin,
unconcerned with the cycle of rebirths,
also renounced worldly life.
Without clinging, cutting off family,
unconcerned with family or group,
we walked from village to town
until we reached Varanasi.
There we lived alert,
mixing not with a family or group.
Quiet and undisturbed,
we both stayed in the royal park.
Visiting the park,
the king saw the brahmin lady.
He approached me and asked,
‘Is she your wife? Or whose is she?’
When he said this, to him
I said the following.
‘She is not my wife.
We share the same teaching and belief.’
Infatuated with her,
he had his men seize her.
Compelling her by force
he brought her to the royal compound.
She who became mine by touching a water-jar,
born together, one in beliefs,
when he dragged her away,
I felt so angry.
Together with the arising of anger,
I remembered my precepts and vows,
and right there controlled my anger,
I did not allow it to grow.
If anyone were to attack
that brahmin lady with a sharp knife,
not even for that would I violate my ethics,
because it was solely for awakening.
I did not dislike the brahmin lady,
nor did I lack the strength.
But because omniscience is precious to me,
that’s why I guarded my ethics.”
BJT 173Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Cullabodhi, là người có giới hạnh. Nhìn thấy hiện hữu là nguy hiểm, ta đã ra đi theo hạnh xuất ly.
BJT 174Ta có người vợ dòng dõi Bà-la-môn có nước da như vàng ròng. Cô ta cũng không mong muốn luân hồi nên đã ra đi theo hạnh xuất ly.
BJT 175Không dính mắc, thân quyến đã lìa, không mong muốn về gia đình, (hay) về đồ chúng, chúng tôi du hành qua làng mạc phố chợ và đã đi đến Bārāṇasī.
BJT 176Ở tại nơi ấy, chúng tôi đã sống khôn khéo, không cấu kết gia đình, bè đảng. Cả hai đã sống trong khu vườn của đức vua, không bị quấy rầy, ít có tiếng động.
BJT 177Đức vua đã đi đến ngoạn cảnh khu vườn và đã nhìn thấy người nữ Bà-la-môn. Ngài đã đi đến gặp ta và hỏi rằng: “Nàng ấy là vợ của khanh hay của ai?”
BJT 178Được nói như vậy, ta đã nói với đức vua lời này: “Nàng ấy không phải là vợ của thần, nàng là người đồng đạo, cùng chung giáo lý.”
BJT 179Bị ái luyến và khát khao nàng ấy, đức vua đã ra lệnh các thuộc hạ bắt giữ rồi dùng sức mạnh để ép buộc đưa nàng vào nội cung.
BJT 180Nàng là người vợ của ta theo nghi thức chạm vào bát nước, đồng thời xuất gia cùng chung giáo lý. Trong khi nàng bị lôi kéo đưa đi, sự giận dữ đã khởi lên ở ta.
BJT 181Cùng lúc khi cơn giận đã được phát khởi, ta đã nhớ lại giới cấm. Ngay tại nơi ấy, ta đã nén lại cơn giận và đã không cho bộc phát lên.
BJT 182Nếu như có ai dùng con dao bén đâm chém người nữ Bà-la-môn ấy, ta cũng không thể nào làm đứt giới với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
BJT 183Người nữ Bà-la-môn ấy không có bị ta ghét bỏ, cũng không phải là sức mạnh của ta không có. Ðối với ta quả vị Toàn Giác là yêu quý; vì thế ta sẽ gìn giữ giới hạnh.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Cullabodhi là phần thứ tư.
“Punāparaṁ yadā homi,
cūḷabodhi susīlavā;
Bhavaṁ disvāna bhayato,
nekkhammaṁ abhinikkhamiṁ.
Yā me dutiyikā āsi,
brāhmaṇī kanakasannibhā;
Sāpi vaṭṭe anapekkhā,
nekkhammaṁ abhinikkhami.
Nirālayā chinnabandhū,
anapekkhā kule gaṇe;
Carantā gāmanigamaṁ,
bārāṇasimupāgamuṁ.
Tattha vasāma nipakā,
asaṁsaṭṭhā kule gaṇe;
Nirākule appasadde,
rājuyyāne vasāmubho.
Uyyānadassanaṁ gantvā,
rājā addasa brāhmaṇiṁ;
Upagamma mamaṁ pucchi,
‘tuyhesā kā kassa bhariyā’.
Evaṁ vutte, ahaṁ tassa,
idaṁ vacanamabraviṁ;
‘Na mayhaṁ bhariyā esā,
sahadhammā ekasāsanī’.
Tissā sārattagadhito,
gāhāpetvāna ceṭake;
Nippīḷayanto balasā,
antepuraṁ pavesayi.
Odapattakiyā mayhaṁ,
sahajā ekasāsanī;
Ākaḍḍhitvā nayantiyā,
kopo me upapajjatha.
Saha kope samuppanne,
sīlabbatamanussariṁ;
Tattheva kopaṁ niggaṇhiṁ,
nādāsiṁ vaḍḍhitūpari.
Yadi naṁ brāhmaṇiṁ koci,
koṭṭeyya tiṇhasattiyā;
Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā.
Na mesā brāhmaṇī dessā,
napi me balaṁ na vijjati;
Sabbaññutaṁ piyaṁ mayhaṁ,
tasmā sīlānurakkhisan”ti.
Cūḷabodhicariyaṁ catutthaṁ.