BJT 167Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Campeyyaka có đại thần lực. Vào thời ấy, ta cũng đã là người nghiêm túc, hành trì giới cấm.
BJT 168Cũng vào khi ấy, trong khi ta là người hành pháp đang thực hành ngày trai giới, một người luyện rắn đã tóm bắt lấy ta rồi đã bắt ta làm trò vui ở cổng hoàng cung.
BJT 169Gã ấy nghĩ về màu nào, xanh, vàng, hoặc đỏ, còn ta, trong khi biến đổi theo ý nghĩ của gã ấy, trở thành (có màu sắc) giống như đã được suy nghĩ (bởi người ấy).
BJT 170Ta có thể biến đất thành nước, và cũng có thể biến nước thành đất. Nếu ta nổi giận đối với gã ấy, ta có thể biến (gã ấy) trở thành tro bụi trong một sát-na.
BJT 171Nếu như ta thể hiện năng lực của tâm, ta sẽ từ bỏ giới; (và) mục đích tối thượng không được thành tựu đến người từ bỏ giới.
BJT 172Dầu sao đi nữa, hãy để thân xác này bị tan vỡ, hãy để nó bị phân tán ở ngay đây; trong khi bị tan tác giống như bụi phấn, ta cũng không thể nào làm đứt giới.
Hạnh của Con Rồng Campeyya là phần thứ ba.
“Punāparaṁ yadā homi,
campeyyako mahiddhiko;
Tadāpi dhammiko āsiṁ,
sīlabbatasamappito.
Tadāpi maṁ dhammacāriṁ,
upavutthaṁ uposathaṁ;
Ahituṇḍiko gahetvāna,
rājadvāramhi kīḷati.
Yaṁ yaṁ so vaṇṇaṁ cintayi,
nīlaṁva pītalohitaṁ;
Tassa cittānuvattanto,
homi cintitasannibho.
Thalaṁ kareyyamudakaṁ,
udakampi thalaṁ kare;
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ,
khaṇena chārikaṁ kare.
Yadi cittavasī hessaṁ,
parihāyissāmi sīlato;
Sīlena parihīnassa,
uttamattho na sijjhati.
Kāmaṁ bhijjatuyaṁ kāyo,
idheva vikirīyatu;
Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ,
vikirante bhusaṁ viyā”ti.
Campeyyanāgacariyaṁ tatiyaṁ.
“Then again when I was
Campeyyaka, a dragon of great psychic power,
I was just,
furnished with precepts and vows.
Then the snake-charmer who caught me
lived righteously,
observing the Sabbath,
and he made me perform at the royal gate.
Whatever color he thought of—
blue, yellow, or red—
I conformed to his wish,
taking the appearance of his thought.
I could turn dry land to water,
and water to dry land.
If I were upset with him
I could reduce him to ash in an instant.
If I was under the sway of my thoughts,
I would have fallen from my ethics.
But one who has fallen from their ethics
does not succeed at the highest goal.
Gladly, let this body be broken!
Let it be scattered in this very place!
Not even for that would I break my ethics,
if it were being scattered like hay.”
BJT 167Vào một thời điểm khác nữa, khi ta là Campeyyaka có đại thần lực. Vào thời ấy, ta cũng đã là người nghiêm túc, hành trì giới cấm.
BJT 168Cũng vào khi ấy, trong khi ta là người hành pháp đang thực hành ngày trai giới, một người luyện rắn đã tóm bắt lấy ta rồi đã bắt ta làm trò vui ở cổng hoàng cung.
BJT 169Gã ấy nghĩ về màu nào, xanh, vàng, hoặc đỏ, còn ta, trong khi biến đổi theo ý nghĩ của gã ấy, trở thành (có màu sắc) giống như đã được suy nghĩ (bởi người ấy).
BJT 170Ta có thể biến đất thành nước, và cũng có thể biến nước thành đất. Nếu ta nổi giận đối với gã ấy, ta có thể biến (gã ấy) trở thành tro bụi trong một sát-na.
BJT 171Nếu như ta thể hiện năng lực của tâm, ta sẽ từ bỏ giới; (và) mục đích tối thượng không được thành tựu đến người từ bỏ giới.
BJT 172Dầu sao đi nữa, hãy để thân xác này bị tan vỡ, hãy để nó bị phân tán ở ngay đây; trong khi bị tan tác giống như bụi phấn, ta cũng không thể nào làm đứt giới.
Hạnh của Con Rồng Campeyya là phần thứ ba.
“Punāparaṁ yadā homi,
campeyyako mahiddhiko;
Tadāpi dhammiko āsiṁ,
sīlabbatasamappito.
Tadāpi maṁ dhammacāriṁ,
upavutthaṁ uposathaṁ;
Ahituṇḍiko gahetvāna,
rājadvāramhi kīḷati.
Yaṁ yaṁ so vaṇṇaṁ cintayi,
nīlaṁva pītalohitaṁ;
Tassa cittānuvattanto,
homi cintitasannibho.
Thalaṁ kareyyamudakaṁ,
udakampi thalaṁ kare;
Yadihaṁ tassa pakuppeyyaṁ,
khaṇena chārikaṁ kare.
Yadi cittavasī hessaṁ,
parihāyissāmi sīlato;
Sīlena parihīnassa,
uttamattho na sijjhati.
Kāmaṁ bhijjatuyaṁ kāyo,
idheva vikirīyatu;
Neva sīlaṁ pabhindeyyaṁ,
vikirante bhusaṁ viyā”ti.
Campeyyanāgacariyaṁ tatiyaṁ.