[Duyên khởi ở Sāvatthī] Này các tỳ khưu, đây là bốn sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, về vô thường (quan niệm) là ‘Thường’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về khổ não (quan niệm) là ‘Lạc’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về vô ngã (quan niệm) là ‘Ngã’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về bất tịnh (quan niệm) là ‘Tịnh’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, đây là bốn sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến.
Này các tỳ khưu, đây là bốn sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, về vô thường (quan niệm) là ‘Vô thường’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về khổ não (quan niệm) là ‘Khổ não’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về vô ngã (quan niệm) là ‘Vô ngã’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về bất tịnh (quan niệm) là ‘Bất tịnh’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, bốn điều này không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến.
1. Vô thường tưởng là thường → khổ não tưởng là lạc,
vô ngã cho là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh,
tà kiến đánh bại chúng tưởng quấy, tâm rối loạn.
2. Bị Ma vương buộc ách, trói buộc không an ổn,
chúng sanh bị luân hồi đi đến sanh lão tử.
3. Khi chư Phật quang minh hiện khởi ở thế gian
giảng giải Giáo Pháp này đưa đến vắng lặng khổ.
4. Bậc trí nghe theo Phật thành tựu tâm, thấy được
vô thường là vô thường, khổ não là khổ não,
Vô ngã là vô ngã, → bất tịnh là bất tịnh,
nắm giữ chánh tri kiến, xa lìa tất cả khổ.
Đối với người được thành tựu về kiến, bốn sự lầm lạc này được dứt bỏ hay chưa được dứt bỏ? Một số được dứt bỏ, một số chưa được dứt bỏ. Sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến về vô thường (quan niệm) là ‘Thường’ được dứt bỏ. Về khổ não (quan niệm) là ‘Lạc,’ tưởng như thế có sanh lên, tâm như thế có sanh lên, còn sự lầm lạc của kiến được dứt bỏ. Sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến về vô ngã (quan niệm) là ‘Ngã’ được dứt bỏ. Về bất tịnh (quan niệm) là ‘Tịnh,’ tưởng như thế có sanh lên, tâm như thế có sanh lên, còn sự lầm lạc của kiến được dứt bỏ.
Về hai sự việc (vô thường, vô ngã), có sáu sự lầm lạc được dứt bỏ. Về hai sự việc (khổ não, bất tịnh), có hai sự lầm lạc được dứt bỏ, bốn sự lầm lạc chưa được dứt bỏ. Về bốn sự việc, có tám sự lầm lạc được dứt bỏ, bốn sự lầm lạc chưa được dứt bỏ.
Phần Giảng về Sự Lầm Lạc được đầy đủ.
Purimanidānaṁ.
“Cattārome, bhikkhave, saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā.
Katame cattāro?
Anicce, bhikkhave, niccanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Dukkhe, bhikkhave, sukhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Anattani, bhikkhave, attāti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Asubhe, bhikkhave, subhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Ime kho, bhikkhave, cattāro saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā.
Cattārome, bhikkhave, nasaññāvipallāsā nacittavipallāsā nadiṭṭhivipallāsā.
Katame cattāro?
Anicce, bhikkhave, aniccanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Dukkhe, bhikkhave, dukkhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Anattani, bhikkhave, anattāti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Asubhe, bhikkhave, asubhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Ime kho, bhikkhave, cattāro nasaññāvipallāsā nacittavipallāsā nadiṭṭhivipallāsā”ti.
“Anicce niccasaññino,
dukkhe ca sukhasaññino;
Anattani ca attāti,
asubhe subhasaññino;
Micchādiṭṭhihatā sattā,
khittacittā visaññino.
Te yogayuttā mārassa,
ayogakkhemino janā;
Sattā gacchanti saṁsāraṁ,
jātimaraṇagāmino.
Yadā ca buddhā lokasmiṁ,
uppajjanti pabhaṅkarā;
Te imaṁ dhammaṁ pakāsenti,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Tesaṁ sutvāna sappaññā,
sacittaṁ paccaladdhu te;
Aniccaṁ aniccato dakkhuṁ,
dukkhamaddakkhu dukkhato.
Anattani anattāti,
asubhaṁ asubhataddasuṁ;
Sammādiṭṭhisamādānā,
sabbaṁ dukkhaṁ upaccagun”ti.
Ime cattāro vipallāsā diṭṭhisampannassa puggalassa pahīnā, appahīnāti.
Keci pahīnā, keci appahīnā?
Anicce niccanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso pahīno.
Dukkhe sukhanti saññā uppajjati, cittaṁ uppajjati, diṭṭhivipallāso pahīno.
Anattani attāti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso pahīno.
Asubhe subhanti saññā uppajjati, cittaṁ uppajjati, diṭṭhivipallāso pahīno.
Dvīsu vatthūsu cha vipallāsā pahīnā.
Dvīsu vatthūsu dve vipallāsā pahīnā, cattāro vipallāsā appahīnā.
Catūsu vatthūsu aṭṭha vipallāsā pahīnā, cattāro vipallāsā appahīnāti.
Vipallāsakathā niṭṭhitā.
[Sutta-Sources Given Already]
PTS vp En 2771. “Bhikkhus, there are these four perversions of perception, perversions of cognizance, perversions of view. What four? Bhikkhus, [seeing] what is impermanent as permanent is a perversion of perception, a perversion of cognizance, a perversion of view. [Seeing] the painful as pleasant is a perversion of perception, a perversion of cognizance, a perversion of view. [Seeing] what is not self as self is a perversion of perception, a perversion of cognizance, a perversion of view. [Seeing] the foul as beautiful is a perversion of perception, a perversion of cognizance, a perversion of view. These, bhikkhus, are the four perversions of perception, perversions of cognizance, perversions of view.
“Bhikkhus, there are these four non-perversions of perception, non-perversions of cognizance, non-perversions of view. What four? Bhikkhus, [seeing] what is impermanent as impermanent is a non-perversion of perception, a non-perversion of cognizance, a non-perversion of view. [Seeing] what is painful as painful is a non-perversion of perception, a non-perversion of cognizance, a non-perversion of view. [Seeing] what is not self as not self is a non-perversion of perception, a non-perversion of cognizance, a non-perversion of view. [Seeing] what is foul as foul is a non-perversion of perception, a non-perversion of cognizance, a non-perversion of view. These, bhikkhus, are the four non-perversions of perception, non-perversions of cognizance, non-perversions of view.
“Beings that can but misperceive
With cognizance misled and views awry
Perceive what is impermanent
As permanent, and what is pain as pleasure,
As well as the not self as self,
And beauty too in what is foul;
Such beings, bound to Māra's yoke,
Go where is no surcease of bonds;
They travel round the roundabout
Where birth and death each hunt the other down.
Now when Enlightened Ones appear
And bring the light into the world,
They promulgate the True Idea,
Which PTS vp En 278 leads on to release from suffering.
The wise, on hearing what they tell,
Apply their minds to seek the truth:
They see the impermanent as it is,
And pain they see as only pain,
They see what is not self as such,
And likewise too they see the foul;
Such views as they adopt are right,
And they it is escape from suffering”.
2. In a person who possesses [right] view [by his being a stream enterer] are these four perversions abandoned or unabandoned?
Some are abandoned, and some are unabandoned. The perversion of perception, perversion of cognizance, and perversion of view, [that see] what is impermanent as permanent are abandoned in him. The perception [that sees] what is painful as pleasant arises, and so does the cognizance, but such perversion of view is abandoned in him. The perversion of perception, perversion of cognizance, and perversion of view, [that see] what is not self as self are abandoned in him. The perception [that sees] the foul as beautiful arises, and so does the cognizance, but such perversion of view is abandoned in him.
3. In two instances [—the first and third—] six perversions are abandoned. In two instances [—the second and fourth—] two perversions are abandoned and four perversions are unabandoned. In [all] four instances eight perversions are abandoned and four perversions are unabandoned.
End of Treatise on Perversions.
[Duyên khởi ở Sāvatthī] Này các tỳ khưu, đây là bốn sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, về vô thường (quan niệm) là ‘Thường’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về khổ não (quan niệm) là ‘Lạc’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về vô ngã (quan niệm) là ‘Ngã’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, về bất tịnh (quan niệm) là ‘Tịnh’ là sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến. Này các tỳ khưu, đây là bốn sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến.
Này các tỳ khưu, đây là bốn sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến. Bốn là gì? Này các tỳ khưu, về vô thường (quan niệm) là ‘Vô thường’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về khổ não (quan niệm) là ‘Khổ não’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về vô ngã (quan niệm) là ‘Vô ngã’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, về bất tịnh (quan niệm) là ‘Bất tịnh’ là sự không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến Này các tỳ khưu, bốn điều này không lầm lạc của tưởng, không lầm lạc của tâm, không lầm lạc của kiến.
1. Vô thường tưởng là thường → khổ não tưởng là lạc,
vô ngã cho là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh,
tà kiến đánh bại chúng tưởng quấy, tâm rối loạn.
2. Bị Ma vương buộc ách, trói buộc không an ổn,
chúng sanh bị luân hồi đi đến sanh lão tử.
3. Khi chư Phật quang minh hiện khởi ở thế gian
giảng giải Giáo Pháp này đưa đến vắng lặng khổ.
4. Bậc trí nghe theo Phật thành tựu tâm, thấy được
vô thường là vô thường, khổ não là khổ não,
Vô ngã là vô ngã, → bất tịnh là bất tịnh,
nắm giữ chánh tri kiến, xa lìa tất cả khổ.
Đối với người được thành tựu về kiến, bốn sự lầm lạc này được dứt bỏ hay chưa được dứt bỏ? Một số được dứt bỏ, một số chưa được dứt bỏ. Sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến về vô thường (quan niệm) là ‘Thường’ được dứt bỏ. Về khổ não (quan niệm) là ‘Lạc,’ tưởng như thế có sanh lên, tâm như thế có sanh lên, còn sự lầm lạc của kiến được dứt bỏ. Sự lầm lạc của tưởng, lầm lạc của tâm, lầm lạc của kiến về vô ngã (quan niệm) là ‘Ngã’ được dứt bỏ. Về bất tịnh (quan niệm) là ‘Tịnh,’ tưởng như thế có sanh lên, tâm như thế có sanh lên, còn sự lầm lạc của kiến được dứt bỏ.
Về hai sự việc (vô thường, vô ngã), có sáu sự lầm lạc được dứt bỏ. Về hai sự việc (khổ não, bất tịnh), có hai sự lầm lạc được dứt bỏ, bốn sự lầm lạc chưa được dứt bỏ. Về bốn sự việc, có tám sự lầm lạc được dứt bỏ, bốn sự lầm lạc chưa được dứt bỏ.
Phần Giảng về Sự Lầm Lạc được đầy đủ.
Purimanidānaṁ.
“Cattārome, bhikkhave, saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā.
Katame cattāro?
Anicce, bhikkhave, niccanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Dukkhe, bhikkhave, sukhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Anattani, bhikkhave, attāti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Asubhe, bhikkhave, subhanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso.
Ime kho, bhikkhave, cattāro saññāvipallāsā cittavipallāsā diṭṭhivipallāsā.
Cattārome, bhikkhave, nasaññāvipallāsā nacittavipallāsā nadiṭṭhivipallāsā.
Katame cattāro?
Anicce, bhikkhave, aniccanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Dukkhe, bhikkhave, dukkhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Anattani, bhikkhave, anattāti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Asubhe, bhikkhave, asubhanti nasaññāvipallāso nacittavipallāso nadiṭṭhivipallāso.
Ime kho, bhikkhave, cattāro nasaññāvipallāsā nacittavipallāsā nadiṭṭhivipallāsā”ti.
“Anicce niccasaññino,
dukkhe ca sukhasaññino;
Anattani ca attāti,
asubhe subhasaññino;
Micchādiṭṭhihatā sattā,
khittacittā visaññino.
Te yogayuttā mārassa,
ayogakkhemino janā;
Sattā gacchanti saṁsāraṁ,
jātimaraṇagāmino.
Yadā ca buddhā lokasmiṁ,
uppajjanti pabhaṅkarā;
Te imaṁ dhammaṁ pakāsenti,
dukkhūpasamagāminaṁ.
Tesaṁ sutvāna sappaññā,
sacittaṁ paccaladdhu te;
Aniccaṁ aniccato dakkhuṁ,
dukkhamaddakkhu dukkhato.
Anattani anattāti,
asubhaṁ asubhataddasuṁ;
Sammādiṭṭhisamādānā,
sabbaṁ dukkhaṁ upaccagun”ti.
Ime cattāro vipallāsā diṭṭhisampannassa puggalassa pahīnā, appahīnāti.
Keci pahīnā, keci appahīnā?
Anicce niccanti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso pahīno.
Dukkhe sukhanti saññā uppajjati, cittaṁ uppajjati, diṭṭhivipallāso pahīno.
Anattani attāti saññāvipallāso cittavipallāso diṭṭhivipallāso pahīno.
Asubhe subhanti saññā uppajjati, cittaṁ uppajjati, diṭṭhivipallāso pahīno.
Dvīsu vatthūsu cha vipallāsā pahīnā.
Dvīsu vatthūsu dve vipallāsā pahīnā, cattāro vipallāsā appahīnā.
Catūsu vatthūsu aṭṭha vipallāsā pahīnā, cattāro vipallāsā appahīnāti.
Vipallāsakathā niṭṭhitā.