BJT 207Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là đạo sĩ tóc bện nghiêm trì khổ hạnh, có giới đức, định tâm bền vững, tên là Mātaṅga.
BJT 208Ta và một vị Bà-la-môn, cả hai sống ở bên bờ sông Gaṅgā. Ta sống ở thượng nguồn, còn vị Bà-la-môn sống ở hạ nguồn.
BJT 209Trong khi đi lang thang dọc theo bờ sông, vị Bà-la-môn đã nhìn thấy khu ẩn cư của ta ở thượng nguồn. Tại nơi ấy, sau khi mắng nhiếc ta, vị ấy đã nguyền rủa về sự vỡ tan cái đầu (của ta).
BJT 210Nếu ta nổi cơn giận dữ đối với vị này, nếu ta không gìn giữ giới, thì sau khi nhìn vào vị ấy ta có thể làm cho trở thành như là tro bụi.
BJT 211Lúc bấy giờ, điều mà vị ấy nguyền rủa ta trong lúc bị bực tức và có tâm ý xấu xa lại được áp dụng ở trên cái đầu của chính vị ấy. Ta đã giúp cho vị ấy được thoát khỏi (việc bị bể đầu thành bảy mảnh) bằng thủ thuật.
BJT 212Ta đã bảo vệ giới của ta. Ta đã không bảo tồn mạng sống của mình. Bởi vì, vào lúc ấy ta đã là người có giới hạnh với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mātaṅga là phần thứ bảy.
“Punāparaṁ yadā homi,
jaṭilo uggatāpano;
Mātaṅgo nāma nāmena,
sīlavā susamāhito.
Ahañca brāhmaṇo eko,
gaṅgākūle vasāmubho;
Ahaṁ vasāmi upari,
heṭṭhā vasati brāhmaṇo.
Vicaranto anukūlamhi,
uddhaṁ me assamaddasa;
Tattha maṁ paribhāsetvā,
abhisapi muddhaphālanaṁ.
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ,
yadi sīlaṁ na gopaye;
Oloketvānahaṁ tassa,
kareyyaṁ chārikaṁ viya.
Yaṁ so tadā maṁ abhisapi,
kupito duṭṭhamānaso;
Tasseva matthake nipati,
yogena taṁ pamocayiṁ.
Anurakkhiṁ mama sīlaṁ,
nārakkhiṁ mama jīvitaṁ;
Sīlavā hi tadā āsiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā”ti.
Mātaṅgacariyaṁ sattamaṁ.
“Then again when I was
a matted-hair ascetic of severe penance,
Mātaṅga was my name,
I was virtuous and serene.
A brahmin and I both lived
on a bank of the Ganges.
I stayed upstream,
the brahmin downstream.
Wandering along the riverbank,
he saw my hermitage upstream.
Then he abused and cursed me,
that my head would split in seven.
If I were upset with him
and if I were not taking care of my ethics,
then just with a glance
I could have reduced him to ashes.
But when he cursed me then,
so angry and bitter-hearted,
it fell right back on his own head:
I freed him from that yoke.
I guarded my ethics,
not my life.
For then I was ethical,
because it was solely for awakening.”
BJT 207Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là đạo sĩ tóc bện nghiêm trì khổ hạnh, có giới đức, định tâm bền vững, tên là Mātaṅga.
BJT 208Ta và một vị Bà-la-môn, cả hai sống ở bên bờ sông Gaṅgā. Ta sống ở thượng nguồn, còn vị Bà-la-môn sống ở hạ nguồn.
BJT 209Trong khi đi lang thang dọc theo bờ sông, vị Bà-la-môn đã nhìn thấy khu ẩn cư của ta ở thượng nguồn. Tại nơi ấy, sau khi mắng nhiếc ta, vị ấy đã nguyền rủa về sự vỡ tan cái đầu (của ta).
BJT 210Nếu ta nổi cơn giận dữ đối với vị này, nếu ta không gìn giữ giới, thì sau khi nhìn vào vị ấy ta có thể làm cho trở thành như là tro bụi.
BJT 211Lúc bấy giờ, điều mà vị ấy nguyền rủa ta trong lúc bị bực tức và có tâm ý xấu xa lại được áp dụng ở trên cái đầu của chính vị ấy. Ta đã giúp cho vị ấy được thoát khỏi (việc bị bể đầu thành bảy mảnh) bằng thủ thuật.
BJT 212Ta đã bảo vệ giới của ta. Ta đã không bảo tồn mạng sống của mình. Bởi vì, vào lúc ấy ta đã là người có giới hạnh với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
Hạnh của (đức Bồ-tát) Mātaṅga là phần thứ bảy.
“Punāparaṁ yadā homi,
jaṭilo uggatāpano;
Mātaṅgo nāma nāmena,
sīlavā susamāhito.
Ahañca brāhmaṇo eko,
gaṅgākūle vasāmubho;
Ahaṁ vasāmi upari,
heṭṭhā vasati brāhmaṇo.
Vicaranto anukūlamhi,
uddhaṁ me assamaddasa;
Tattha maṁ paribhāsetvā,
abhisapi muddhaphālanaṁ.
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ,
yadi sīlaṁ na gopaye;
Oloketvānahaṁ tassa,
kareyyaṁ chārikaṁ viya.
Yaṁ so tadā maṁ abhisapi,
kupito duṭṭhamānaso;
Tasseva matthake nipati,
yogena taṁ pamocayiṁ.
Anurakkhiṁ mama sīlaṁ,
nārakkhiṁ mama jīvitaṁ;
Sīlavā hi tadā āsiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā”ti.
Mātaṅgacariyaṁ sattamaṁ.