BJT 213Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Đại Dạ-xoa tên là Dhamma, có tùy tùng đông đảo, có đại thần lực, có lòng bi mẫn đối với tất cả thế gian.
BJT 214Trong lúc khuyến khích dân chúng hành trì thập thiện nghiệp đạo, ta cùng với bạn bè và những người hầu cận đi đến các thôn làng phố chợ.
BJT 215Có con Dạ-xoa độc ác, bỏn xẻn, trong lúc giảng giải về thập ác, nó với bạn bè và những người hầu cận cũng đi khắp trái đất này.
BJT 216Là những người nói về chánh pháp và tà pháp, cả hai chúng tôi là đối thủ. Trong khi va chạm càng xe với càng xe ở lối đi ngược chiều, cả hai đối mặt nhau.
BJT 217Cuộc xung đột giữa thiện và ác đã xảy ra một cách ghê rợn, và trận chiến đấu lớn lao vì việc rời khỏi đường lộ là sắp sửa xảy ra.
BJT 218Nếu như ta nổi cơn giận dữ đối với gã ấy, nếu như ta phá vỡ đức tính khổ hạnh, ta có thể làm cho gã ấy và đoàn tùy tùng trở thành tro bụi.
BJT 219Tuy nhiên, nhằm mục đích gìn giữ giới hạnh, ta đã làm nguội lạnh tâm ý. Sau khi cùng với đám người bước xuống, ta đã nhường đường cho kẻ ác.
BJT 220Cùng lúc ta đang rời khỏi đường lộ sau khi đã làm nguội lạnh tâm ý, trái đất ngay lập tức đã tạo ra khe nứt dành cho con Dạ-xoa ác xấu.
Hạnh của thiên tử Dhamma là phần thứ tám.
“Punāparaṁ yadā homi,
mahāpakkho mahiddhiko;
Dhammo nāma mahāyakkho,
sabbalokānukampako.
Dasakusalakammapathe,
samādapento mahājanaṁ;
Carāmi gāmanigamaṁ,
samitto saparijjano.
Pāpo kadariyo yakkho,
dīpento dasa pāpake;
Sopettha mahiyā carati,
samitto saparijjano.
Dhammavādī adhammo ca,
ubho paccanikā mayaṁ;
Dhure dhuraṁ ghaṭṭayantā,
samimhā paṭipathe ubho.
Kalaho vattatī bhesmā,
kalyāṇapāpakassa ca;
Maggā okkamanatthāya,
mahāyuddho upaṭṭhito.
Yadihaṁ tassa kuppeyyaṁ,
yadi bhinde tapoguṇaṁ;
Sahaparijanaṁ tassa,
rajabhūtaṁ kareyyahaṁ.
Api cāhaṁ sīlarakkhāya,
nibbāpetvāna mānasaṁ;
Saha janenokkamitvā,
pathaṁ pāpassa dāsahaṁ.
Saha pathato okkante,
katvā cittassa nibbutiṁ;
Vivaraṁ adāsi pathavī,
pāpayakkhassa tāvade”ti.
Dhammadevaputtacariyaṁ aṭṭhamaṁ.
“Then again when I was
of great retinue and psychic power,
a great spirit named Dhamma,
I had sympathy for the whole world.
Establishing the populace
in the ten ways of skillful deeds,
I wandered from village to town,
with friends and associates.
A wicked, miserly spirit
promoting the ten wicked ways
was also wandering the earth
with friends and associates.
The righteous and unrighteous,
we were each other’s foe.
Slamming chariot poles,
we collided together.
A dreadful quarrel ensued
between the good and the ill,
a great war loomed
aiming to push the other off the road.
If I had been upset with him,
if I had broken my asceticism,
I could have reduced him to dust,
together with his companions.
Nevertheless, for the sake of guarding my ethics,
I quelled my heart.
I left the road with my folk,
giving it to the wicked one.
As soon as I stepped down off the path,
and I had quelled my mind,
the earth opened up
for that wicked spirit.”
BJT 213Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Đại Dạ-xoa tên là Dhamma, có tùy tùng đông đảo, có đại thần lực, có lòng bi mẫn đối với tất cả thế gian.
BJT 214Trong lúc khuyến khích dân chúng hành trì thập thiện nghiệp đạo, ta cùng với bạn bè và những người hầu cận đi đến các thôn làng phố chợ.
BJT 215Có con Dạ-xoa độc ác, bỏn xẻn, trong lúc giảng giải về thập ác, nó với bạn bè và những người hầu cận cũng đi khắp trái đất này.
BJT 216Là những người nói về chánh pháp và tà pháp, cả hai chúng tôi là đối thủ. Trong khi va chạm càng xe với càng xe ở lối đi ngược chiều, cả hai đối mặt nhau.
BJT 217Cuộc xung đột giữa thiện và ác đã xảy ra một cách ghê rợn, và trận chiến đấu lớn lao vì việc rời khỏi đường lộ là sắp sửa xảy ra.
BJT 218Nếu như ta nổi cơn giận dữ đối với gã ấy, nếu như ta phá vỡ đức tính khổ hạnh, ta có thể làm cho gã ấy và đoàn tùy tùng trở thành tro bụi.
BJT 219Tuy nhiên, nhằm mục đích gìn giữ giới hạnh, ta đã làm nguội lạnh tâm ý. Sau khi cùng với đám người bước xuống, ta đã nhường đường cho kẻ ác.
BJT 220Cùng lúc ta đang rời khỏi đường lộ sau khi đã làm nguội lạnh tâm ý, trái đất ngay lập tức đã tạo ra khe nứt dành cho con Dạ-xoa ác xấu.
Hạnh của thiên tử Dhamma là phần thứ tám.
“Punāparaṁ yadā homi,
mahāpakkho mahiddhiko;
Dhammo nāma mahāyakkho,
sabbalokānukampako.
Dasakusalakammapathe,
samādapento mahājanaṁ;
Carāmi gāmanigamaṁ,
samitto saparijjano.
Pāpo kadariyo yakkho,
dīpento dasa pāpake;
Sopettha mahiyā carati,
samitto saparijjano.
Dhammavādī adhammo ca,
ubho paccanikā mayaṁ;
Dhure dhuraṁ ghaṭṭayantā,
samimhā paṭipathe ubho.
Kalaho vattatī bhesmā,
kalyāṇapāpakassa ca;
Maggā okkamanatthāya,
mahāyuddho upaṭṭhito.
Yadihaṁ tassa kuppeyyaṁ,
yadi bhinde tapoguṇaṁ;
Sahaparijanaṁ tassa,
rajabhūtaṁ kareyyahaṁ.
Api cāhaṁ sīlarakkhāya,
nibbāpetvāna mānasaṁ;
Saha janenokkamitvā,
pathaṁ pāpassa dāsahaṁ.
Saha pathato okkante,
katvā cittassa nibbutiṁ;
Vivaraṁ adāsi pathavī,
pāpayakkhassa tāvade”ti.
Dhammadevaputtacariyaṁ aṭṭhamaṁ.