BJT 184Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là con trâu lang thang ở trong khu rừng rậm, có thân thể phát triển, khỏe mạnh, to lớn, trông thấy phải sợ hãi.
BJT 185Nơi ấy, trong hang động, ở sườn núi dốc, dưới cội cây, (gần) nơi hồ nước, có (các) khu vực rải rác đó đây dành cho loài trâu.
BJT 186Trong khi đi lang thang ở khu rừng rậm, ta đã nhìn thấy một nơi thuận tiện. Ta đã đi đến nơi ấy, đứng lại, rồi nằm xuống.
BJT 187Rồi có con khỉ đê tiện, thô lỗ, nhanh nhảu đã đi đến nơi ấy và tiểu tiện, đại tiện ở trên lưng, trên trán, và lông mày của ta.
BJT 188Một lần trong ngày, rồi lần thứ hai, lần thứ ba, và thậm chí đến lần thứ tư, nó làm ta bị nhơ bẩn vào mọi lúc; vì điều ấy, ta trở nên bực bội.
BJT 189Nhìn thấy sự bực bội của ta, có con Dạ-xoa đã nói với ta điều này: “Ngươi hãy giết chết cái loài tồi tệ đê tiện ấy bằng các sừng và các móng chân.”
BJT 190Được con Dạ-xoa nói như vậy, khi ấy ta đã nói với con Dạ-xoa ấy điều này: “Sao ngươi lại bôi nhọ ta với cái thây ma đê tiện và thô lỗ?
BJT 191Nếu ta nổi giận với nó, vì điều đó ta sẽ trở nên tồi tệ hơn, giới của ta có thể bị đứt, và người trí có thể khiển trách ta.
BJT 192Vả lại, sống mà hổ thẹn thì chết với sự trong sạch là cao quý. Cho dù nguyên nhân là mạng sống, không thể nào ta lại gây ra sự tổn hại cho kẻ khác?
BJT 193Trong khi suy nghĩ về những người khác là giống như ta, con khỉ này cũng sẽ hành động như thế. Chính họ sẽ giết chết nó tại nơi ấy, còn ta thì sẽ có được sự giải thoát này.
BJT 194Trong khi nhẫn nhịn sự khinh miệt ở những người kém cỏi, trung bình, hoặc cao quý, như thế bậc thiện trí đạt được theo như điều đã được mong mỏi bởi tâm ý.
Hạnh của Con Trâu Chúa là phần thứ năm.
“Punāparaṁ yadā homi,
mahiṁso pavanacārako;
Pavaḍḍhakāyo balavā,
mahanto bhīmadassano.
Pabbhāre giridugge ca,
rukkhamūle dakāsaye;
Hotettha ṭhānaṁ mahiṁsānaṁ,
koci koci tahiṁ tahiṁ.
Vicaranto brahāraññe,
ṭhānaṁ addasa bhaddakaṁ;
Taṁ ṭhānaṁ upagantvāna,
tiṭṭhāmi ca sayāmi ca.
Athettha kapimāgantvā,
pāpo anariyo lahu;
Khandhe nalāṭe bhamuke,
mutteti ohadeti taṁ.
Sakimpi divasaṁ dutiyaṁ,
tatiyaṁ catutthampi ca;
Dūseti maṁ sabbakālaṁ,
tena homi upadduto.
Mamaṁ upaddutaṁ disvā,
yakkho maṁ idamabravi;
‘Nāsehetaṁ chavaṁ pāpaṁ,
siṅgehi ca khurehi ca’.
Evaṁ vutte, tadā yakkhe,
ahaṁ taṁ idamabraviṁ;
‘Kiṁ tvaṁ makkhesi kuṇapena,
pāpena anariyena maṁ.
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ,
tato hīnataro bhave;
Sīlañca me pabhijjeyya,
viññū ca garaheyyu maṁ.
Hīḷitā jīvitā vāpi,
parisuddhena mataṁ varaṁ;
Kyāhaṁ jīvitahetūpi,
kāhāmi paraheṭhanaṁ’.
Mamevāyaṁ maññamāno,
aññepevaṁ karissati;
Teva tassa vadhissanti,
sā me mutti bhavissati.
Hīnamajjhimaukkaṭṭhe,
sahanto avamānitaṁ;
Evaṁ labhati sappañño,
manasā yathāpatthitan”ti.
Mahiṁsarājacariyaṁ pañcamaṁ.
“Then again when I was
a buffalo who roamed the forest,
large in body and strong,
big and scary to see.
In a cave, a craggy hillside,
at a tree root or a waterhole,
there’d be somewhere for buffalos,
in one place or another.
Wandering the mighty forest,
I saw a fine spot.
Having gone there,
I stood and lay to rest.
Then a monkey came along,
wicked, ignoble, and nimble.
On my shoulder, forehead, and eyebrows,
he peed and pooed.
Not just that day, but a second,
a third, and a fourth;
he soiled me all the time,
he was harrying me.
Seeing me being harried,
a spirit said to me:
‘Kill that vile, wicked thing
with your horns and hooves.’
When he spoke, I said
this to that spirit:
‘Why would you smear me
with a wicked, ignoble carcass?
If I were upset with him
I would degrade myself,
violating my ethics,
and being criticized by sensible people.
Better to die from purity
than live in shame.
How could I, for the sake of life,
harm another?’
Thinking of me, this one
will do the same to others,
and for that they will kill him.
Then I shall be free.
Forgiving disrespect
from the low, middle and high,
the wise one gains
their heart’s desire.”
BJT 184Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là con trâu lang thang ở trong khu rừng rậm, có thân thể phát triển, khỏe mạnh, to lớn, trông thấy phải sợ hãi.
BJT 185Nơi ấy, trong hang động, ở sườn núi dốc, dưới cội cây, (gần) nơi hồ nước, có (các) khu vực rải rác đó đây dành cho loài trâu.
BJT 186Trong khi đi lang thang ở khu rừng rậm, ta đã nhìn thấy một nơi thuận tiện. Ta đã đi đến nơi ấy, đứng lại, rồi nằm xuống.
BJT 187Rồi có con khỉ đê tiện, thô lỗ, nhanh nhảu đã đi đến nơi ấy và tiểu tiện, đại tiện ở trên lưng, trên trán, và lông mày của ta.
BJT 188Một lần trong ngày, rồi lần thứ hai, lần thứ ba, và thậm chí đến lần thứ tư, nó làm ta bị nhơ bẩn vào mọi lúc; vì điều ấy, ta trở nên bực bội.
BJT 189Nhìn thấy sự bực bội của ta, có con Dạ-xoa đã nói với ta điều này: “Ngươi hãy giết chết cái loài tồi tệ đê tiện ấy bằng các sừng và các móng chân.”
BJT 190Được con Dạ-xoa nói như vậy, khi ấy ta đã nói với con Dạ-xoa ấy điều này: “Sao ngươi lại bôi nhọ ta với cái thây ma đê tiện và thô lỗ?
BJT 191Nếu ta nổi giận với nó, vì điều đó ta sẽ trở nên tồi tệ hơn, giới của ta có thể bị đứt, và người trí có thể khiển trách ta.
BJT 192Vả lại, sống mà hổ thẹn thì chết với sự trong sạch là cao quý. Cho dù nguyên nhân là mạng sống, không thể nào ta lại gây ra sự tổn hại cho kẻ khác?
BJT 193Trong khi suy nghĩ về những người khác là giống như ta, con khỉ này cũng sẽ hành động như thế. Chính họ sẽ giết chết nó tại nơi ấy, còn ta thì sẽ có được sự giải thoát này.
BJT 194Trong khi nhẫn nhịn sự khinh miệt ở những người kém cỏi, trung bình, hoặc cao quý, như thế bậc thiện trí đạt được theo như điều đã được mong mỏi bởi tâm ý.
Hạnh của Con Trâu Chúa là phần thứ năm.
“Punāparaṁ yadā homi,
mahiṁso pavanacārako;
Pavaḍḍhakāyo balavā,
mahanto bhīmadassano.
Pabbhāre giridugge ca,
rukkhamūle dakāsaye;
Hotettha ṭhānaṁ mahiṁsānaṁ,
koci koci tahiṁ tahiṁ.
Vicaranto brahāraññe,
ṭhānaṁ addasa bhaddakaṁ;
Taṁ ṭhānaṁ upagantvāna,
tiṭṭhāmi ca sayāmi ca.
Athettha kapimāgantvā,
pāpo anariyo lahu;
Khandhe nalāṭe bhamuke,
mutteti ohadeti taṁ.
Sakimpi divasaṁ dutiyaṁ,
tatiyaṁ catutthampi ca;
Dūseti maṁ sabbakālaṁ,
tena homi upadduto.
Mamaṁ upaddutaṁ disvā,
yakkho maṁ idamabravi;
‘Nāsehetaṁ chavaṁ pāpaṁ,
siṅgehi ca khurehi ca’.
Evaṁ vutte, tadā yakkhe,
ahaṁ taṁ idamabraviṁ;
‘Kiṁ tvaṁ makkhesi kuṇapena,
pāpena anariyena maṁ.
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ,
tato hīnataro bhave;
Sīlañca me pabhijjeyya,
viññū ca garaheyyu maṁ.
Hīḷitā jīvitā vāpi,
parisuddhena mataṁ varaṁ;
Kyāhaṁ jīvitahetūpi,
kāhāmi paraheṭhanaṁ’.
Mamevāyaṁ maññamāno,
aññepevaṁ karissati;
Teva tassa vadhissanti,
sā me mutti bhavissati.
Hīnamajjhimaukkaṭṭhe,
sahanto avamānitaṁ;
Evaṁ labhati sappañño,
manasā yathāpatthitan”ti.
Mahiṁsarājacariyaṁ pañcamaṁ.