BJT 195Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vua của loài nai, có tên là Ruru, có màu lông tợ như vàng nung đỏ, đang chú tâm vào giới hạnh tối cao.
BJT 196Ta đã đi đến trú ngụ tại nơi ấy, ở một khu đất xinh xắn, đáng yêu, thanh vắng, không có loài người, bên bờ sông Gaṅgā thích ý.
BJT 197Khi ấy, ở thượng nguồn sông Gaṅgā, có người đàn ông bị bức bách bởi những chủ nợ nên đã gieo mình xuống dòng sông Gaṅgā (nghĩ rằng): “Ta hoặc là sống hay là chết.”
BJT 198Trong khi bị cuốn trôi ở giòng nước lớn và kêu la thảm thiết ngày đêm, người ấy trôi ra giữa dòng sông Gaṅgā.
BJT 199Nghe được tiếng kêu la thảm thiết của người ấy đang than khóc, ta đã đứng ở bờ sông Gaṅgā hỏi rằng: “Ông là người nào?”
BJT 200Và khi được ta hỏi, người ấy đã giải thích hành động của mình: “Sợ hãi những người chủ nợ, bị hoảng hốt, tôi đã lao mình xuống dòng sông lớn.”
BJT 201Khởi tâm thương xót người ấy, ta đã buông bỏ mạng sống của mình, lao vào (dòng nước), và đã vớt người ấy lên trong bóng tối của ban đêm.
BJT 202Nhận biết được thời điểm đã được hồi phục, ta đã nói với người ấy điều này: “Ta yêu cầu ngươi một ân huệ là ngươi chớ có nói về ta đối với bất cứ người nào.”
BJT 203Sau khi đi đến thành phố, người ấy vì nguyên nhân của cải đã nói ra khi được hỏi, rồi đã đưa đức vua đi đến vùng phụ cận của ta.
BJT 204Toàn bộ sự việc đến đâu đã được ta tường thuật cho đức vua. Nghe được lời kể lại, đức vua đã hướng mũi tên vào người ấy (nói rằng): “Trẫm sẽ giết chết kẻ đê tiện phản bội bạn bè ngay tại chỗ này.”
BJT 205Trong khi bảo vệ cho người ấy, ta đã hoán đổi (người ấy) bằng bản thân của ta (nói rằng): “Tâu đại vương hãy để cho người ấy sống. Thần sẽ là người tạo ra lạc thú cho ngài.”
BJT 206Ta đã bảo vệ giới của ta. Ta đã không bảo tồn mạng sống của mình. Bởi vì, vào lúc ấy ta đã là người có giới hạnh với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
Hạnh của Con Nai Chúa Ruru là phần thứ sáu.
“Punāparaṁ yadā homi,
sutattakanakasannibho;
Migarājā ruru nāma,
paramasīlasamāhito.
Ramme padese ramaṇīye,
vivitte amanussake;
Tattha vāsaṁ upagañchiṁ,
gaṅgākūle manorame.
Atha upari gaṅgāya,
dhanikehi paripīḷito;
Puriso gaṅgāya papati,
‘jīvāmi vā marāmi vā’.
Rattindivaṁ so gaṅgāya,
vuyhamāno mahodake;
Ravanto karuṇaṁ ravaṁ,
majjhe gaṅgāya gacchati.
Tassāhaṁ saddaṁ sutvāna,
karuṇaṁ paridevato;
Gaṅgāya tīre ṭhatvāna,
apucchiṁ ‘kosi tvaṁ naro’.
So me puṭṭho ca byākāsi,
attano karaṇaṁ tadā;
‘Dhanikehi bhīto tasito,
pakkhandohaṁ mahānadiṁ’.
Tassa katvāna kāruññaṁ,
cajitvā mama jīvitaṁ;
Pavisitvā nīhariṁ tassa,
andhakāramhi rattiyā.
Assatthakālamaññāya,
tassāhaṁ idamabraviṁ;
‘Ekaṁ taṁ varaṁ yācāmi,
mā maṁ kassaci pāvada’.
Nagaraṁ gantvāna ācikkhi,
pucchito dhanahetuko;
Rājānaṁ so gahetvāna,
upagañchi mamantikaṁ.
Yāvatā karaṇaṁ sabbaṁ,
rañño ārocitaṁ mayā;
Rājā sutvāna vacanaṁ,
usuṁ tassa pakappayi;
‘Idheva ghātayissāmi,
mittadubbhiṁ anāriyaṁ’.
Tamahaṁ anurakkhanto,
nimminiṁ mama attanā;
‘Tiṭṭhateso mahārāja,
kāmakāro bhavāmi te’.
Anurakkhiṁ mama sīlaṁ,
nārakkhiṁ mama jīvitaṁ;
Sīlavā hi tadā āsiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā”ti.
Rurumigarājacariyaṁ chaṭṭhaṁ.
“Then again when I was
the king of deer named Ruru,
in appearance I was like burnished gold,
focused on the highest ethics.
There was a pleasant, delightful region,
free of humans,
so I went there and stayed
on a lovely bank of the Ganges.
Then a man upstream,
harassed by creditors,
fell into the Ganges, thinking,
‘I live or I die!’
Day and night in the Ganges
he was swept along the stream,
crying out pitifully,
along the middle of the Ganges.
When I heard the sound
of his pitiful crying,
I stood on the Ganges bank
and asked, ‘What man are you?’
When asked he explained
to me his own deed:
‘I was so scared of my creditors,
I jumped in the great river!’
Taking pity on him,
surrendering my own life,
I entered and dragged him out
in the darkness of the night.
When I knew he had recovered,
I said to him,
‘I ask of you one favor:
tell no-one about me.’
But once he had returned to the city,
for the sake of money he told when asked.
Taking the king,
he drew close to me.
All that I had done
was related to the king.
When the king heard this,
he fitted his arrow, thinking,
‘Right here I shall kill
this ignoble betrayer of a friend.’
I protected him,
substituting myself:
‘Let him be, great king.
I shall carry out your pleasure.’
I guarded my ethics,
not my life.
For then I was ethical,
because it was solely for awakening.”
BJT 195Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là vua của loài nai, có tên là Ruru, có màu lông tợ như vàng nung đỏ, đang chú tâm vào giới hạnh tối cao.
BJT 196Ta đã đi đến trú ngụ tại nơi ấy, ở một khu đất xinh xắn, đáng yêu, thanh vắng, không có loài người, bên bờ sông Gaṅgā thích ý.
BJT 197Khi ấy, ở thượng nguồn sông Gaṅgā, có người đàn ông bị bức bách bởi những chủ nợ nên đã gieo mình xuống dòng sông Gaṅgā (nghĩ rằng): “Ta hoặc là sống hay là chết.”
BJT 198Trong khi bị cuốn trôi ở giòng nước lớn và kêu la thảm thiết ngày đêm, người ấy trôi ra giữa dòng sông Gaṅgā.
BJT 199Nghe được tiếng kêu la thảm thiết của người ấy đang than khóc, ta đã đứng ở bờ sông Gaṅgā hỏi rằng: “Ông là người nào?”
BJT 200Và khi được ta hỏi, người ấy đã giải thích hành động của mình: “Sợ hãi những người chủ nợ, bị hoảng hốt, tôi đã lao mình xuống dòng sông lớn.”
BJT 201Khởi tâm thương xót người ấy, ta đã buông bỏ mạng sống của mình, lao vào (dòng nước), và đã vớt người ấy lên trong bóng tối của ban đêm.
BJT 202Nhận biết được thời điểm đã được hồi phục, ta đã nói với người ấy điều này: “Ta yêu cầu ngươi một ân huệ là ngươi chớ có nói về ta đối với bất cứ người nào.”
BJT 203Sau khi đi đến thành phố, người ấy vì nguyên nhân của cải đã nói ra khi được hỏi, rồi đã đưa đức vua đi đến vùng phụ cận của ta.
BJT 204Toàn bộ sự việc đến đâu đã được ta tường thuật cho đức vua. Nghe được lời kể lại, đức vua đã hướng mũi tên vào người ấy (nói rằng): “Trẫm sẽ giết chết kẻ đê tiện phản bội bạn bè ngay tại chỗ này.”
BJT 205Trong khi bảo vệ cho người ấy, ta đã hoán đổi (người ấy) bằng bản thân của ta (nói rằng): “Tâu đại vương hãy để cho người ấy sống. Thần sẽ là người tạo ra lạc thú cho ngài.”
BJT 206Ta đã bảo vệ giới của ta. Ta đã không bảo tồn mạng sống của mình. Bởi vì, vào lúc ấy ta đã là người có giới hạnh với lý do chỉ là vì quả vị giác ngộ.
Hạnh của Con Nai Chúa Ruru là phần thứ sáu.
“Punāparaṁ yadā homi,
sutattakanakasannibho;
Migarājā ruru nāma,
paramasīlasamāhito.
Ramme padese ramaṇīye,
vivitte amanussake;
Tattha vāsaṁ upagañchiṁ,
gaṅgākūle manorame.
Atha upari gaṅgāya,
dhanikehi paripīḷito;
Puriso gaṅgāya papati,
‘jīvāmi vā marāmi vā’.
Rattindivaṁ so gaṅgāya,
vuyhamāno mahodake;
Ravanto karuṇaṁ ravaṁ,
majjhe gaṅgāya gacchati.
Tassāhaṁ saddaṁ sutvāna,
karuṇaṁ paridevato;
Gaṅgāya tīre ṭhatvāna,
apucchiṁ ‘kosi tvaṁ naro’.
So me puṭṭho ca byākāsi,
attano karaṇaṁ tadā;
‘Dhanikehi bhīto tasito,
pakkhandohaṁ mahānadiṁ’.
Tassa katvāna kāruññaṁ,
cajitvā mama jīvitaṁ;
Pavisitvā nīhariṁ tassa,
andhakāramhi rattiyā.
Assatthakālamaññāya,
tassāhaṁ idamabraviṁ;
‘Ekaṁ taṁ varaṁ yācāmi,
mā maṁ kassaci pāvada’.
Nagaraṁ gantvāna ācikkhi,
pucchito dhanahetuko;
Rājānaṁ so gahetvāna,
upagañchi mamantikaṁ.
Yāvatā karaṇaṁ sabbaṁ,
rañño ārocitaṁ mayā;
Rājā sutvāna vacanaṁ,
usuṁ tassa pakappayi;
‘Idheva ghātayissāmi,
mittadubbhiṁ anāriyaṁ’.
Tamahaṁ anurakkhanto,
nimminiṁ mama attanā;
‘Tiṭṭhateso mahārāja,
kāmakāro bhavāmi te’.
Anurakkhiṁ mama sīlaṁ,
nārakkhiṁ mama jīvitaṁ;
Sīlavā hi tadā āsiṁ,
bodhiyāyeva kāraṇā”ti.
Rurumigarājacariyaṁ chaṭṭhaṁ.