Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa401-500
SA458 Kinh 458. nhân
SA401 Kinh 401. bách thương SA402 Kinh 402. bình đẳng chánh giác SA403 Kinh 403. như thật tri SA404 Kinh 404. thân-thứ SA405 Kinh 405. khổng SA406 Kinh 406. manh SA407 Kinh 407. tư duy (1) SA408 Kinh 408. tư duy (2) SA409 Kinh 409. giác (1) SA410 Kinh 410. giác (2) SA411 Kinh 411. luận thuyết SA412 Kinh 412. tranh SA413 Kinh 413. vương lực SA414 Kinh 414. túc mạng SA415 Kinh 415. đàn-việt SA416 Kinh 416. thọ trì (1) SA417 Kinh 417. như như SA418 Kinh 418. thọ trì (2) SA419 Kinh 419. nghi (1) SA420 Kinh 420. nghi (2) SA421 Kinh 421. thâm hiểm SA422 Kinh 422. đại nhiệt SA423 Kinh 423. đại ám SA424 Kinh 424. minh ám (1) SA425 Kinh 425. minh ám (2) SA426 Kinh 426. minh ám (3) SA427 Kinh 427. thánh đế SA428 Kinh 428. thiền tư SA429 Kinh 429. tam-ma-đề SA430 Kinh 430. trượng (1) SA431 Kinh 431. trượng (2) SA432 Kinh 432. ngũ tiết luân SA433 Kinh 433. tăng thượng thuyết pháp SA434 Kinh 434. hiệt tuệ SA435 Kinh 435. tu-đạt SA436 Kinh 436. điện đường (1) SA437 Kinh 437. điện đường (2) SA438 Kinh 438. chúng sanh SA439 Kinh 439. tuyết sơn SA440 Kinh 440. hồ trì đẳng SA441 Kinh 441. thổ SA442 Kinh 442. trảo giáp SA443 Kinh 443. tứ thánh đế dĩ sanh SA444 Kinh 444. nhãn dược hoàn SA445 Kinh 445. bỉ tâm SA446 Kinh 446. kệ (1) SA447 Kinh 447. hành SA448 Kinh 448. kệ (2) SA449 Kinh 449. giới hòa hợp SA450 Kinh 450. tinh tấn SA451 Kinh 451. giới SA452 Kinh 452. xúc (1) SA453 Kinh 453. xúc (2) SA454 Kinh 454. tưởng (1) SA455 Kinh 455. tưởng (2) SA456 Kinh 456. chánh thọ SA457 Kinh 457. thuyết SA458 Kinh 458. nhân SA459 Kinh 459. tự tác SA460 Kinh 460. cù-sư-la SA461 Kinh 461. tam giới (1) SA462 Kinh 462. tam giới (2) SA463 Kinh 463. tam giới (3) SA464 Kinh 464. đồng pháp SA465 Kinh 465. trước sử SA466 Kinh 466. xúc nhân SA467 Kinh 467. kiếm thích SA468 Kinh 468. tam thọ SA469 Kinh 469. thâm hiểm SA470 Kinh 470. tiễn SA471 Kinh 471. hư không SA472 Kinh 472. khách xá SA473 Kinh 473. thiền SA474 Kinh 474. chỉ tức SA475 Kinh 475. tiên trí SA476 Kinh 476. thiền tư SA477 Kinh 477. a-nan sở vấn SA478 Kinh 478. tỳ-kheo SA479 Kinh 479. giải thoát SA480 Kinh 480. sa-môn bà-la-môn SA481 Kinh 481. nhất-xa-năng-già-la SA482 Kinh 482. hỷ lạc SA483 Kinh 483. vô thực lạc SA484 Kinh 484. bạt-đà-la SA485 Kinh 485. ưu-đà-di SA486 Kinh 486. nhất pháp (1) SA487 sa487 SA488 Kinh 488. nhất pháp (2) SA489 Kinh 489. nhất pháp (3) SA490 Kinh 490. diêm-phù-xa SA491 Kinh 491. sa-môn xuất gia sở vấn SA492 Kinh 492. nê thủy SA493 Kinh 493. thừa thuyền nghịch lưu SA494 Kinh 494. khô thọ SA495 Kinh 495. giới SA496 Kinh 496. tránh SA497 Kinh 497. cử tội SA498 Kinh 498. na-la-kiền-đà SA499 Kinh 499. thạch trụ SA500 Kinh 500. tịnh khẩu
SA458

Kinh 458. nhân

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Có nhân sanh ra dục tưởng, chứ không phải không có nhân; có nhân sanh ra nhuế tưởng, hại tưởng, chứ không phải không có nhân.

“Do nhân gì sanh dục tưởng? Do duyên dục giới. Duyên dục giới nên sanh ra dục tưởng, dục dục, dục giác, dục nhiệt, dục cầu. Kẻ phàm phu ngu si khi đã khởi lên dục cầu rồi, chúng sanh này khởi lên tà vạy qua ba nơi là thân, miệng, tâm. Do nhân duyên tà vạy như vậy nên hiện tại sống trong khổ não; có khổ, có khốn quẫn, có thất vọng, có nóng bức; sau khi chết rồi sanh vào trong đường ác. Đó gọi là nhân duyên sanh dục tưởng.

“Thế nào là nhân duyên sanh ra nhuế tưởng, hại tưởng? Đó là hại giới. Do duyên hại giới nên sanh hại tưởng, hại dục, hại giác, hại nhiệt, hại cầu. Kẻ phàm phu ngu si khi đã khởi lên sự mong muốn làm hại, chúng sanh này khởi lên tà vạy qua ba nơi là thân, miệng, tâm. Do nhân duyên tà vạy như vậy nên hiện tại sống trong khổ não; có khổ, có khốn quẫn, có thất vọng, có nóng bức; sau khi chết rồi sanh vào trong đường ác.

“Này các Tỳ-kheo, nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào đang an trú nơi sanh như vậy mà sanh tưởng nguy hiểm, không tìm cách loại bỏ, không tỉnh giác, không nhả ra, thì hiện tại người ấy ngay trong đời hiện tại an trú khổ; có khổ, có khốn quẫn, có thất vọng, có nóng bức; sau khi chết rồi sanh vào trong đường ác.

“Ví như cách thành ấp, làng xóm không xa, có cánh đồng hoang, chợt bốc lửa lớn. Nếu không có ai có sức mạnh để dập tắt lửa, nên biết, những chúng sanh ở trong đồng hoang đó chắc chắn sẽ bị lửa hại. Cũng vậy, Sa-môn, Bà-la-môn đang an trú nơi sanh mà sanh tưởng nguy hiểm, sau khi thân hoại mạng chung sanh vào đường ác.

“Này các Tỳ-kheo, có nhân sanh tưởng xuất yếu, chứ không phải không có nhân.

“Thế nào là nhân sanh tưởng xuất yếu? Đó là xuất yếu giới. Do duyên xuất yếu giới sanh xuất yếu tưởng, xuất yếu dục, xuất yếu giác, xuất yếu nhiệt, xuất yếu cầu. Nghĩa là người có trí kia khi tìm cầu sự xuất yếu, chúng sanh này phát sanh chánh hành qua ba chỗ là thân, miệng, tâm. Kia sau khi do nhân duyên sanh chánh hành như vậy, ngay hiện tại sống an lạc; không khổ, không khốn quẫn, không thất vọng, không nóng bức; sau khi chết sanh vào cõi lành. Đó gọi là nhân duyên sanh tưởng xuất yếu.

“Thế nào là nhân duyên sanh tưởng không nhuế, không hại? Đó là bất nhuế, bất hại giới. Do nhân duyên bất hại giới sanh bất hại tưởng bất hại dục, bất hại giác, bất hại nhiệt, bất hại cầu không hại. Nghĩa là người có trí kia khi tìm cầu sự bất hại, chúng sanh phát sanh chánh hành qua ba chỗ là thân, miệng, tâm. Kia sau khi do nhân duyên sanh chánh hành như vậy, ngay hiện tại sống an lạc; không khổ, không khốn quẫn, không thất vọng, không nóng bức; sau khi chết sanh vào cõi lành. Đó gọi là nhân duyên sanh tưởng bất hại.

“Nếu các Sa-môn, Bà-la-môn an trụ nơi sanh mà sanh tưởng bất hại, không lìa bỏ, không loại bỏ, không nhả ra, ngay hiện tại sống lạc; không khổ, không khốn quẫn, không thất vọng, không nóng bức; sau khi chết sanh vào cõi lành.

“Ví như ven thành ấp, làng xóm, có cánh đồng hoang chợt bốc lửa lớn. Có người có khả năng dùng tay, chân để dập tắt lửa. Nên biết, các chúng sanh sống nương cây cỏ đều không bị hại. Cũng vậy, Sa-môn, Bà-la-môn an trụ nơi sanh mà sanh tưởng bất hại, không lìa bỏ, không loại bỏ, không nhả ra, ngay hiện tại sống lạc; không khổ, không khốn quẫn, không thất vọng, không nóng bức; sau khi chết sanh vào cõi lành.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA459...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc